Tôi nghĩ mình còn chưa biết. Bên trời mưa gió làm sao, Cả triệu linh hồn hủy diệt, Một thân lệ nuốt chưa vào !

Tết Canh Dần năm nay 2010 nhớ Tết Bính Thìn năm xưa 1976

February 26th, 2010 No comments

dthm1

Thư tình ngày Xuân

Em yêu dấu của anh,

Năm nay là năm con cọp, đọc báo chí nghe nói người dân Việt Nam đã né tránh, tổ chức sinh con non tháng để tránh tuổi con cọp, nhất là phải chờ đợi sinh con gái!

Em có tuổi con cọp, một con giáp “nguy hiểm” như vậy mà anh đã “dám” lấy em là vợ!

Thật ra anh cũng chẳng có gì để phải “can cường” đến vậy. Anh chỉ vốn chẳng bao giờ tin ở số tuổi, ba má anh chẳng may mất sớm, bà con ở xa nên chẳng ai nhắc nhở gì theo hướng ấy!

Anh chẳng những đã “dám mạo hiểm” mà còn thấy mình là người may mắn nhất trần gian, đã được em yêu ngay từ giấy phút đầu tiên và em đã dám vượt trùng dương, trải qua những giờ phút hãi hùng nhất trên biển khơi để tìm đường tái hợp cùng anh, chung đời chung sức có nhau trên đất khách! Thực ra người “dám mạo hiểm” chính là em, người có tuổi con cọp chứ chưa chắc phải là người có tuổi con rồng như anh!

Trong những ngày gần đây sống ở Sài Gòn, những ngày chờ Xuân đón Tết, đất trời như có gì trăn trở, lắng sâu, anh hay liên tưởng đến em, đến cuộc sống bên nhau, đến những bước thăng trầm của cuộc đời vội vã. Nhìn hình em treo trên tường và mở lại cuốn album hình ảnh những kỷ niệm đã qua, anh cứ thầm bảo mình là người có nhiều may mắn ở đời này! Và cái diễm phúc nhất là đã gặp được em và đã có em bên cạnh từ bấy lâu nay!

Nếu phải khách quan xác định lại phần cống hiến của bản thân anh cho hạnh phúc chung, có lẽ anh sẽ thỏ thẻ với riêng em là anh đã không bõ lỡ mất cơ hội, cả những cơ hội mong manh nhất mà cuộc đời đã đem lại cho anh. Ngày ấy mồng một Tết, ngày hòa bình trở về trên quê hương, anh về lại thăm đất nước sau 16 năm xa cách, em đi dâng hương, từ khói hương bước ra với chiếc áo dài kiêu sa, lộng lẫy. Tà áo ấy đã làm anh trong phút giây phải thần thờ ngây ngất!

Cũng như mọi năm ngày Tết ở một mình tại Sài Gòn, anh xuất hành du xuân bằng cách lên Lăng Ông Bà Chiểu thắp hương. Anh muốn nhớ lại cái ngày ấy, ngày mồng một Tết Bính Thìn 1976, Trời Phật, thánh thần đã đưa đẩy cho anh gặp em, chỉ mấy giây thôi mà sau đó ta đã trở thành vợ chồng. Và rồi có khi vời vợi trông chờ nhau, có khi quấn quít bên nhau, thấm thoắt đã 34 năm rồi!

Trong 34 mùa xuân hạnh phúc ấy, đâu phải lúc nào cũng phẳng lặng như mặt nước hồ thu phải không em? Cũng đã có những đợt sóng, những giây dứt, những thần thờ, những ngày tháng anh có làm em ngỡ ngàng thất vọng… Cũng có lúc ta tưởng chừng như tương lai không còn nữa ở phía trước, như lối quanh đang rình rập ta sẽ phải bắt ngang. Cũng có giai đoạn, những khó khăn của cuộc sống làm ta ngại ngùng phập phòng dấng bước. Nhưng bây giờ nhìn lại, đó chẳng qua là những thách thức bình thường của cuộc đời muôn mặt và tình yêu chân thật cuối cùng đã vượt qua tất cả.

Những ngày tháng hôm nay, anh bước vào khoản thời gian thứ ba của kiếp người, tuổi tác đã ở lúc cổ lai hy, không phải tham gia tích cực vào những lo toan cơm áo gạo tiền. Anh đang nghỉ hưu, thời gian có thể dùng nhiều hơn cho mình và cho gia đình. Cũng như vậy mà anh có cái nhìn bao quát hơn về cuộc đời trải qua, có thời gian để chăm sóc khu vườn riêng, những hoa lá chung quanh căn nhà ta mới xây tại quê nhà, khu vườn tinh thần mà chúng ta đã cùng nhau vun xới trong khoản thời gia dài chung sống bên nhau.

