Author Archive

September 24th, 2016 | Author:

xhds2

TUYÊN BỐ: CỰC LỰC PHẢN ĐỐI DỰ ÁN PHIÊU LƯU

NGUY HIỂM THÉP HOA SEN Ở NINH THUẬN

(Quý cá nhân, tổ chức tán thành Tuyên bố, xin thư về vvtao.nb@gmail.com ghi danh tính, nghề nghiệp, nơi cư trú)

Hà Nội, ngày 16-9-2016

Chúng tôi, các tổ chức, cá nhân đứng tên dưới đây, tuyên bố cực lực phản đối dự án thép khuất tất, cực kỳ phiêu lưu, nguy hiểm đối với đời sống kinh tế xã hội đất nước của Tập đoàn Hoa Sen (Hoa Sen Group – HSG, còn gọi là Tôn Hoa Sen) đang toan tính triển khai ở khu vực Cà Ná, tỉnh Ninh Thuận, bởi những lẽ sau:

1. Đại thảm họa môi trường khủng khiếp do nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh đã cho thấy rất rõ ràng, vì lợi ích nhóm bất chính, chủ dự án và giới chức quản lý hữu trách Việt Nam bất chấp tính mạng, sức khỏe và lợi ích chính đáng của nhân dân. Hậu quả Formosa gây ra là cực kỳ tệ hại, khó lường hết mức độ và thời gian di hại. Khả năng chuyên môn, cơ sở vật chất kỹ thuật và trách nhiệm của các cơ quan, cán bộ quản lý, bảo vệ môi trường của Việt Nam hiện nay quá yếu kém.
2. Trong bối cảnh các quốc gia tiên tiến và minh bạch siết chặt quản lý môi trường, thận trọng, khắt khe với những dự án công nghiệp tiềm ẩn cao ô nhiễm, các chủ đầu tư luôn tìm mọi cách đưa những dự án này vào các quốc gia chưa phát triển, hệ thống pháp luật môi trường yếu kém, giới chức tham nhũng nặng nề, trong đó có Việt Nam.
3. Dự án thép 16 triệu tấn thép/năm của HSG ở Ninh Thuận tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn, khuất tất, hiểm họa rất lớn về kinh tế – xã hội:
– Ninh Thuận vốn vô cùng khan hiếm nguồn nước cho nông nghiệp, thậm chí cho sinh hoạt. Nhà máy thép ngốn một lượng nước khổng lồ. HSG tuyên bố sẽ không thải một giọt nước ra biển, nhưng lãnh đạo Ninh Thuận lại cam kết cung ứng đủ cho nhà máy thép 250.000 – 300.000 m3/1 ngày đêm (?). Vậy nước thải đi đâu?
– Ngoài nước thải độc hại, nhà máy thép còn thải một lượng khổng lồ chất thải rắn, tro xỉ, khói bụi độc hại đối với sức khỏe con người và nông nghiệp.
– Trong khi sản lượng thép trên thế giới nhiều năm qua và dự báo sẽ còn cung vượt xa cầu, thép giá rẻ Trung Quốc (có phần nhờ yếu tố lỏng lẻo trong quản lý chất thải) đang lũng đoạn thị trường, nếu bị buộc xử lý chất thải đạt chuẩn, liệu thép HSG có khả năng cạnh tranh? Phải chăng đây chỉ là điểm trung chuyển cho thép Trung Quốc, núp bóng xuất xứ Việt Nam, tuồn ra thế giới, tránh hàng rào thương mại?
– HSG huênh hoang tuyên bố, nếu gây ô nhiễm môi trường, sẽ giao tài sản cho nhà nước. Nguồn vốn chủ sở hữu của HSG hiện chỉ có khoảng 2.500 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư lên tới 230.000 tỷ đồng (10,6 tỷ USD), còn lại phải vay, không lẽ HSG trao khoản nợ khổng lồ cho ngân sách nhà nước? Tiền nào đổi được tính mạng, sức khỏe của nhân dân, thiệt hại to lớn của các ngành kinh tế khác?
– Ai cũng biết công nghệ sản xuất thép của Trung Quốc lạc hậu, tiềm ẩn lớn rủi ro môi trường. HSG công khai tuyên bố nếu mua công nghệ sản xuất thép Âu, Mỹ thì không có lời, chủ tâm mua công nghệ Trung Quốc. HSG cũng đã có văn bản xin phép Ninh Thuận cho 5 chuyên gia Trung Quốc vào khảo sát.
– Tại Đại hội cổ đông bất thường HSG ngày 6-9-2016, Chủ tịch HSG Lê Phước Vũ trắng trợn tuyên bố: “Một quý làm thép lời tới 2.000 tỷ đồng, ngu gì không làm?”. Rõ ràng, HSG chỉ chăm chăm lợi nhuận của doanh nghiệp, bất chấp nguy cơ khủng khiếp đối với tính mạng, sức khỏe, lợi ích nhân dân cũng như trật tự trị an xã hội.
4. Tại sao Bộ Công Thương lại sốt sắng đến bất thường (bổ sung hỏa tốc vào quy hoạch trong 4 ngày) ưu ái dự án thép HSG ngay thời điểm di họa Formosa đang nóng bỏng? Tại sao Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh liên tục xuất hiện tại các sự kiện, dù nhỏ nhoi, của HSG? Quan hệ gia tộc anh em cọc chèo giữa ông Trần Tuấn Anh với ông Lê Phước Vũ có phải là nguyên nhân?
5. Động cơ và căn cứ pháp luật nào để Phó trưởng Ban Tuyên giáo trung ương Phạm Văn Linh trắng trợn, lố bịch toan tính bịt miệng báo chí nhà nước (13-9-2016): “dừng phản biện, đưa tin về dự án thép của Tôn Hoa Sen”?
6. Rất nhiều chuyên gia, nhà quản lý có uy tín và dư luận cả nước đã và đang lên tiếng phản biện, quan ngại, phản đối dự án hết sức nguy hiểm này của HSG.
7. Lãnh đạo Ninh Thuận nhắm mắt ủng hộ dự án, nhưng nếu thảm họa môi trường xảy ra, họ có đảm bảo tính mạng, sức khỏe của người dân Ninh Thuận? Có ngăn nổi thảm họa tác động đến cả nước?

