Archive for » September, 2010 «

September 21st, 2010 | Author:
Hình chụp tại Hội Nghị cơ học tính toán tại Bác Kinh cùng các nhà khoa học Trung Quốc và Ấn độ

Hình chụp tại Hội Nghị cơ học tính toán tại Bác Kinh cùng các nhà khoa học Trung Quốc và Ấn độ

Nhân đọc bài « HIỂU RÕ KẺ THÙ THÌ TA HẾT SỢ CHÚNG » của KTS Trần Thanh Vân

Chữ Quốc Ngữ,

Việt Nam và Trung Quốc

GS Nguyễn Đăng Hưng

Chị Thanh Vân thân quý!

Một lần nữa đọc bài của chị, tôi có cảm tưởng như chị là cây đàn bầu rung lên tiếng vọng của cha ông, của ngàn xưa, ngay những ngày mà dân tộc ta bị bủa vây bỡi những ám ảnh của một cơn đại hoạ như sắp ập đến : lãnh hải bị xâm chiếm, ngư dân bị giết hại, văn hoá bị hà hiếp và những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống tấp nập hiện ra như những đàn dơi nhởn nhơ giữa ban ngày, sẳn sàng ào đến nhân ngày đại lễ…

Tôi rất tâm đắc với những suy nghĩ của chị, nó rất Việt Nam, rất mới, đến từ một phụ nữ hiểu biết nhiều về người Hán vì đã sống nhiều năm tại Trung Quốc.

Riêng cá nhân tôi, là nhà khoa học, chuyên nghiên cứu về một ngành chẳng có chút nào là văn học, rất xa với sử học, nhưng tôi chia sẻ từng câu chữ của chị vể Trung Quốc, về tương quan giữa người Hán và dân tộc ta.

Tôi may mắn gắn bó với một nước tại châu Âu, có nền khoa học phát triển, có chính sách hỗ trợ các nhà khoa học rất ư là hữu hiệu, không biết kỳ thị là gì, màu da sắc máu hay giai cấp hay thành phần lý lịch. Tôi được tài trợ sang Trung Quốc nhiều lần, qua Đại Liên, đến Bắc Kinh, qua Tây An, xuống Nam Kinh qua Thượng Hải ghé Hàn Châu, Tô Châu, để về Việt Nam ngang qua Hồng Kông và Quảng Châu…

Tôi vốn ngưởng mộ văn hoá Trung Quôc từ thời vị thành niên, vì đam mê đọc truyện Tàu. Nhưng một lần đi tham dự một Hội Nghị cơ học đuợc tổ chức tại Thương Hài, đuợc bố trí ở trong một khách sạn 5 sao, một khách sạn quốc tế mà người phục vụ, từ các cô ngồi tại sãnh tiếp tân cho đến các nhân viên hầu bàn, không có người nào xử dụng được một ngôn ngữ quốc tế.

Việc gọi món ăn đối với chúng tôi là những giây phút bi hài. Chúng tôi đã như người câm, người mù, người điếc vì chúng tôi không nói đuợc, không nghe được, không đọc đưọc tiếng Quan thoại và bản thực đơn không giúp gì đuợc chúng tôi. Chúng tôi cố ra dấu ra hiệu đủ thứ nhưng vô vọng. Mấy tay hầu bàn còn xấc xược biểu môi nhìn về phía tôi. Tôi hiểu ngay họ ý ngạo mạn, cho tôi cũng là ngưòi da vàng, tóc đen như họ mà không biết tiếng Tàu !

Tôi chẳng nói gì được chi gọi là đáp trả, chỉ đề nghị với các đồng nghiệp là nên đi nhìn những bàn khác đã có thức ăn rồi chỉ định và bảo người hầu bàn ghi… Thế cũng được việc…

Hôm ấy lần đầu tiên tôi mới ý thức rất rõ là với chữ quốc ngữ, người Việt chúng ta rất gần các nước Tây phương. Ta gần họ hơn Trung Quốc !

Chúng ta đã thoát ra khỏi vòng cương toả của chữ Hán, của đạo Nho.

