Nhạc: “Yêu em với tất cả con tim” - Lời Việt : Nguyễn Đăng Hưng

Tranh của Henri Matisse: La musique
Love Me With All Your Heart (1961)
http://www.youtube.com/watch?v=CjOqQlrZgbM
Phát xuất từ ca khúc Tây Ban Nha “Cuando calienta el sol” do Carlos Rigual, Mario Rigual và Carlos Martinoli sáng tác năm 1961. Nhiều ca sỹ đã thâu âm, nỗi tiếng nhất là Ray Charles, Engelbert Humperdinck và Petula Clark.
Những bài thơ hay của Nguyễn Việt Chiến

Tôi nghĩ, đối với những người cầm bút hôm nay, vượt lên trên tất cả các vấn đề thời sự nhậy cảm ấy là tình yêu Tổ quốc. Tình yêu đó được nuôi dưỡng trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam qua nhiều thăng trầm, và hình như lại đang được khơi dậy trong những tháng năm này.
Nguyễn Việt Chiến
Thời đất nước gian lao
Chúng đã ngủ cả rồi
những con hươu bị bóng đêm săn đuổi
chúng đang gác cặp sừng lên vầng trăng cuối tháng
rồi nằm mơ về một cánh rừng
không có thuốc đạn và súng săn
Họ đã ngủ cả rồi
những người lính bị chiến tranh săn đuổi
họ nằm mơ gặp lại bầy hươu
gác sừng lên người bạn vô danh
trên cánh rừng đã chết
Chỉ còn lại vầng trăng và giấc ngủ
chỉ còn lại dấu vết cuối cùng của bầy hươu bị săn đuổi
chỉ còn lại câu thơ thầm lặng
về những người đã ra đi
Chỉ còn lại những gì không còn lại
bởi người đau đớn nhất sau chiến tranh
không ai khác ngoài mẹ của chúng ta
những đứa con không trở về
hoà bình dưới mưa phùn
được đắp bằng cỏ non và nước mắt
*
* *
Đêm đêm
những người con ngỡ đã đi thật xa
đang lặng lẽ trở về
họ lẫn vào gió vào sương đêm
không cần an ủi
họ chẳng ồn ào như lời ca sôi sục ngày ra đi
Họ còn nguyên tuổi trẻ
những người lính chưa tiêu phí một xu mơ ước
chưa tiêu hoài một đồng thanh xuân
Họ trở về tìm lại
trang sách học trò đêm đêm còn thao thức
trên cánh đồng tiếng Việt ngàn năm
Mẹ lại thấy chúng con về
như cánh cò tuổi thơ lưu lạc
đã bao ngày phải xa rời thôn ổ yêu thương
chúng con trở về tìm lại
giọt nước mắt xót xa và đắng cay của mẹ
Một bên là núi sông ngăn cách
còn bên kia là bóng đêm chiến tranh
vẫn biết đạn bom không có mắt
vẫn biết hận thù không thể phân biệt nổi
đâu là hoa sen và đâu là bùn tối
nhưng các anh vẫn phải ra đi
Các anh phải ra đi
lời ru chùa Tây Phương
những La Hán mặt buồn
người thợ mộc xứ Đoài
lấy thân xác hom hem của mình làm mẫu vẽ
ba mươi sáu dẻo xường sườn
réo rắt tấu lên bản đàn tam thập lục
người gẩy đàn thì đau đớn
mà bản nhạc viết cho đàn lại reo vui
*
* *
Mẹ đã sống dưới mưa phùn ảm đạm
những ngày dài nghèo đói quắt quay
Mẹ thiếu sữa sinh đứa con thiếu tháng
Tổ quốc xanh xaoTổ quốc hao gầy
Mẹ có mặt trong dòng người nhẫn nại
lặng lẽ xếp hàng từ mờ sớm tới đêm hôm
Mẹ lần hồi thời cơm tem gạo phiếu
nuôi lớn những người con
rồi gửi tới chiến trường
Mẹ đã khóc lúc rời ga Hàng Cỏ
những đoàn tầu hun hút tuổi hai mươi
một thế hệ hồn nhiên không biết chết
chưa từng yêu khi gục ngã cuối trời
Mẹ ở lại với sông Hồng tần tảo
áo phù sa lam lũ tháng ngày
câu quan họ cất trong bồ thóc cũ
sông Cầu trôi như một tiếng thở dài…
*
* *
Tàu xuyên đêm
tiếng gió xé bánh xe lăn quần quật
đêm nay họ trở lại một thời gian lao
đường vào Nam hun hút những chuyến tầu
máu rất đỏ tuổi hai mươi nằm lại
câu hát bảo:
tuổi hai mươi những người đi trẻ mãi
câu thơ bảo:
đất nước hình cánh võng mẹ ru ta
Và ở hai đầu đêm võng mắc dọc rừng già
trăng cũng sốt rét rừng như ta sốt
trăng mất máu như bạn ta thủa trước
dọc cánh rừng na-pan
Sông Thạch Hãn
nước mùa này còn ấm
và các anh trong suốt
những người hy sinh thời gian lao
Mây Quảng Trị