Càng lui lại đứng ra xa và cao hơn để nhìn lại cuộc đời của chính mình để kiểm nghiệm lại quá khứ, nghĩ đến những thang bậc đã đi qua, những bè bạn thân thích năm châu mà anh có điều kiện quen biết và kết thân, người đồng hương cũng như người ngoại quốc…, anh mới ngộ ra rằng, suy cho cùng người bạn thân thiết nhất của anh, hiểu anh rõ nhất, chia sẻ với anh nhiều nhất không ai khác chính là em!

Em đã và đang là người tình, người bạn, người vợ, niềm an ủi và lẽ kiêu hảnh nhất của đời anh!

Lăng Ông Bà Chiểu mồng một Tết Canh Dần

Lăng Ông Bà Chiểu mồng một Tết Canh Dần

Năm nay mồng một Tết lại trùng với ngày Lễ Hội tình yêu, anh lại đi viếng Lăng Ông Bà Chiểu. Anh lại đứng bên bức tường chung quanh nhìn vào chính điện từ đó ngày xưa em đã bước trong khói hương. Ngày ấy anh đã nghe như văng vẳng bên tai:

Hãy nhanh bước ra trực diện cùng nàng, đừng để nàng đi mất hút”.

Anh đã làm theo lời dạy bảo ấy và kết quả em biết thế nào sau đó.

Lần này đứng thẩn thờ mường tượng đến hình bóng cũ đã 34 năm qua, bất chợt anh lại nghe đồng vọng từ xa:

Rồi cơn bạo bệnh của nàng sẽ qua, con đường đi chung trước mặt vẫn còn dành cho nàng và cho mình, một đoạn dài thêm nữa”.

Không bao lâu ngày nữa, anh sẽ trở sang Bỉ cùng đi với em trên con đường hạnh phúc tuyệt vời mầu nhiệm ấy!

Hạnh phúc không bao giờ dừng lại chờ ta, muốn nắm bắt nó ta phải tiến bước cùng đi chung với nó!

Sài Gòn mồng 10 Tết Canh Dần 2010

mai-3

Khai bút đầu năm, Xuân Canh Dần 2010

February 23rd, 2010 No comments
Biểu ngữ về lễ kỳ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa tại công viên Tao Đàn, TP HCM

Biểu ngữ về lễ kỳ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa tại công viên Tao Đàn, TP HCM

Chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa trong bối cảnh

ngàn năm Thăng Long, thử đặt lại vài giả thuyết


TSKH Nguyễn Đăng Hưng

Giáo dư danh dự thực thụ trường Đại học Liège, Bỉ


Một tiết mục đáng chú ý tại TP HCM trong dịp Tết Canh dần vừa qua là Lễ kỷ niệm 221 năm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa do Sở Văn hóa - Thể thao và Du Lịch TPHCM tổ chức tại Công viên Tao Đàn ngày mồng năm 18/2/2010. Buổi lễ đã được tổ chức long trọng với sự tham dự các ông Lê Thanh Hải, ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, Lê Hoàng Quân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố, đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn viên thanh niên cùng đông đảo người dân thành phố và du khách nước ngoài. Ông Dương Quan Hà, Chủ tịch Ủy ban MTTQ TPHCM đã có bài phát biểu đáng được lưu ý. Chương trình sân khấu hóa đã diễn ra sôi nổi với phần biểu diễn nghệ thuật dân tộc đặc sắc của các nghệ sĩ Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang.

Lễ hội tại Gò Đống Đa, Hà Nội

Lễ hội tại Gò Đống Đa, Hà Nội

Đọc báo tôi cũng thấy một buổi lễ tương tự cũng được tổ chức tại Gò Đống Đa, Hà Nội. Đến tham dự thắp hương trước tượng đài Quang Trung có Phó Bí thư Thành ủy Nguyễn Công Soái, Phó Chủ tịch UBND TP Phí Thái Bình, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, thứ trường Bộ Quốc Phòng, ông Vũ Trọng Kim, Phó Chủ Tịch kim Tổng thư ký Mặt Trận Tổ Quốc. Thành phần và cấp bực tham gia của Thành ủy và Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội có phần thấp hơn, kém long trọng hơn tại TP HCM.

Việc thành ủy TP HCM coi trọng ngày kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi Đống Đa hơn thành ủy Hà Nội là điều làm tôi chú ý! Ngay tại thủ đô, người  (lãnh đạo) Hà Nội cảm nhận lịch sử không bằng người Sài Gòn chăng?

Lẽ ra năm nay, trong dịp lễ hội ngàn năm Thăng Long, lễ hội Gò Đống Đa phải có gì nỗi trội hơn thường lệ mới phải chứ?

Thật vậy, nếu không có anh hùng dân tộc Quan Trung - Nguyễn Huệ và chiến thắng Ngọc Hồi Đống Đa thì làm gì Thăng Long còn là của Việt Nam để năm nay chúng ta ăn mừng thủ đô ngàn năm?