Chúng ta ở sát sường bên cạnh Trung Quốc mà văn hoá có thể dễ dàng vươn ra thế giới các nước tiên tiến ! Thật là một thãm hoạ nếu chúng ta diên rồ, cố tình bẻ cong lịch sữ, quay về với quá khứ khắc khe của ngàn năm Hán thuộc…

Dĩ nhiên là các giaó sỹ người Pháp, người Bồ Đào Nha sang Việt Nam đem đến chữ quốc ngữ đã chỉ nghĩ đến tiện ích của việc truyền đạo Cơ đốc. Họ đâu có ngờ đã bắt một chiếc cầu mà vô tình hằng trăm năm sau, và sau này mãi mãi dân tộc Việt Nam sẽ trường tồn như vậy, là người bạn Á Châu ở xa nhưng rất gần gủi họ. Và con em chúng ta chỉ cần sáu tháng là biết đọc, biết viết… Và người ngoại quốc ai đến Việt Nam cũng đọc được các tên đường khi ngao du trên các khu phố. Không như chúng tôi, khi du lịch Trung Quốc, vật vờ lạc lối, nếu quên ghi rõ trên miếng giấy địa chỉ khách sạn bằng tiếng Trung Quốc…

Liège ngày 21/09/2010

Category: Bài viết, Chính luận  | Tags:  | One Comment
September 20th, 2010 | Author:

ly-cong-uan

Xin đừng đem trứng giao cho ác…

GS Nguyễn Đăng Hưng

  1. Chúng tôi không lên án làm phim thương mại về lịch sử, cũng không trách cứ làm phim tại Trung Quốc, thậm chí cũng không có ý kiến mà còn khuyến khích về việc rút kinh nghiệm nghề nghiệp với các bè bạn chân tình người Trung Quốc hiện nay có tay nghề làm phim rất đáng nể mà chúng ta phải học hỏi, các tác giả nổi tiếng. Thực ra Trung Quốc cũng mới đây thôi, đã từng học hỏi từ các nhà đại diển nỗi tiếng của Nhật, của Mỹ, của Pháp…, những nước có bề dày phim ảnh đã cả thế kỷ nay.
  2. Chúng tôi cũng rất thông cảm về những điều kiện hạn hẹp, những giới hạn ở một nước mà nền công nghệ điện ảnh còn phôi thai. Phần trách nhiệm chung phải thuộc về các nhà quản lý tầm cỡ trung ương, cũng như mọi lĩnh vực khác, không có được tầm nhìn sâu rộng để Việt Nam tiến nhanh hơn nữa so với bè bạn trong khu vực.
  3. Chúng tôi cũng có thể bõ qua những sơ sót chi tiết vì cũng biết rõ Việt Nam có nhiều ảnh hưởng từ Trung Quốc từ ngàn xưa, vô tình hay bị áp đặt cách ăn mặt, phong thái kiến trúc, các tín ngưỡng, thói quen, qua ngàn năm bị đô hộ…
  4. Điều làm chúng tôi phẫn nộ là cho ngày đại lễ ngàn năm Thăng Long mà tìm cách ăn theo làm một bộ phim do người Tàu đạo diễn với tất cả những hệ lụy đi theo là sự bao trùm bản sắc văn hoá Trung Quốc đã được hiện đại hoá trong phim ảnh Trung Quốc mà ta thấy nhan nhãn khắp nơi.
  5. Điều chúng tôi trách móc là từ nhà cầm quyền văn hoá, nhà sản xuất cho đến các « chuyên gia » phim ảnh Việt Nam tham gia, đã nhắm mắt để « tự chuyển biến » chấp nhận một sự việc tồi tệ như vậy, một hành động mà họ hình như vô cảm (vì kinh tế thị trường ?) đã tiếp tay hà hiếp văn hoá Việt Nam trong thời điểm lẽ ra phải tôn vinh bản sắc dân tộc một cách cung kính nhất !
  6. Chúng tôi cho rằng không cần phải làm cho hoàng tráng, cho oai phong, cho sắc sỡ để mô tả Lý Công Uẫn và phong cách lẫm liệt uy nghi của vị vua khai quốc này. Cái hào khí của quân dân Việt Nam, cái độc đáo của sự bình dị mới là bản sắc đích thực của Việt Nam. Quân dân ta thời Hai Bà Trưng làm gì được trang bị như quân Hán của Mã Viện, quân của Lý Thường Kiệt làm sao hào nhoáng hơn quân nhà Tống, quân Tây Sơn làm sao có áo giáp hơn quân nhà Thanh, bộ đội Việt Nam bao vây Điện Biên Phủ làm gì có trang phục đẹp hơn quân đội Pháp ! Nhưng cái oai hùng thuộc về đâu ? Câu trả lời chính là sự thực lịch sữ. Thể hiện cho được câu trả lời cần văn hoá đích thực cần cái tâm của nhà sản xuất, cái tài của nhà đạo diễn. Chúng tôi chắc chắn rằng Việt Nam không thiếu người tài, rằng người nghệ sỹ Việt Nam có tấm lòng yêu nước nồng nàn hiếm hoi so với nhiều dân tộc khác trên thế giới !