mùa này vẫn một mầu huệ trắng
trên Cổ Thành
như ngày các anh ngã xuống
những người hy sinh thời gian lao
Và mưa gió Trường Sơn
mùa này vẫn tắm gội
những người con nằm lại
thời đất nước gian lao
Những cánh rừngcuối thu ngủ dưới mưa phùn
đất nước tôi những người nằm trong đất
chất phác như bùn hồn nhiên như cỏ
buồn đau không còn thở than
Những ngọn sóng đất đai lưu giữ mọi thăng trầm
người chép sử ngàn năm là bùn đất
kiên trì và nhẫn nại
máu của người là mực viết thời gian.
_______________________________________________
Tổ quốc nhìn từ biển
Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển
Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa
Ngàn năm trước con theo cha xuống biển
Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa
Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc
Các con nằm thao thức phía Trường Sơn
Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả
Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn
Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
Trong hồn người có ngọn sóng nào không
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo
Lạc Long cha nay chưa thấy trở về
Lời cha dặn phải giữ từng thước đất
Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi
Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể
Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù
Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ
Thương Hòn Mê bão tố phía âm u
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích
Những đau thương trận mạc đã qua rồi
Bao dáng núi còn mang hình goá phụ
Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm hoạ
Đã muời lần giặc đến tự biển Đông
Những ngọn sóng hoá Bạch Đằng cảm tử
Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng
Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo
Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn
Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy
Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân
Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả
Những chàng trai ra đảo đã quên mình
Một sắc chỉ về Hoàng Sa thủa trước*
Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát
Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời
Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất
Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi
(Trại viết Hạ Long 4-2009)
(Bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” in trên Tạp chí VNQĐ số tháng 5-2009)
Báo Tiếng nói Việt Nam phỏng vấn ngày 8/1/2010

Về các giải pháp cải tiến tình trạng
GD&ĐT và nghiên cứu khoa học hiện nay tại Việt Nam
*****
Đề dẫn : Nhân dịp tân niên 2010 ngày 8/1/2010 báo Tiếng nói Việt Nam (VOVNIEWS) có phỏng vấn tôi qua e-mail về đề tài trên. Sau đó nhà báo có biên tập lại thành bài “Chuyện một GS Việt kiều” mà tôi vừa đăng tải lại trên blog này ngày 22/1/2010 vừa qua. Nay xin đăng tải nguyên văn bài phỏng vấn gọi là tài liệu cá nhân. NĐH
Một video của VTV4 phỏng theo báo Đất Việt
GS Nguyễn Đăng Hưng trở về quê hương để cống hiến
Bài báo của phóng viên Minh Thư trên Tiếng Nói Việt Nam, Cập nhật lúc : 10:30 AM, 21/01/2010
Hội Nghị toàn cầu về Cơ học tính toán, Bắc Kinh 2004
Chuyện một giáo sư Việt kiều
|
|
http://vovnews.vn/Home/Chuyen-mot-giao-su-Viet-kieu/20101/132685.vov
Với những đóng góp trong hoạt động nghiên cứu khoa học, ông là một trong những gương mặt Việt kiều đã góp phần làm rạng danh đất nước.
Bạn bè trên thế giới biết đến Việt Nam nhiều hơn qua cái tên quen thuộc: GS.TS Nguyễn Đăng Hưng.