Vì những lẽ trên, chúng tôi kiên quyết yêu cầu Chính phủ, các bộ ngành trung ương hữu quan, Ban Bí thư, Bộ Chính trị ĐCSVN, Quốc hội thực thi nghiêm túc bổn phận, trách nhiệm của mình với nhân dân và đất nước trước nguy cơ một Formosa 2 tại Ninh Thuận, dứt khoát không được phép để xảy ra sự đã rồi như Formosa Hà Tĩnh.
Chúng tôi cũng kêu gọi nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, bằng mọi phương cách, cùng chung sức cương quyết phản đối dự án hết sức nguy hiểm này.

———————–

(Tổ chức, cá nhân tán thành Tuyên bố này xin thư về vvtao.nb@gmail.com . Danh sách ký tên sẽ tiếp tục cập nhật. Trân trọng cảm ơn!)

DANH SÁCH TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KÝ TUYÊN BỐ (Đợt 1)

I. Tổ chức:

1. Diễn đàn Xã hội dân sự, TS Nguyễn Quang A đại diện
2. Ban vận động Văn đoàn độc lập, nhà văn Nguyên Ngọc đại diện
3. Hội Nhà báo độc lập Việt Nam, TS Phạm Chí Dũng – Chủ tịch Hội, đại diện
4. Diễn đàn Bauxite Việt nam, GS Phạm Xuân Yêm và GS Huệ Chi đại diện
5. Voice of Vietnamese Americans (Hội Tiếng nói người Mỹ gốc Việt), Genie Nguyễn Thị Ngọc Giao, Chủ tịch Hội đại diện
6. Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, Nguyễn Bá Tùng đại diện
7. Sài Gòn Báo, Linh mục Lê Ngọc Thanh đại diện
8. Hội Cựu tù nhân lương tâm, bác sĩ Nguyễn Đan Quế và linh mục Phan Văn Lợi đại diện
9. Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. Đại diện: linh mục Nguyễn Hữu Giải
10. Khối Tự do Dân chủ 8406, linh mục Nguyễn Văn Lý và kỹ sư Đỗ Nam Hải đại diện