Hãy giao cho người tài bắt tay vào việc, hãy đặt người chân tình yêu nước thương dân vào vị trí xứng đáng gánh vác công việc, nhất là văn hoá, giaó dục…

Xin đừng đem trứng giao cho ác…..

Liège ngày19/ 9/2010

(*) Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long được chú ý ngay từ khi bấm máy bởi những thông tin “đặc biệt” của dự án phim. Lần đầu tiên, một dự án phim Việt Nam thuê ê-kíp Trung Quốc sản xuất từ đạo diễn, hóa trang, phục trang đến trường quay… Đạo diễn Cận Đức Mậu- đạo diễn của phim truyền hình Tuổi trẻ Bao Thanh ThiênVõ Tắc Thiên, Vương triều Ung Chính… Thuê Trung Quốc may gần 700 bộ trang phục cổ trang, cộng thêm tiền thuê trường quay Hoành Điếm, tiền thuê hàng trăm diễn viên quần chúng, ngay từ khi khởi quay, Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long đã là một dấu hỏi lớn về kinh phí sản xuất. được “chọn mặt gửi vàng”. Kịch bản phim của ông Trịnh Văn Sơn- Giám đốc công ty cổ phần truyền thông Trường Thành được nhà biên kịch nổi tiếng của Trung Quốc là Kha Chung Hòa đảm trách. Kha Chung Hòa từng là biên kịch cho những bộ phim

Category: Bài viết, Chính luận  | Tags:  | 3 Comments
September 20th, 2010 | Author:
Tại văn phòng khoa Hàng không Không gian, Đại học Liège

Tại văn phòng khoa Hàng không Không gian, Đại học Liège

Li dn

Sau bài bút ký đọc tại Hội thảo mùa hè Franfurt tháng 8/1989 (nhưng bản thảo đã thai nghén từ 1979), tôi bắt đầu thường xuyên đi lại Việt Nam và hăng hái đề xuất những dự án có tài trợ quốc tế (Cộng đồng các đại học quốc nói tiếng Pháp trụ sở tại Canada, chính phủ Bỉ) dùng cho việc đào tạo cán bộ giảng dạy ở cấp đại học. Từ 1989 cho đến 1995 (năm tôi đổi hướng đề xuất các dự án lớn, khánh thành trung tâm đào tạo thạc sỹ EMMC tại ĐH Bách Khoa, TP HCM) tôi đã triển khai không dưới 10 dự án nhỏ giá trị khoảng 20 ngàu USD mỗi năm, những dự án con dùng cho việc về Việt Nam làm sê-mi-na và hướng dẫn các bạn trẻ nghiên cứu khoa học về ngành tính toán số cơ học bằng phương pháp hiện đại rời rạc hóa không gian và thời gian qua máy tính.

Tôi bắt đầu bắt nhịp với đời sống văn hóa xã hội Việt Nam trong giai đoạn cởi trói văn hóa văn nghệ theo ý kiến của tân tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, giai đoạn tướng Trần Độ phụ trách tuyên giáo và nhà văn Nguyên Ngọc làm Tổng biên tập báo Văn Nghệ. Bài bút ký thứ hai sau đây viết ra trong cái không khí đổi mới tư duy ấy.