Đừng quên cuộc xăm lấn Đại Việt năm 1788 là cuộc xâm lấn bành trướng cuối cùng của phong kiến Trung Hoa và nếu Nguyện Huệ đã chọn hướng giải quyết khác đi thì lịch sử và địa lý của dân tộc Việt Nam ngày nay sẽ ra sao?

Chính sử Việt Nam ghi lại năm ấy mượn cớ vua Lê Chiêu Thống cầu viện, nhà Thanh đã giao cho Tôn Sỹ Nghị một đạo quân đông đảo gần 30 vạn, ào ạt kéo vào nước ta chiếm đóng Thăng Long. Thế yếu, các tướng Tây Sơn Ngô Văn Sở, Ngô Thời Nhiệm rút về Tam Điệp cố thủ và bảo toàn lực lượng. Trong Nam Nguyễn Ánh đã gia tăng được lực lượng sẳn sàng uy hiếp Qui Nhơn trong lúc Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc lâm trọng bệnh. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ trên thực tế chỉ kiểm soát được một vùng lảnh thổ khá hẹp thừ Thuận hóa đến Nghệ An, trong tay huy động chưa có được 1/10 quân số nhà Thanh đang xâm lược Bắc Hà!

Thử tường tượng vì thế yếu Nguyễn Huệ chọn một hướng khác, trước vận mệnh hiễm nghèo của đất nước, làm ngơ trước đoàn “quân lạ” đang xâm nhập miền Bắc, quá đông, quá hùng hỗ. Nguyễn Huệ chỉ nghĩ đến quyền lợi của nhà cầm quyền, chỉ lo đương đầu với Nguyễn Ánh ở Gia Định và Nguyễn Nhạc trong Nam, sau đó chọn giải pháp thúc thủ, giao lại đất Thanh Hóa Nghệ An cho nhà Thanh và vua Lê Chiêu Thống, tóm lại chỉ lo mưu cầu chiếc ghế vương quyền tại phương Nam.

Như vậy lịch sử và địa lý Viêt Nam sau này sẽ ra sao?

Nước ta có lẽ chỉ còn lại từ sông Gianh cho đến Hà Tiên khi người Âu sau này bắt đầu xâm nhập vào Đông Nam Á! Giả thiết này có tính khả thi cao khi ta biết, ngoài Bắc vua Lê Chiêu Thống đã phản bội tổ quốc dùng niên hiệu nhà Thanh mặc nhiên công nhận nền đô hộ của người Tàu. Trong Nam lịch sử còn nghi lại từ Gia Định cũng năm 1788, Nguyễn Ánh đã gởi đoàn thuyền chở gạo ra Bắc chi viện cho quân nhà Thanh mà không thành vì gặp bão. Ông vua sáng lập ra triều đình nhà Nguyễn này có nhiều khả năng cũng sẽ để yên cho nhà Thanh ở đất Bắc sau khi lấy lại giang sơn từ tay nhà Tây Sơn vì chẳng may cho dân tộc Việt, người anh hùng áo vải sẽ phải mất sớm.

Nếu lịch sử đã theo hướng đó thì làm gì ta còn Thăng Long mà tổ chức lễ hội ngàn năm như ngày nay?

May thay, Nguyễn Huệ, được sự trợ giúp tư vấn của tầng lớp sỹ phu chân chính lúc bấy giờ, những Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp, Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Nễ, Nguyễn Huy Lượng, Bùi Dương Lịch… đã chọn lựa hướng khác, hướng chính danh yêu nước thương dân, hướng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc: Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế, minh định chính danh, cũng cố chính nghĩa dân tộc, theo lẽ trời, thuận lòng người, thống nhất ý chí toàn dân toàn quân, tự mình thống lĩnh thủy bộ đại binh ra Bắc đánh giặc Thanh, chấp nhận lấy một chọi mười:

“Chúng nó sang phen này là mua cái chết đó thôi. Ta ra chuyến này thân coi việc quân đánh giữ, đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 nước ta, sau khi chúng thua một trận rồi, tất chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế thì đánh nhau mãi không thôi, dân ta hại nhiều, ta sao nỡ thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ Thời Nhiệm dùng lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mươi năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta không cần phải sợ chúng nữa.”

Chúng ta biết phần còn lại của lịch sử, số phận của người anh hùng bách chiến bách thắng Quan Trung – Nguyễn Huệ.

Sau mồng năm Tết Kỷ Dậu 1789, Ngô Ngọc Du, một nhà thơ đương thời, đã ghi lại không khí tưng bừng của ngày chiến thắng oanh liệt như sau:

“Mây tạnh mù tan trời lại sáng

Đầy thành già trẻ mặt như hoa,

Chen vai khoác cánh cùng nhau nói:

“Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta”


Tại buổi họp báo đầu năm nay (6/1/2010) ở Hà Nội, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường đã thách thức cả dân tộc Việt : “hợp tác (với Trung Quốc) sẽ phát triển, (Việt Nam) đấu tranh sẽ thất bại”, thiết nghĩ việc tổ chức cho thật long trọng Lễ Hội Chiến Thắng Ngọc Hồi – Đống Đa là điều nên làm. Thật vậy, hình như ngài Đại Sứ quên rằng cách đây 221 năm dân tộc Việt Nam nào có thất bại khi phải bắt buộc chấp nhận hướng đấu tranh dù phải một chống mười!