II. Cá nhân:

1. Nhà văn Nguyên Ngọc, Quảng Nam
2. GS Lê Xuân Khoa, Hoa Kỳ
3. TS sinh học Hà Sĩ Phu, Đà Lạt
4. TS Nguyễn Quang A, Hà Nội
5. GS Nguyễn Đăng Hưng, GS Danh dự Đại học Liège (Bỉ), TP HCM
6. Nhà báo Võ Văn Tạo, Nha Trang
7. Linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn G.B. Huỳnh Công Minh, Sài Gòn
8. Nhà thơ Nguyễn Duy, TP HCM
9. Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, Hà Nội
10. Đạo diễn, nghệ sĩ Nguyễn Thị Kim Chi, Hà Nội
11. Vũ Linh, cựu giảng viên ĐH Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội
12. TS Chu Hảo, Đà Nẵng
13. Nhà thơ Bùi Minh Quốc, PCT Hội Nhà báo độc lập, Đà Lạt
14. Nhà báo Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo độc lập, TP HCM
15. Nhà văn tự do Tiêu Dao Bảo Cự, Đà Lạt
16. Nhà thơ Hoàng Hưng, Sài Gòn
17. Nhà báo Trần Tiến Đức, Hà Nội
18. Đại tá Nguyễn Đăng Quang, nguyên cán bộ Bộ Công an, Hà Nội
19. TS Phạm Gia Minh, TP HCM
20. TS Hán – Nôm Nguyễn Xuân Diện, Hà Nội
21. Dịch giả Phạm Nguyên Trường (Phạm Duy Hiển), Vũng Tàu
22. Nhà thơ Bui Hien, Canada
23. Kỹ sư, nhà báo tự do JB Nguyễn Hữu Vinh, Hà Nội
24. Kỹ sư Mai Đậu, hưu trí, Hà Nội
25. Nhà báo tự do Ngô Kim Hoa (Sương Quỳnh), Sài Gòn
26. Nghệ sĩ Lại Thị Ánh Hồng, Sài Gòn
27. Nhà thơ Phan Đắc Lữ, CLB Lê Hiếu Đằng, TP HCM
28. Nhà văn Vũ Ngọc Tiến, Hà Nội
29. Trần Minh Thảo, viết văn, Bảo Lộc, Lâm Đồng
30. Hồ Phú Bông, hưu trí, Hoa Kỳ
31. GS Phạm Xuân Yêm, Paris
32. GS Nguyễn Huệ Chi, Hà Nội
33. TS Đặng Thị Hảo, Hà Nội
34. Nhà báo Kha Lương Ngãi, cựu Phó TBT Báo Sài Gòn giải phóng, TP HCM
35. Nhà văn Nguyễn Nguyên Bình, Hà Nội
36. GS Nguyễn Thế Hùng, Phó Chủ tịch Hội Cơ học thủy – khí Việt Nam
37. PGS – TS Hoàng Dũng, TP HCM
38. Nhà văn Phạm Đình Trọng, Sài Gòn
39. Linh mục Đinh Hữu Thoại, Dòng Chúa Cứu thế, Giáo xứ Tiên Phước, Quảng Nam
40. TS Nguyễn Sĩ Phương, Thời báo Việt – Đức, Đức
41. Nhà văn Phan Tấn Hải, Hoa Kỳ
42. Nguyễn Thanh Tâm, Oregon, USA
43. Đạo diễn Trần Văn Thủy, Hà Nội
44. Phan Thị Hoàng Oanh, giảng viên đại học, TP HCM
45. TS – BS Đinh Đức Long, Sài Gòn
46. Genie Nguyễn Thị Ngọc Giao, Chủ tịch Hội Voice of Vietnamese Americans, Hoa Kỳ
47. Hòa thượng Thích Không Tánh, trụ trì Chùa Liên Trì, Sài Gòn
48. André Menras Hồ Cương Quyết, nhà giáo, CH Pháp
49. Nhà báo Tống Văn Công, cựu Tổng Biên tập Báo Lao động, TP HCM
50. GS Nguyen Thanh Trang, Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam
51. Bùi Xuân Bách, giáo viên nghỉ hưu, Boston, Massachusetts, USA
52. Angelina Trang Huỳnh, Washington DC
53. Nguyễn Thị Ánh Tuyết (Tuyet Anh Jethwa), Hà Nội