Tôi đã gởi bài này cho nhà báo Kim Hạnh, Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ và Bà Kim Hạnh với dũng khí mà ta được biết, đã cho đăng trên Tuổi Trẻ Chủ nhật (số 7-90 25/2/1990, trang 7 và trang 21), sau khi cắt bớt những đoạn « chưa thích hợp » : tạp nghi 1,2,4,5.

Nay tôi đăng tải nguyên văn bài bút ký.

Phải nói 20 năm đã qua nhưng nội dung bài này vẫn là thời sự và những lo âu của tôi trước đây nay hiện nguyên hình với sự tác hại mà báo chí lề trái cũng như lề phải đồng loạt khám phá và đăng tải : bằng dỏm, lớp dỏm, liên kết dỏm tổ chức thành hệ thống !…

Sài gòn ngày 19/8/2010

BÚT KÝ CỦA MỘT NHÀ KHOA HỌC VIỆT KIỀU (Phần 2)

NGUYỄN ĐĂNG HƯNG

Giáo sư Đại học Liège (Bỉ)

Tạp ghi 1.

Vâng, Sài gòn ngày nay có nhiều đổi thay.

Có người công an đổi ra làm chủ tiệm phở và cũng có người chủ gánh phở trở về làm chuyên gia !

Tôi đã nghe và đọc về thân phận của anh Vũ Đình Cung, người chuyên viên điều khiển không lưu tài ba của phi cảng Tân Sơn Nhất. Câu chuyện về anh rất được các giới sĩ phu trong nước bàn tán trong năm qua. Hãy nghe anh Cung nói về mình :

” … Khi cầm tờ giấy báo cho nghỉ việc, tôi vừa bất ngờ vừa không bất ngờ. Bởi vì là sau giải phóng thời gian hơn năm năm được lưu dụng, tôi đã rất nổ lực trong công việc, nhưng có lẽ điều này cũng chưa đủ sức để tạo một niềm tin ! Sau gần ba mươi năm làm việc, giờ về nghỉ chưa biết phải làm gì, những tuần lễ đầu để khuây khỏa, tôi thường đạp xe đi thăm những người bạn cũ trước đây cùng đi học ngành không lưu tại Đài Bắc, tại Mỹ và sau này cùng làm việc chung. Cũng chẳng gần được mấy ai vì hầu hết đều đi ra nước ngoài… Một ít còn lại thì sống bằng đủ các nghề và cũng đang chờ ngày xuất cảnh. Họ an ủi và khuyên tôi nên chọn con đường như họ. Với tâm trạng lúc đó, lời khuyên ấy không thể không làm tôi suy nghĩ. Nhưng tôi đã không tính cách ra đi. Phải kiếm cách sống cho gia đình… Cuối cùng một người bà con đang buôn bán ở chợ An Đông gợi ý tôi xuống đó mở một xe phở bán thử. Bỗng dưng trở thành anh bán phở, ngày ngày mang chiếc xe đạp, dề trắng trước ngực, lặt rau, rửa tô, dọn bát tới lui dòn dã chào mời…

Thời gian trôi đi, tưởng đâu đã yên ổn suốt đời với chiếc xe phở thì bỗng một hôm đọc trên báo thấy có một bài viết về chuyện của mình, người viết là một đồng nghiệp trẻ cũ. Tôi ứa nước mắt, hóa ra vẫn còn người nhớ đến mình ! … Sau đó khoảng chừng nữa tháng, một hôm tôi vừa ở chợ An Đông về thì có một vị ở Tổng cục Hàng không đến nhà thăm và ngỏ ý mời tôi vào làm việc trở lại. Tôi hết sức phân vân, một sự e dè lẫn chút tự ái trong tâm trạng… Sau bao đêm trằn trọc, hình ảnh chiếc xe phở thân quen đã giúp gia đình tôi qua những ngày lao đao… cùng bầu trời xanh… những cánh bay màu trắng làm tôi chập chờn trong giấc ngủ. Có một điều gì sâu thâm tự đáy lòng nhắc nhở tôi hãy đừng vì một điều gì cả mà hãy vì quê hương còn nghèo khó của chúng ta. Ngày 15.3.88, mất đi gần mười năm, tôi đã trở lại nơi làm việc cũ. Tôi được biết là trong thời gian qua, Tổng cục Hàng không phải mướn chuyên gia nước ngoài sang huấn luyện, hằng tháng phải trả cho mỗi người từ sáu ngàn đến tám ngàn đô-la !… Tôi tiếp tục công việc tại đài chỉ huy sân bay, hằng ngày huấn luyện nâng cấp cho các kiểm soát viên, dạy nghiệp vụ tại trường Hàng không và viết tài liệu huấn luyện… Lương hàng tháng tám mươi ngàn đồng tất nhiên không thể nào bằng tiền lời của một tháng bán phở, nhưng nó có một giá trị khác… ».