Sài Gòn mồng bảy Tết Canh Dần 2010

Chúc mừng năm mới

February 19th, 2010 No comments

Chúc Tết Canh Dần

Xin chúc bạn bè năm châu một năm mới an khang, thịnh vượng

Nhạc: “Yêu em với tất cả con tim” - Lời Việt : Nguyễn Đăng Hưng

January 31st, 2010 No comments
Tranh của Henri Matisse: La musique

Tranh của Henri Matisse: La musique

Love Me With All Your Heart (1961)

http://www.youtube.com/watch?v=CjOqQlrZgbM

Phát xuất từ ca khúc Tây Ban Nha “Cuando calienta el sol” do Carlos Rigual, Mario Rigual và Carlos Martinoli sáng tác năm 1961. Nhiều ca sỹ đã thâu âm, nỗi tiếng nhất là Ray Charles, Engelbert Humperdinck và Petula Clark.

Get the Flash Player to see the wordTube Media Player.

Read more…

Những bài thơ hay của Nguyễn Việt Chiến

January 27th, 2010 No comments

nguyen-viet-chien

Tôi nghĩ, đối với những người cầm bút hôm nay, vượt lên trên tất cả các vấn đề thời sự nhậy cảm ấy là tình yêu Tổ quốc. Tình yêu đó được nuôi dưỡng trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam qua nhiều thăng trầm, và hình như lại đang được khơi dậy trong những tháng năm này.

Nguyễn Việt Chiến

Thời đất nước gian lao


Chúng đã ngủ cả rồi

những con hươu bị bóng đêm săn đuổi

chúng đang gác cặp sừng lên vầng trăng cuối tháng

rồi nằm mơ về một cánh rừng

không có thuốc đạn và súng săn

Họ đã ngủ cả rồi

những người lính bị chiến tranh săn đuổi

họ nằm mơ gặp lại bầy hươu

gác sừng lên người bạn vô danh

trên cánh rừng đã chết

Chỉ còn lại vầng trăng và giấc ngủ

chỉ còn lại dấu vết cuối cùng của bầy hươu bị săn đuổi

chỉ còn lại câu thơ thầm lặng

về những người đã ra đi

Chỉ còn lại những gì không còn lại

bởi người  đau đớn nhất sau chiến tranh

không ai khác ngoài mẹ của chúng ta

những đứa con không trở về

hoà bình dưới mưa phùn

được đắp bằng cỏ non và nước mắt

*

*   *

Đêm đêm

những người con ngỡ đã đi thật xa

đang lặng lẽ trở về

họ lẫn vào gió vào sương đêm

không cần an ủi

họ chẳng ồn ào như lời ca sôi sục ngày ra đi

Họ còn nguyên tuổi trẻ

những người lính chưa tiêu phí một xu mơ ước

chưa tiêu hoài một đồng thanh xuân

Họ trở về tìm lại

trang sách học trò đêm đêm còn thao thức

trên  cánh đồng tiếng Việt ngàn năm

Mẹ lại thấy chúng con về

như cánh cò tuổi thơ lưu lạc

đã bao ngày phải xa rời thôn ổ yêu thương

chúng con trở về tìm lại

giọt nước mắt xót xa và đắng cay của mẹ

Một bên là núi sông ngăn cách

còn bên kia là bóng đêm chiến tranh

vẫn biết đạn bom không có mắt

vẫn biết hận thù không thể phân biệt nổi

đâu là hoa sen và đâu là bùn tối

nhưng các anh vẫn phải ra đi

Các anh phải ra đi

lời ru chùa Tây Phương

những La Hán mặt buồn

người thợ mộc xứ Đoài

lấy thân xác hom hem của mình làm mẫu vẽ

ba mươi sáu dẻo xường sườn

réo rắt tấu lên bản đàn tam thập lục

người gẩy đàn thì đau đớn

mà bản nhạc viết cho đàn lại reo vui

*

*   *

Mẹ đã sống dưới mưa phùn ảm đạm

những ngày dài nghèo đói quắt quay

Mẹ thiếu sữa sinh đứa con thiếu tháng

Tổ quốc xanh xaoTổ quốc hao gầy

Mẹ có mặt trong dòng người nhẫn nại

lặng lẽ xếp hàng từ mờ sớm tới đêm hôm

Mẹ lần hồi thời cơm tem gạo phiếu

nuôi lớn những người con

rồi gửi tới chiến trường

Mẹ đã khóc lúc rời ga Hàng Cỏ

những đoàn tầu hun hút tuổi hai mươi

một thế hệ hồn nhiên không biết chết

chưa từng yêu khi gục ngã cuối trời

Mẹ ở lại với sông Hồng tần tảo

áo phù sa lam lũ tháng ngày

câu quan họ cất trong bồ thóc cũ

sông Cầu trôi như một tiếng thở dài…

*

*   *

Tàu xuyên đêm

tiếng gió xé bánh xe lăn quần quật

đêm nay họ trở lại một thời gian lao

đường vào Nam hun hút những chuyến tầu

máu rất đỏ tuổi hai mươi nằm lại

câu hát bảo:

tuổi hai mươi những người đi trẻ mãi

câu thơ bảo:

đất nước hình cánh võng mẹ ru ta

Và ở hai đầu đêm võng mắc dọc rừng già

trăng cũng sốt rét rừng như ta sốt

trăng mất máu như bạn ta thủa trước

dọc cánh rừng na-pan

Sông Thạch Hãn

nước mùa này còn ấm

và các anh trong suốt

những người hy sinh thời gian lao

Mây Quảng Trị

mùa này vẫn một mầu huệ trắng

trên Cổ Thành

như  ngày các anh ngã xuống

những người hy sinh thời gian lao

Và mưa gió Trường Sơn

mùa này vẫn tắm gội

những người con nằm lại

thời đất nước gian lao

Những cánh rừngcuối thu ngủ dưới mưa phùn

đất nước tôi những người nằm trong đất

chất phác như bùn hồn nhiên như cỏ

buồn đau không còn thở than

Những ngọn sóng đất đai lưu giữ mọi thăng trầm

người chép sử ngàn năm là bùn đất

kiên trì và nhẫn nại

máu của người là mực viết thời gian.

_______________________________________________

Tổ quốc nhìn từ biển

Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển

Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa

Ngàn năm trước con theo cha xuống biển

Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa

Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc

Các con nằm thao thức phía Trường Sơn

Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả

Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn

Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển

Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng

Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa

Trong hồn người có ngọn sóng nào không

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo

Lạc Long cha nay chưa thấy trở về

Lời cha dặn phải giữ từng thước đất

Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi

Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể

Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù

Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ

Thương Hòn Mê bão tố phía âm u

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích

Những đau thương trận mạc đã qua rồi

Bao dáng núi còn mang hình goá phụ

Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm hoạ

Đã muời lần giặc đến tự biển Đông

Những ngọn sóng hoá Bạch Đằng cảm tử

Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng

Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo

Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn

Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy

Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân

Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả

Những chàng trai ra đảo đã quên mình

Một sắc chỉ về Hoàng Sa thủa trước*

Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát

Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời

Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất

Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi

(Trại viết Hạ Long 4-2009)

(Bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” in trên Tạp chí VNQĐ số tháng 5-2009)

Read more…

Báo Tiếng nói Việt Nam phỏng vấn ngày 8/1/2010

January 25th, 2010 No comments

Học sinh Việt Nam

Về các giải pháp cải tiến tình trạng

GD&ĐT và nghiên cứu khoa học hiện nay tại Việt Nam

*****

Đề dẫn : Nhân dịp tân niên 2010 ngày 8/1/2010 báo Tiếng nói Việt Nam (VOVNIEWS) có phỏng vấn tôi qua e-mail về đề tài trên. Sau đó nhà báo có biên tập lại thành bài “Chuyện một GS Việt kiều” mà tôi vừa đăng tải lại trên blog này ngày 22/1/2010 vừa qua. Nay xin đăng tải nguyên văn bài phỏng vấn gọi là tài liệu cá nhân. NĐH

Read more…

Một video của VTV4 phỏng theo báo Đất Việt

January 22nd, 2010 No comments
Lang thang trên mạng, tôi bỗng bắt gặp một YOUTUBE  có tựa đề như sau.
Xin kéo vể đây giới thiệu cùng thân hữu.

GS Nguyễn Đăng Hưng trở về quê hương để cống hiến

Get the Flash Player to see the wordTube Media Player.

Bài báo của phóng viên Minh Thư trên Tiếng Nói Việt Nam, Cập nhật lúc : 10:30 AM, 21/01/2010

January 22nd, 2010 No comments
bejing1

Hội Nghị toàn cầu về Cơ học tính toán, Bắc Kinh 2004

Chuyện một giáo sư Việt kiều


http://vovnews.vn/Home/Chuyen-mot-giao-su-Viet-kieu/20101/132685.vov

Với những đóng góp trong hoạt động nghiên cứu khoa học, ông là một trong những gương mặt Việt kiều đã góp phần làm rạng danh đất nước.

Bạn bè trên thế giới biết đến Việt Nam nhiều hơn qua cái tên quen thuộc: GS.TS Nguyễn Đăng Hưng.