54. Nhà báo tự do Lê Bá Diễm Chi (Song Chi), Oslo, Na Uy
55. Nguyễn Lan Chi, Nyon, Thụy Sĩ
56. TSKH Vũ Hải Long, nghỉ hưu, Q3, TP HCM
57. Phạm Đỗ Chí, Florida, Hoa Kỳ
58. Nguyễn Huy Vũ, Oslo, Na Uy
59. Phạm Anh Tuấn, kinh doanh, CH Sec
60. Nhà văn Phạm Viết Đào, Hà Nội
61. Trần Văn Huynh, hưu trí, Melbourne, Australia
62. Hà Dương Tuấn, chuyên gia CNTT, CH Pháp
63. Nguyễn Bá Tùng, Westminster, CA, USA
64. Kỹ sư Trần Ngọc Sơn, CH Pháp
65. Dược sĩ Nguyễn Thanh Hằng, CH Pháp
66. Kỹ sư tin học Phan Quốc Tuyên, Genève, Thụy Sĩ
67. Nguyễn Xuân Liên, hưu trí, Hà Nội
68. Trương Văn Vấn (T. Vấn), trang mạng Văn học T. Vấn & Bạn hữu
69. Hoa Nguyen, Sydney, Australia
70. Quang Ha, Sydney, Australia
71. Tú Quỳnh, nhà giáo, Hoa Kỳ
72. Mai Thái Lĩnh, nhà nghiên cứu độc lập, Đà Lạt
73. GS – TSKH Nguyễn Đông Yên, Hà Nội
74. Chuyên viên tư vấn tài chính Nguyễn Hồng Khoái, Tây Hồ, Hà Nội
75. Nguyễn Văn Đức, lao động tự do đã nghỉ, Nguyễn Kiệm, Gò Vấp, TP HCM
76. Luật gia, nhà báo Nguyễn Chính, Nha Trang
77. Nguyễn Thị Khánh Trâm, hưu trí, TP HCM
78. Lê Minh Hằng, hưu trí, Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội
79. Nguyễn Anh Ngọc, TP Hải Dương
80. Nhà văn, đạo diễn Đỗ Minh Tuấn, Hà Nội
81. GS Nguyễn Đình Cống, Hà Nội
82. Nguyễn Quang Vinh, cán bộ Bộ Quốc phòng, 109, Đội Cấn, Hà Nội
83. Nguyễn Việt, Q3, TP HCM
84. Nguyễn Ly, Q3, TP HCM
85. Nguyễn Vin, Q3, TP HCM
86. Phan Loan, Q3, TP HCM
87. Linh mục Lê Ngọc Thanh, Dòng Chúa Cứu thế
88. Kỹ sư xây dựng Lê Văn Oanh, Hà Nội
89. TS CNTT Lê Khánh Hùng, Hà Nội
90. Nguyễn Khánh Việt, cán bộ hưu trí, Hà Nội
91. Nguyễn Trần Hải, cựu sĩ quan HQNDVN, 39 Lê Đại Hành, Q. Hồng Bàng, TP Hải Phòng
92. Hoàng Công, Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam
93. Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, đồng Chủ tịch Hội Cựu tù nhân lương tâm, TP HCM
94. Đỗ Nam Hải, kinh doanh, Hải Phòng
95. Nguyễn Thị Minh Phương, giảng viên Đại học Massachusetts, Boston, Hoa Kỳ
96. Nhà báo Hồ Ngọc Nhuận, TP HCM
97. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức yêu nước TP HCM, Chủ nhiệm CLB Lê Hiếu Đằng, TP HCM
98. Tăng Thị Nga, cựu sinh viên Luật, tù chính trị trước 1975, TP HCM
99. MBA Huỳnh Kim Thanh Thảo, TP HCM
100. Kỹ sư cơ khí Nguyễn Văn Lịch, nghỉ hưu, Đống Đa, Hà Nội
101. Trương Bích Phương, nhân viên văn phòng, TP HCM
102. Trần Mạnh Thái, CHLB Đức
103. Hồ Văn Nhãn, giáo viên hưu trí, TP HCM
104. TS Trần Văn Bình, Phú Mỹ Hưng, Q7, TP HCM
105. Kỹ sư Hồ Sĩ Hải, hưu trí, Hà Nội
106. TS Lê Vinh Quốc, TP HCM
107. TS Mai Anh Tài, TP HCM