Vâng, đất nước chúng ta ngày nay vẫn còn lại những hình ảnh tiêu biểu mới, lời nói cởi hết tấm lòng, chân thành và cảm động. Nhưng khắc nghiệt thay những tấm lòng ấy, những tài ba ấy chưa có địa vị xứng đáng trên đất nước họ, trong ngành nghề chuyên môn của họ. Họ mới “được phép” hành nghề thế thôi, làm gì so sánh được với các chuyên gia chánh trị của nền chuyên chính vô sản !

more…

Category: Bài viết, Bút ký, Giáo dục  | Tags:  | Comments off
September 10th, 2010 | Author:
Một cảnh trong Phim “LÝ CÔNG UẨN - ĐƯỜNG TỚI THÀNH THĂNG LONG"

Một cảnh trong phim “LÝ CÔNG UẨN - ĐƯỜNG TỚI THÀNH THĂNG LONG"

Cảm nghĩ sau khi xem đoạn quảng cáo phim

“LÝ CÔNG UẨN – ĐƯỜNG TỚI THÀNH THĂNG LONG

GS Nguyễn Đăng Hưng

Mới xem qua thôi mà tôi đã thấy hãi, nếu không nói kinh hoàng!

Từ trang phục cho đến cảnh quan, từ áo mão cho đến búi tóc, hình ảnh toát ra cho ta thấy: Đây là một phim Trung Quốc, chẳng khác gì những phim lịch sử Trung Quốc khác mà đông đảo người Việt Nam quen xem.

Lời bình nhắc nhỡ diễn viên là người Việt Nam, nhưng bất cứ ai chưa thấy họ trên phim Việt Nam, đều nghĩ ngay họ là người Tàu, chỉ trừ cô gái và chiếc áo tứ thân.

Chi tiết nhỏ nào không thể cứu vãn được tính bao trùm của bản sắc Trung Quốc.

Trời ! Ai có thể ngờ Việt Nam ngày nay có thể như vậy!

Đậm đà bản sắc dân tộc mà như thế ư?

Vì thiếu kỷ thuật, thiếu điều kiện, thiếu tài năng (hay không muốn người thật tài thực hiện!), ai đó đã chọn giải pháp dễ dãi nhờ đến “Công ty Cổ phần Truyền thông Trường Thành”, một cái tên gợi ý rất rõ: đây là sản phẩm của Trung Quốc!

Than ôi, người ta vô tình (hay cố ý ai biết!), đang dẫn dắt dân Việt chúng ta tiến nhanh tiến mạnh đến bóng đêm của ngàn năm lệ thuộc!

Chúng ta thấy nhan nhản ngày nay văn hóa Thăng Long cỗ kính, trong sáng, thanh lịch ngày càng phai nhạt…

Chúng ta than trách tại sao người lo bảo tồn văn hóa không thể hiện nét văn hóa cần thiết. Sơn phết màu mè, pha trộn, giả cỗ là phổ biến…

Chỉ có mấy phút hình ảnh thôi mà những điều nhiều các nhà văn hóa đích thực thường trăn trở, lo âu bấy lâu nay, như được mở toang ra, một sự kiện có sức tố cáo đanh thép trước công luận: Từ chỗ vô văn hóa đến chỗ văn hóa nô dịch chỉ là khoản cách những bước đi nhỏ… Phim nhắc đến trên đây là một trong những bước đi ấy.