Đào tạo hơn 300 thạc sĩ trình độ quốc tế
GS.TS Nguyễn Đăng Hưng sinh năm 1941, là người con của vùng đất Quảng Nam. Sinh ra ở một vùng quê hiếu học, cậu bé Hưng luôn là một học sinh xuất sắc. Năm 1960, nhờ đỗ tú tài xuất sắc cả ban toán và ban văn, Nguyễn Đăng Hưng nhận được học bổng ngành kỹ thuật của Vương quốc Bỉ trao tặng. Đi du học tại một đất nước có nền khoa học, công nghệ phát triển, Nguyễn Đăng Hưng luôn làm bạn bè và các giáo sư trong trường đại học thán phục bởi lòng ham học và tính sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu khoa học.
Năm 1966, Nguyễn Đăng Hưng tốt nghiệp đại học, được giữ lại giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Liège, trở thành một trong những nhà cơ học xuất sắc của thế giới và giành được nhiều giải thưởng quốc tế uy tín.
Tuy xa cách quê hương nhưng tấm lòng của ông luôn hướng về đất nước. Khi đất nước còn trong chiến tranh, ông đã tham gia vào các cuộc biểu tình chống chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam.
Năm 1977, theo lời mời của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước Việt Nam (tiền thân của Bộ Khoa học - Công nghệ), giáo sư Hưng có dịp được về giảng dạy hai tuần tại Đại học Giao thông - Vận tải Hà Nội. Về giảng dạy tại quê nhà, ông nhận thấy Việt Nam vừa trải qua chiến tranh, rất thiếu nguồn nhân lực xây dựng đất nước.
Bằng uy tín và các mối quan hệ của mình, năm 1990, ông đã thuyết phục được các nhà tài trợ nước ngoài và các đối tác châu Âu giúp đỡ tài chính cho chương trình đào tạo liên đại học mang tên: “Thạc sĩ Âu Châu về cơ học xây dựng” (EMMC) tại TP. Hồ Chí Minh. Ba năm sau là một chương trình tương tự - “Thạc sĩ Âu Châu về mô phỏng và thiết kế trong kỹ thuật” (MCM) tại Hà Nội.

Ngày khánh thành trạm quan trắc, đo đạc thủy khí thủy văn Mũi Né 2007
Các chương trình đào tạo sau đại học được xây dựng theo tiêu chuẩn Châu Âu và được đại học Liège cấp bằng. Những sinh viên có kết quả học tập xuất sắc còn được nhận học bổng tiến sĩ ở Châu Âu, Canada, Australia, Nhật Bản… Tính đến khi chương trình đào tạo này chấm dứt (tháng 9/2008), giáo sư Hưng đã góp phần đào tạo tại chỗ 318 thạc sĩ và 20 tiến sĩ cho đất nước, chưa kể trên 50 người còn tiếp tục theo học ở nước ngoài.
Ngoài ra, ông còn là thành viên Ban điều hành và Điều phối viên của Đề án Hợp tác đào tạo tiến sĩ một số chuyên ngành kỹ thuật tại Châu Âu dưới hình thức đồng hướng dẫn bằng ngân sách Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2003 - 2008.
Trước tình trạng bờ biển Việt Nam bị xâm thực nghiêm trọng bởi sự thay đổi của khí hậu trái đất, ông đã cùng với trường Đại học Thủy lợi Hà Nội xây dựng đoạn kè tiêu biểu dài 300m theo kỹ thuật hiện đại tại bờ biển Mũi Né (Bình Thuận) và xây dựng ở đây một trạm đo đạc thủy khí, thủy văn vùng biển theo sự tài trợ của cộng đồng Wallonie-Bruxelles.
Với những cống hiến cho đất nước, ông đã được trao tặng danh hiệu “Vinh danh đất Việt” năm 2005 và nhận bằng khen của Bộ Ngoại giao Việt Nam (năm 2005 và năm 2007).
Giáo sư Hưng cho rằng, có sự khác biệt rất lớn giữa các trường đại học ở Việt Nam và trường đại học của các nước tiên tiến trên thế giới. Ở các nước Âu, Mỹ, các trường đại học là nơi truyền bá tri thức và nghiên cứu khoa học một cách khách quan. Ở Việt Nam, còn lẫn lộn giáo dục với tuyên truyền, chương trình học nặng lý thuyết, nghiên cứu khoa học không được coi trọng đúng mức. Các viện, các trung tâm nghiên cứu khoa học tách rời với các trường đại học. Kết quả là giáo trình giảng dạy không được hiện đại hóa kịp thời nhờ những kết quả nghiên cứu khoa học và những kết quả này nếu có lại không được phổ biến để có sự tiếp nối của lớp trẻ. Đây là sự lãng phí ở một đất nước còn nghèo như Việt Nam.