========================================

Đợt 2 (từ 17h ngày 16-9-2016 đến 17h ngày 17-9-2016)

108. GS Hoàng Tụy, Hà Nội
109. Trương Chí Tâm, cử nhân y khoa, TP HCM
110. Nguyễn Giang, cán bộ hưu trí
111. Kỹ sư Doãn Kiều Anh, TP HCM
112. Nhà báo Phương Dung, Hà Nội
113. Nguyễn Thái Minh, T8, P Quang Vinh, TP Thái Nguyên
114. Trần Thị Thảo, giáo viên hưu trí, P Bách Khoa, Q Hai Bà Trưng, Hà Nội
115. Trinity Hồng Thuận, California, USA
116. Nhà văn tự do Chu Sơn, TP HCM
117. Bác sĩ Nguyễn Thị Kim Thoa, TP HCM
118. Trịnh Thanh Hùng, TP HCM
119. Lê Phước Dạ Đăng, làm thơ, Sài Gòn
120. Nguyễn Thiện, tác giả chương trình “Dân ta biết sử ta”, TP HCM
121. Nhà báo Đặng Viết Trường, Hà Nội
122. Nguyễn Lương Thịnh, chuyên viên tư vấn
123. Nguyễn Thiết Thạch, hoạt động tự do, Sài Gòn
124. Lưu Hồng Thắng, 145 Elaine St. Morgan City, LA 70380 USA
125. Mai An Nguyễn Anh Tuấn, làm phim, viết báo, Hà Nội
126. Kỹ sư cơ khí Ngô Văn Tâm, Thái Bình
127. Kỹ sư Nguyễn Hữu Tuyến, hưu trí, 456/19, Cao Thắng, P121, Q10, Sài Gòn
128. Huỳnh Nhật Hải, hưu trí, Đà Lạt
129. Huỳnh Nhật Tấn, hưu trí, Đà Lạt
130. Trần Đình Thắng, cựu giảng viên, TP HCM
131. Huỳnh Thị Kim Liên, nội trợ, Sài Gòn
132. Hà Quang Vinh, hưu trí, Q5, Sài Gòn
133. Kỹ sư cơ khí Uông Đình Đức, 168/37, Nguyễn Cư Trinh, Q1, TP HCM
134. Nguyễn Thái Bình, giám đốc Cty TM&XD Tây Tiến
135. Lê Minh Trí, công nhân, Sài Gòn
136. Đặng Minh Sơn, hưu trí, Nha Trang
137. Nhà giáo Đoàn Văn Tiết, Sài Gòn
138. Đặng Minh Liên, nhà nghiên cứu, dịch thuật phim, hưu trí, Hà Nội
139. PGS – TS Tâm lý học Mạc Văn Trang
140. Nhà văn, dịch giả Nguyễn Ước, Toronto, Canada
141. Nguyễn Minh Nhựt, lập trình viên, 61/42 đường số 8, P Bình Hưng Hòa, Q Bình Tân, TP HCM
142. Trần Khang Thụy, nguyên GĐ Trung tâm NCƯD KH-KT Đại học KT TPHCM, nghỉ hưu, TP HCM
143. Nguyễn Hữu Tiến, 827 Vienna St, San Francisco, CA 92117 USA
144. Nguyễn Quang Vinh, Q Tân Phú, TP HCM
145. Loan Wade, y tá, Hoa Kỳ
146. Matt Wade, viên chức, Hoa Kỳ