Vô văn hóa mà làm văn hóa thì chỉ là người đào mồ chôn văn hóa đích thực!

Mà mất văn hóa là mất hết, than ôi !

Một nghìn năm Thăng Long, một nghìn năm văn hóa dân tộc, ai sẽ chịu trách nhiệm cho những tổn thương này?

Sài Gòn ngày 10/9/2010

Xin xem khúc phim quảng cáo : [media id=40]

Category: Bài viết, Chính luận  | Tags:  | 4 Comments
September 06th, 2010 | Author:

Sài Gòn Lăng Ông Bà Chiểu, Tết Bính Thìn 1976

Sài Gòn Lăng Ông Bà Chiểu, Tết Bính Thìn 1976

Lời giải thích trên blog NĐH:

Nhân sự kiện Ngô Bảo Châu, việc phát triển và xử dụng nhân tài, chính sách tổ chức nghiên cứu khoa học và giáo dục đào tạo tại Việt Nam được cả nước quan tâm.

Là người sớm thường xuyền về Việt Nam sinh hoạt khoa học với các đồng nghiệp trong nước từ năm 1976 cho đến nay, tôi đã có những bài viết những đề xuất khá nóng từ hơn 20 năm nay.

Nhận thấy những ý kiến những kinh nghiệm này vẫn còn nguyên giá trị thời sự vì sau 35 năm hòa bình thống nhất, công cuộc đổi mới tư duy về tri thức, về tinh thần khoa học vẫn còn chưa có biến chuyển quyết liệt…, tôi quyết định đăng tải lại trên blog của Nuyễn Xuân Diện…Âu cũng là những đóng góp nhỏ nhưng hữu ích cho công cuộc xây dựng cái nền văn hóa khoa học cho nước nhà.

Nay tôi khiên lại về nhà mấy bài bút ký này dành cho bạn đọc quen thuộc của tôi, sau khi thấy các bài bút ký này nhận được sự đón nhận nồng nhiệt, sự quan tâm tích cực từ bạn đọc khắp năm châu…

Nguyễn Đăng Hưng

17-08-2010

BÚT KÝ CỦA MỘT NHÀ KHOA HỌC VIỆT KIỀU

Lời dẫn của GS Nguyễn Đăng Hưng:

Bài này xuất hiện dưới hình thức một bài tham luận đọc tại Hội Thảo mùa hè Franfurt tháng 8 năm 1989 nếu tôi nhớ không nhầm. Hội thảo này là tiền thân của Hội Thảo mùa hè mới vừa được tổ chức về « Tranh chấp Biển Đông Nam Á và vấn đề an ninh con người », Philadelphia, Mỹ tháng 7, 2010 vừa qua. Sau đó anh Trần Hải Hạc chủ bút báo Đoàn Kết yêu cầu tôi gởi đăng trên cơ quan ngôn luận của Liên Hiệp Việt kiều tại Pháp, bộ mới số 418 phát hành trong tháng 11 năm 1989.

Sau khi PTT Nguyễn Thiện Nhân đến nhà ân cần thăm hỏi và đề nghị tặng quà nhà toán học Ngô Bảo Châu tôi thấy vấn đề chiêu mộ nhân tài, tạo điều kiện để các nhà khoa học Việt kiều về nước đóng góp vẫn là một vấn đề nóng bỏng thời sự mà sau 35 năm vẫn còn bề bộn phía trước.

Nay gởi cho Blog Nguyễn Xuân Diện đăng lại nguyên văn, biết đâu cũng là một ý kiến nhỏ gợi ý cho giới chức trách đương quyền, giúp cho đông những nhà khoa học trẻ Việt Nam suy ngẫm thêm về sinh hoạt khoa học trước 1989 tại Việt Nam.

Cũng xin lưu ý là sau năm 1979, tác giả bài này đã quyết định ngưng về Việt Nam trong 10 năm cho đến 1989 khi công cuộc đổi mới kinh tế và tư duy bắt đầu rõ nét. Hiện nay tác giả đã hưu trí và sinh sống chính tại Việt nam.

more…

Category: Bài viết, Bút ký, Giáo dục  | Tags:  | 2 Comments