Theo ông, để giáo dục Việt Nam theo kịp các nước tiên tiến, không có con đường nào khác ngoài việc chúng ta phải triệt để đổi mới tư duy.
Hết mình vì sự nghiệp nghiên cứu khoa học
Năm 2006 nghỉ hưu, giáo sư Hưng hồi hương về Việt Nam và sinh sống tại TP. Hồ Chí Minh. Dù nghỉ hưu nhưng ông vẫn miệt mài với công việc chuyển giao khoa học công nghệ cho thế hệ trẻ. Ông đã mở Công ty Công nghệ quốc tế Hưng Việt (HVT) để các học trò đã theo học chương trình đào tạo quốc tế EMMC và MCMC có điều kiện thi thố khả năng trong một môi trường làm việc quốc tế.
HVT tạo ra những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, đó là những phần mềm có kỹ năng cao trong việc phân tích các loại kết cấu dựa trên những mô hình toán tiên tiến, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như: công trình dân dụng, cầu hầm, đập nước, máy móc, ô tô, máy bay, robot… Khách hàng thường xuyên của HVT là các hãng chế tạo xe hơi Mercedes - Daimler, BMW, PORSCH, GM, VOLKSWAGEN, TATA và các công ty thiết kế cấu trúc hàng không.
Theo giáo sư Hưng, các cơ sở nghiên cứu khoa học của Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết. Khoa học Việt Nam muốn có bước bứt phá cần rà soát lại hiện trạng, thay thế nhân sự. Người đầu tàu được bổ nhiệm trong một thời gian nhất định nếu không thể hiện được khả năng của mình qua những báo cáo khoa học, những công trình được công bố trên những tạp chí quốc tế, những bằng phát minh được giới khoa học thừa nhận, những hướng dẫn nghiên cứu thành công thì phải nhường chỗ cho người khác. Việt Nam phải chú ý đào tạo đội ngũ kế cận là những người trẻ không những phải có bằng tiến sỹ, có công trình khoa học mà còn phải có kinh nghiệm cọ xát với môi trường khoa học công nghệ quốc tế qua thời gian dài nghiên cứu sau tiến sỹ. Muốn đi nhanh, đi tắt, nhất là những lĩnh vực mũi nhọn, Việt Nam phải dựa vào chất xám Việt kiều.
Ông cũng cho rằng, hiện nay có trên 300.000 người Việt được đào tạo bài bản đang làm việc tại các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu, các phân xưởng, các nhà máy tiên tiến trên thế giới. Họ thường xuyên cọ xát với môi trường khoa học công nghệ có sự cạnh tranh gay gắt nhất. Vấn đề là phải thu hút được họ, tạo điều kiện để họ tự nguyện tham gia công cuộc phát triển đất nước. “Huy động chất xám cần những biện pháp tế nhị. Điều cần nhất là phải tạo dựng một không gian thoáng về tư duy, về tư tưởng, dân chủ trong phát biểu và đề xuất khoa học. Người trí thức chân chính cần tính trung thực, minh bạch, tính công khai, cần lý tưởng chân thiện mỹ” - giáo sư Hưng chia sẻ.
Những lúc rảnh rỗi, ông thường dịch những ca khúc cổ điển nước ngoài sang lời Việt./.