147. Cuc Nguyen, hưu trí, Hoa Kỳ
148. Ninh Nguyen, hưu trí, Hoa Kỳ
149. Nguyễn Phương Chi, biên tập viên chính, Hà Nội
150. Trần Đình Nam, biên tập viên, Hà Nội
151. Nguyễn Đèn Cù, chủ trang trại ở Bình Thuận
152. Đỗ Đăng Giu, nguyên GĐ nghiên cứu CNRS, Đại học Paris – Sud, CH Pháp
153. Kỹ sư điện cơ Nguyễn Tâm, TP HCM
154. Kỹ sư nông nghiệp Tôn Nữ Ngọc Diệp, Hamburg, CHLB Đức
155. KTS Trần Viết Tuyên, nghỉ hưu, Hamburg, CHLB Đức
156. Linh mục Phan Văn Lợi, Huế
157. Ngô Thái Văn, Maryland, Hoa Kỳ
158. Lê Thân, cựu tù Côn Đảo trước 1975, nguyên TGĐ Cty River Side
159. Nguyễn Cường, kinh doanh, Praha, CH Sec
160. Quỳnh Dao, Hội viên Ân xá quốc tế, Úc
161. Đào Văn Tùng, hưu trí, Mỹ Tho, Tiền Giang
162. Nguyễn Đức Tường, Ottawa, Canada
163. PGS – TS Hà Thúc Huy, Sài Gòn
164. Nhà báo độc lập Chu Vĩnh Hải, Vũng Tàu
165. Trần Văn Khoản, nghề nghiệp tự do, Vũng Tàu
166. Nguyễn Quang Nhàn, cán bộ hưu trí, Đà Lạt
167. Nguyễn Trọng Thành, Tân Thới Hiệp, Q12, TP HCM
168. Nhà văn Đào Hiếu, TP HCM
169. Kỹ sư Bùi Viết Dũng, Sài Gòn
170. Trần Văn Terry, công nhân, Irvin, CA USA
171. Kỹ sư nuôi trồng thủy sản Nguyễn Ngọc Ánh, ấp Hòa Bình, Bình Đại, Bến Tre
172. Nguyễn Đức Phổ, nông dân, Đà Lạt
173. Nguyễn Văn Tài, thường dân, Bà Rịa – Vũng Tàu
174. Đào Minh Châu, Hà Nội
175. TS Nguyễn Văn Nghi, Hà Nội
176. Nhà văn Mai Tú Ân, Sài Gòn
177. Hoàng Thị Hà, hưu trí, Hà Nội
178. Kỹ sư Trần Hưng Thịnh, hưu trí, Bắc Linh Đàm, Đại Kim, Hoàng Mai, Hà Nội
179. Minh Nguyễn, công nhân, Hoa Kỳ
180. Huỳnh Văn Thắng, 704/51 Nguyễn Đình Chiểu, P1, Q3, TP HCM
181. Đỗ Như Ly, 327/46 Sư Vạn Hạnh, P9, Q10, Sài Gòn
182. Nguyễn Kha, Phúc Lai, Xuân Lai, Gia Bình, Bắc Ninh
183. Nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, Thủ Đức, Sài Gòn
184. PGS – TS Phí Mạnh Hồng, giảng viên ĐH, Hà Nội
185. Trần Hữu Phong, Ninh Thuận
186. ThS Phùng Hoài Ngọc, An Giang
187. Chuyên gia kinh tế Trần Đức Nguyên, Hà Nội
188. Trần Phong Hữu, cựu chiến binh, TP HCM