Đào tạo hơn 300 thạc sĩ trình độ quốc tế

GS.TS Nguyễn Đăng Hưng sinh năm 1941, là người con của vùng đất Quảng Nam. Sinh ra ở một vùng quê hiếu học, cậu bé Hưng luôn là một học sinh xuất sắc. Năm 1960, nhờ đỗ tú tài xuất sắc cả ban toán và ban văn, Nguyễn Đăng Hưng nhận được học bổng ngành kỹ thuật của Vương quốc Bỉ trao tặng. Đi du học tại một đất nước có nền khoa học, công nghệ phát triển, Nguyễn Đăng Hưng luôn làm bạn bè và các giáo sư trong trường đại học thán phục bởi lòng ham học và tính sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu khoa học.

Năm 1966, Nguyễn Đăng Hưng tốt nghiệp đại học, được giữ lại giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Liège, trở thành một trong những nhà cơ học xuất sắc của thế giới và giành được nhiều giải thưởng quốc tế uy tín.

Tuy xa cách quê hương nhưng tấm lòng của ông luôn hướng về đất nước. Khi đất nước còn trong chiến tranh, ông đã tham gia vào các cuộc biểu tình chống chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam.

Năm 1977, theo lời mời của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước Việt Nam (tiền thân của Bộ Khoa học - Công nghệ), giáo sư Hưng có dịp được về giảng dạy hai tuần tại Đại học Giao thông - Vận tải Hà Nội. Về giảng dạy tại quê nhà, ông nhận thấy Việt Nam vừa trải qua chiến tranh, rất thiếu nguồn nhân lực xây dựng đất nước.

Bằng uy tín và các mối quan hệ của mình, năm 1990, ông đã thuyết phục được các nhà tài trợ nước ngoài và các đối tác châu Âu giúp đỡ tài chính cho chương trình đào tạo liên đại học mang tên: “Thạc sĩ Âu Châu về cơ học xây dựng” (EMMC) tại TP. Hồ Chí Minh. Ba năm sau là một chương trình tương tự - “Thạc sĩ Âu Châu về mô phỏng và thiết kế trong kỹ thuật” (MCM) tại Hà Nội.

Ngày khánh thành trạm quan trắc, đo đạc thủy khí thủy văn Mũi Né 2007

Ngày khánh thành trạm quan trắc, đo đạc thủy khí thủy văn Mũi Né 2007

Các chương trình đào tạo sau đại học được xây dựng theo tiêu chuẩn Châu Âu và được đại học Liège cấp bằng. Những sinh viên có kết quả học tập xuất sắc còn được nhận học bổng tiến sĩ ở Châu Âu, Canada, Australia, Nhật Bản… Tính đến khi chương trình đào tạo này chấm dứt (tháng 9/2008), giáo sư Hưng đã góp phần đào tạo tại chỗ 318 thạc sĩ và 20 tiến sĩ cho đất nước, chưa kể trên 50 người còn tiếp tục theo học ở nước ngoài.

Ngoài ra, ông còn là thành viên Ban điều hành và Điều phối viên của Đề án Hợp tác đào tạo tiến sĩ một số chuyên ngành kỹ thuật tại Châu Âu dưới hình thức đồng hướng dẫn bằng ngân sách Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2003 - 2008.

Trước tình trạng bờ biển Việt Nam bị xâm thực nghiêm trọng bởi sự thay đổi của khí hậu trái đất, ông đã cùng với trường Đại học Thủy lợi Hà Nội xây dựng đoạn kè tiêu biểu dài 300m theo kỹ thuật hiện đại tại bờ biển Mũi Né (Bình Thuận) và xây dựng ở đây một trạm đo đạc thủy khí, thủy văn vùng biển theo sự tài trợ của cộng đồng Wallonie-Bruxelles.

Với những cống hiến cho đất nước, ông đã được trao tặng danh hiệu “Vinh danh đất Việt” năm 2005 và nhận bằng khen của Bộ Ngoại giao Việt Nam (năm 2005 và năm 2007).

Giáo sư Hưng cho rằng, có sự khác biệt rất lớn giữa các trường đại học ở Việt Nam và trường đại học của các nước tiên tiến trên thế giới. Ở các nước Âu, Mỹ, các trường đại học là nơi truyền bá tri thức và nghiên cứu khoa học một cách khách quan. Ở Việt Nam, còn lẫn lộn giáo dục với tuyên truyền, chương trình học nặng lý thuyết, nghiên cứu khoa học không được coi trọng đúng mức. Các viện, các trung tâm nghiên cứu khoa học tách rời với các trường đại học. Kết quả là giáo trình giảng dạy không được hiện đại hóa kịp thời nhờ những kết quả nghiên cứu khoa học và những kết quả này nếu có lại không được phổ biến để có sự tiếp nối của lớp trẻ. Đây là sự lãng phí ở một đất nước còn nghèo như Việt Nam.