|
GS. TS Nguyễn Đăng Hưng là tác giả của hơn 20 cuốn sách, bài giảng, từ điển và hơn 200 công trình khoa học. Phần lớn trong số đó được xuất bản bởi các tạp chí khoa học danh tiếng trên thế giới. Ông đã được nhận danh hiệu Giáo sư ưu tú và Huân chương cao quý của Vương quốc Bỉ; Huân chương Đại Hiệp sỹ của vua Léopold II, Vương quốc Bỉ. Tháng 7/1999, ông được tạp chí hàng tuần của Bỉ “Le Vif - l’Express” bình chọn là 1 trong 10 người nước ngoài “đã làm thay đổi nước Bỉ”. |
Trả lời phỏng vấn về việc phòng chống tham nhũng tại Việt Nam

Về đề án đưa phòng chống
tham nhũng vào trường học
Lời nói đầu:
Đầu năm tháng 1/2010 vừa qua một tờ báo lớn tại Sài Gòn đã phóng vấn tôi về đề tài trên. Tôi đã thẳng thắn trả lời từng câu hỏi. Nhưng sau đó không thấy báo đăng tải. Đây là thường lệ tại Việt Nam khi nội dung bài báo ít nhiều có chệch qua lề trái. Xin đăng tải nguyên văn bài phỏng vấn với nỗi lo âu ngày càng bức thiết của tôi: Chừng nào công cuộc chống tham nhũng mới được chính quyền ra tay thực sự đây trời!
Nhà báo:
1. Chính phủ có đề án đưa phòng chống tham nhũng vào trường học để dạy cho học sinh tiểu học, trung học. GS đánh giá như thế nào về tính hiệu quả của đề án
GS Nguyễn Đăng Hưng
Trước nhất là tôi rất ngạc nhiên! Ngạc nhiên và băng khoăn. Không ngờ Việt Nam ta tổ chức chống tham nhũng một cách lạ lùng như vậy! Dĩ nhiên là tôi không phản bác việc thêm vào sách công dân giáo dục những danh mục, những bài học liên quan đến việc ngăn ngừa tệ nạn tham nhũng. Nhưng trong lúc cả xã hội đang chờ một cái gì đột phá, thì biện pháp kiểu này làm tôi ngạc nhiên và băng khoăn!
Không ngờ một thãm họa mà ta thường gọi là giặc nội xâm đang hoành hành ở mọi cấp mà ta lại có biện pháp đối phó lại nhẹ nhàng và chần chờ đến vậy! Cứ tưởng tượng sang năm mới 2010 ta bắt đàu đưa quan diểm chống tham nhũng vào tiểu học thì chắc phải chờ mười hai mươi năm nữa các em mới ý thức được yêu cầu chống tham nhũng và những biện pháp hữu hiệu chống giặc nội xâm lúc ấy mới hình thành sao? Bởi vậy về mặt hiệu quả trước mắt thì theo tôi sẽ chẳng là gì cả nếu không có những biện pháp quyết liệt khác kèm theo. Và những biện pháp quyết liệt thì tôi chưa thấy chính phủ bàn đến, ít ra vào thời điễm đầu năm mới này !
Hai ca khúc Pháp nổi tiếng do Phi Thúy Hạnh trình diển trong đêm ra mắt Album “Sẽ cuốn theo gió bay”.
Ca sỹ Phi Thúy Hạnh
Hai ca khúc:
“Không ! có sao đâu” và “Tình ngang trái”
Lời Việt của Nguyễn Đăng Hưng
Đêm ra mắt album nhạc ngoại quốc lời Việt do Nguyễn Đăng Hưng chuyển ngữ có hai ca khúc được nữ ca sỹ Phi Thúy Hạnh trình diễn rất thành công. Nhiều bạn bè rất thích ca từ có nhắc nhở chúng tôi. Xin xuất bản ở đây nguyên văn hai bài :
1. Non ! Rien de rien (Không ! Có sao đâu), ca khúc tiêu biểu do nữ ca sỹ người Pháp Edith Piaf hát lần đầu tiên trong năm 1960. Edit Piaf được xem như nữ ca sỹ lớn nhất của nước Pháp đã nổi lên như một hiện tượng ca nhạc từ những thập kỷ 30, 40, 50,60. Năm 1960 nhà soạn nhạc lừng danh Charles Dumont đến thăm Edit Piaf tại nhà ớ Paris và qua chiếc dương cầm có sẳn, đã giới thiệu bài hát “Non rien de rien” này cho Piaf. Sau khi nghe xong, Piaf rất vui và nói ngay : đây là chính ca khúc tôi chờ đợi từ lâu vì nó tóm tắt của đời ca kỷ sôi nổi của tôi. Quả đúng như vậy bài “non rien de rien” đã trở thành một thành công vang dội toàn cầu đưa tiếng hát Piaf lên đỉnh cao. Tháng 12 năm 1960 tôi đã nhiều lần nghe bài này tại Sài Gòn. Bước chân đến Bỉ, ở đâu tôi cũng nghe bài hát này vang lên như một thông điệp vĩnh cửu của Piaf, một ca khúc không có nếp nhăn qua năm tháng.