Theo ông, để giáo dục Việt Nam theo kịp các nước tiên tiến, không có con đường nào khác ngoài việc chúng ta phải triệt để đổi mới tư duy.

Hết mình vì sự nghiệp nghiên cứu khoa học

Năm 2006 nghỉ hưu, giáo sư Hưng hồi hương về Việt Nam và sinh sống tại TP. Hồ Chí Minh. Dù nghỉ hưu nhưng ông vẫn miệt mài với công việc chuyển giao khoa học công nghệ cho thế hệ trẻ. Ông đã mở Công ty Công nghệ quốc tế Hưng Việt (HVT) để các học trò đã theo học chương trình đào tạo quốc tế EMMC và MCMC có điều kiện thi thố khả năng trong một môi trường làm việc quốc tế.

HVT tạo ra những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, đó là những phần mềm có kỹ năng cao trong việc phân tích các loại kết cấu dựa trên những mô hình toán tiên tiến, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như: công trình dân dụng, cầu hầm, đập nước, máy móc, ô tô, máy bay, robot… Khách hàng thường xuyên của HVT là các hãng chế tạo xe hơi Mercedes - Daimler, BMW, PORSCH, GM, VOLKSWAGEN, TATA và các công ty thiết kế cấu trúc hàng không.

Theo giáo sư Hưng, các cơ sở nghiên cứu khoa học của Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết. Khoa học Việt Nam muốn có bước bứt phá cần rà soát lại hiện trạng, thay thế nhân sự. Người đầu tàu được bổ nhiệm trong một thời gian nhất định nếu không thể hiện được khả năng của mình qua những báo cáo khoa học, những công trình được công bố trên những tạp chí quốc tế, những bằng phát minh được giới khoa học thừa nhận, những hướng dẫn nghiên cứu thành công thì phải nhường chỗ cho người khác. Việt Nam phải chú ý đào tạo đội ngũ kế cận là những người trẻ không những phải có bằng tiến sỹ, có công trình khoa học mà còn phải có kinh nghiệm cọ xát với môi trường khoa học công nghệ quốc tế qua thời gian dài nghiên cứu sau tiến sỹ. Muốn đi nhanh, đi tắt, nhất là những lĩnh vực mũi nhọn, Việt Nam phải dựa vào chất xám Việt kiều.

Ông cũng cho rằng, hiện nay có trên 300.000 người Việt được đào tạo bài bản đang làm việc tại các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu, các phân xưởng, các nhà máy tiên tiến trên thế giới. Họ thường xuyên cọ xát với môi trường khoa học công nghệ có sự cạnh tranh gay gắt nhất. Vấn đề là phải thu hút được họ, tạo điều kiện để họ tự nguyện tham gia công cuộc phát triển đất nước. “Huy động chất xám cần những biện pháp tế nhị. Điều cần nhất là phải tạo dựng một không gian thoáng về tư duy, về tư tưởng, dân chủ trong phát biểu và đề xuất khoa học. Người trí thức chân chính cần tính trung thực, minh bạch, tính công khai, cần lý tưởng chân thiện mỹ” - giáo sư Hưng chia sẻ.

Những lúc rảnh rỗi, ông thường dịch những ca khúc cổ điển nước ngoài sang lời Việt./.

vovniews

GS. TS Nguyễn Đăng Hưng là tác giả của hơn 20 cuốn sách, bài giảng, từ điển và hơn 200 công trình khoa học. Phần lớn trong số đó được xuất bản bởi các tạp chí khoa học danh tiếng trên thế giới. Ông đã được nhận danh hiệu Giáo sư ưu tú và Huân chương cao quý của Vương quốc Bỉ; Huân chương Đại Hiệp sỹ của vua Léopold II, Vương quốc Bỉ. Tháng 7/1999, ông được tạp chí hàng tuần của Bỉ “Le Vif - l’Express” bình chọn là 1 trong 10 người nước ngoài “đã làm thay đổi nước Bỉ”.

Minh Thư (Báo TNVN)

Trả lời phỏng vấn về việc phòng chống tham nhũng tại Việt Nam

January 18th, 2010 2 comments

tham-nhung

Về đề án đưa phòng chống

tham nhũng vào trường học

Lời nói đầu:

Đầu năm tháng 1/2010 vừa qua một tờ báo lớn tại Sài Gòn đã phóng vấn tôi về đề tài trên. Tôi đã thẳng thắn trả lời từng câu hỏi. Nhưng sau đó không thấy báo đăng tải. Đây là thường lệ tại Việt Nam khi nội dung bài báo ít nhiều có chệch qua lề trái. Xin đăng tải nguyên văn bài phỏng vấn với nỗi lo âu ngày càng bức thiết của tôi: Chừng nào công cuộc chống tham nhũng mới được chính quyền ra tay thực sự đây trời!

Nhà báo:

1. Chính phủ có đề án đưa phòng chống tham nhũng vào trường học để dạy cho học sinh tiểu học, trung học. GS đánh giá như thế nào về tính hiệu quả của đề án

GS Nguyễn Đăng Hưng

Trước nhất là tôi rất ngạc nhiên! Ngạc nhiên và băng khoăn. Không ngờ Việt Nam ta tổ chức chống tham nhũng một cách lạ lùng như vậy! Dĩ nhiên là tôi không phản bác việc thêm vào sách công dân giáo dục những danh mục, những bài học liên quan đến việc ngăn ngừa tệ nạn tham nhũng. Nhưng trong lúc cả xã hội đang chờ một cái gì đột phá, thì biện pháp kiểu này làm tôi ngạc nhiên và băng khoăn!

Không ngờ một thãm họa mà ta thường gọi là giặc nội xâm đang hoành hành ở mọi cấp mà ta lại có biện pháp đối phó lại nhẹ nhàng và chần chờ đến vậy! Cứ tưởng tượng sang năm mới 2010 ta bắt đàu đưa quan diểm chống tham nhũng vào tiểu học thì chắc phải chờ mười hai mươi năm nữa các em mới ý thức được yêu cầu chống tham nhũng và những biện pháp hữu hiệu chống giặc nội xâm lúc ấy mới hình thành sao? Bởi vậy về mặt hiệu quả trước mắt thì theo tôi sẽ chẳng là gì cả nếu không có những biện pháp quyết liệt khác kèm theo. Và những biện pháp quyết liệt thì tôi chưa thấy chính phủ bàn đến, ít ra vào thời điễm đầu năm mới này !

Read more…

Hai ca khúc Pháp nổi tiếng do Phi Thúy Hạnh trình diển trong đêm ra mắt Album “Sẽ cuốn theo gió bay”.

January 14th, 2010 No comments

pthanhCa sỹ Phi Thúy Hạnh

Hai ca khúc:

“Không ! có sao đâu”“Tình ngang trái”

Lời Việt của Nguyễn Đăng Hưng

Đêm ra mắt album nhạc ngoại quốc lời Việt do Nguyễn Đăng Hưng chuyển ngữ có hai ca khúc được nữ ca sỹ Phi Thúy Hạnh trình diễn rất thành công. Nhiều bạn bè rất thích ca từ có nhắc nhở chúng tôi. Xin xuất bản ở đây nguyên văn hai bài :

1. Non ! Rien de rien (Không ! Có sao đâu), ca khúc tiêu biểu do nữ ca sỹ người Pháp Edith Piaf hát lần đầu tiên trong năm 1960. Edit Piaf được xem như nữ ca sỹ lớn nhất của nước Pháp đã nổi lên như một hiện tượng ca nhạc từ những thập kỷ 30, 40, 50,60. Năm 1960 nhà soạn nhạc lừng danh Charles Dumont đến thăm Edit Piaf tại nhà ớ Paris và qua chiếc dương cầm có sẳn, đã giới thiệu bài hát “Non rien de rien” này cho Piaf. Sau khi nghe xong, Piaf rất vui và nói ngay : đây là chính ca khúc tôi chờ đợi từ lâu vì nó tóm tắt của đời ca kỷ sôi nổi của tôi. Quả đúng như vậy bài “non rien de rien” đã trở thành một thành công vang dội toàn cầu đưa tiếng hát Piaf lên đỉnh cao. Tháng 12 năm 1960 tôi đã nhiều lần nghe bài này tại Sài Gòn. Bước chân đến Bỉ, ở đâu tôi cũng nghe bài hát này vang lên như một thông điệp vĩnh cửu của Piaf, một ca khúc không có nếp nhăn qua năm tháng.

http://fr.youtube.com/watch?v=Q3Kvu6Kgp88&feature=related

2. AMOUR DÉFENDU (Tình ngang trái, phiên bản tiếng Anh có tên là Romance), một ca khúc tiêu biểu do nữ ca sỹ Mireille Mathieu (ca sỹ được coi như là người nối nghiệp Edith Piaf) trình diễn. Bài này đã được Phạm Duy dịch rồi không biết năm nào và có tên là « Tình oan khiên ».

Đây là ca khúc nguyên tác từ Tây ban Nha có tên là « Melodia de Sor » do Fernando Sor sáng tác. Năm 1977 Narciso Yepes soạn lại cho guitar và trở nên nổi tiếng qua phim “Jeux interdits”. Lời tiếng Pháp của Eddy Marnay đã gây cảm hứng cho phần chuyễn ngữ mới của Nguyễn Đăng Hưng

http://www.youtube.com/watch?v=GMf4kWAFhLs&NR=1

Sau đây là ca từ tiếng Pháp và lời Việt do Nguyễn Đăng Hưng chuyển ngữ.

Get the Flash Player to see the wordTube Media Player.

Trên đây là bài “Không! có sao đâu” do Nguyễn Đăng Hưng trình diển với hóa âm phối khí của NS Quốc Dũng

Read more…