http://fr.youtube.com/watch?v=Q3Kvu6Kgp88&feature=related
2. AMOUR DÉFENDU (Tình ngang trái, phiên bản tiếng Anh có tên là Romance), một ca khúc tiêu biểu do nữ ca sỹ Mireille Mathieu (ca sỹ được coi như là người nối nghiệp Edith Piaf) trình diễn. Bài này đã được Phạm Duy dịch rồi không biết năm nào và có tên là « Tình oan khiên ».
Đây là ca khúc nguyên tác từ Tây ban Nha có tên là « Melodia de Sor » do Fernando Sor sáng tác. Năm 1977 Narciso Yepes soạn lại cho guitar và trở nên nổi tiếng qua phim “Jeux interdits”. Lời tiếng Pháp của Eddy Marnay đã gây cảm hứng cho phần chuyễn ngữ mới của Nguyễn Đăng Hưng
http://www.youtube.com/watch?v=GMf4kWAFhLs&NR=1
Sau đây là ca từ tiếng Pháp và lời Việt do Nguyễn Đăng Hưng chuyển ngữ.
Trên đây là bài “Không! có sao đâu” do Nguyễn Đăng Hưng trình diển với hóa âm phối khí của NS Quốc Dũng
Bài trên báo Đất Việt, cập nhật lúc : 11:18 AM, 10/01/2010


Từ con số đến nốt nhạc
Nổi tiếng trong giới khoa học với những nghiên cứu và giải thưởng quốc tế về công nghệ cao, GS.TS Nguyễn Đăng Hưng còn được biết đến với tư cách nhà giáo dục có 40 năm giảng dạy trong nhiều ĐH ở Bỉ.
Nhưng đề tài ông có thể nói suốt ngày là âm nhạc. Ông vừa có đêm giới thiệu CD những bài hát nước ngoài do ông dịch và tham gia thể hiện: Sẽ cuốn theo gió bay.
Bài trên Lao Động Cuối tuần số 35 Ngày 30/08/2009

GS-TS, kiều bào Bỉ Nguyễn Đăng Hưng:
“Lắng nghe nhau,
tôn trọng tính độc lập của trí thức”
(LĐCT) - Cuộc giao lưu với GT-TS Nguyễn Đăng Hưng được tổ chức với mục đích tạo sự gắn bó giữa trí thức Việt kiều và trí thức trong nước, cụ thể là những người hiện đang sống, làm việc tại TPHCM.
Ghi lại thảo luận quan e-mail của 3 nhà khoa học Việt kiều tháng 11/2009

Việc đánh giá chất lượng
các công bố khoa học tại Việt Nam
GS Nguyễn Tiến Zũng (Toulouse, Pháp)
… Những vấn đề mà Hội toán học thế giới đưa ra về chuyện dùng “Impact factor”, có lẽ phần lớn những người làm toán ở nước ngoài đều có biết và đồng tình. Tuy nhiên, những thứ statistics như vậy vẫn có tác dụng “tín hiệu” (nói theo ngôn ngữ lý thuyết trò chơi: thông tin không đầy đủ, người ta xử lý dựa trên các tín hiệu) và vẫn sẽ được dùng. vấn đề là xây dựng “tín hiệu” sao cho chính xác nhất. Trong toán, thì trích dẫn 5-10 năm sẽ chính xác hơn nhiều là chỉ xem 2 năm. Và các ngành khác nhau, muốn so sánh với nhau, thì phải dựa trên các “baselines” nào đó. Có một điều chắc chắn là: có correlation (tương quan) rất lớn giữa số lần được trích dẫn, và ảnh hưởng khoa học của một người. Và cũng có “correlation” (tương quan) lớn giữa uy tín của 1 tạp chí, và chất lượng của bài đăng trong tạp chí đó. Và các quyết định trong thực tế chủ yếu dựa vào các tín hiệu có “correlation” lớn, chứ không có gì đảm bảo 100%.
Trân trọng, NTZ

Recent Comments