189. Nhà giáo Phan Thành Khương, Ninh Thuận
190. Kỹ sư Nguyễn Trọng Khôi, cựu chiến binh, hưu trí, 2403, chung cư 93 Lò Đúc, Q Hai Bà Trưng, Hà Nội
191. Lê Xuân Ban (FB Ban Le), giám định viên, 290 Lý Thái Tổ, Q3, TP HCM
192. PGS – TS Phạm Đức Nguyên, Hà Nội
193. Hồ Quang Huy, CTy CP đường sắt Phú Khánh, tổ 15, P Ngọc Hiệp, Nha Trang
194. Lê Xuân Thiêm, SXKD, TP HCM
195. Ngô Ngọc Hà, hưu trí, Thủ Dầu Một, Bình Dương
196. Kỹ sư hóa học Nguyễn Thanh Loan, Sài Gòn
197. Bùi Thu, Sài Gòn
198. Nguyễn Hữu Tế, 163 Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao, Q1, TP HCM
199. Kỹ sư kinh tế Tô Xuân Thành, Vinh, Nghệ An
200. Đặng Phước, Giáo viên, Dak Lak
201. TS Lê Văn Tâm, Matsudo, Japan
202. TS Trần Tuấn Tú, giảng viên Khoa Môi trường ĐH Khoa học tự nhiên TP HCM
203. Trần Long, Nhóm Vietlist.us
204. Linh mục Nguyễn Văn Lý, Huế
205. Kỹ sư Đỗ Nam Hải, Khối Tự do Dân chủ 8406, Sài Gòn
206. TS hóa học Hà Minh Hiển, Ba Lan
207. Kỹ sư Đào Văn Nam, Phó TGĐ Cty CP Tư vấn XD thủy lợi 2, TP HCM
208. Đỗ Tuyết Khanh, Nyon, Thụy Sĩ
209. Phạm Văn Nam, cựu chiến binh, Hà Nội
210. Trần Kim Thanh, hưu trí, Hà Nội
211. Huynh Trung Thanh, hưu trí, Australia
212. Nguyễn Thị Trâm, cán bộ hưu trí, Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
213. Kỹ sư xây dựng Nguyễn Quốc Bình, hưu trí, 126 Lý Tử Trọng, Q1, TP HCM
214. TS Lê Đức Quang, giảng viên ĐH, Huế
215. Phạm Gia Khánh, 96 tuổi, cán bộ hưu trí, 371/28 Hai Bà Trưng, P8, Q3, TP HCM
216. Nguyễn Thanh Quan, nội trợ, 18/23A Trần Quang Diệu, P14, Q3, Sài Gòn
217. Lê Văn Tuynh, Phan Thiết, Bình Thuận
218. Kỹ sư hóa học Nguyễn Đắc Thắng, Genève, Thụy Sĩ
219. GS Lâm Quang Thiệp, Hà Nội
220. Nguyễn Chí Trung, Đống Đa, TP Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
221. Phạm Hữu Uyển, IT, U Jezera 2035, Praha, CH Sec
222. Lê Phước Nhất Sang, Sài Gòn
223. Chu Văn Keng, Berlin, CHLB Đức
224. Đinh Hùng, lao động tự do, Sài Gòn
225. TS Văn Thị Hạnh, hưu trí, Thủ Đức, TP HCM
226. Văn Phú Mai, cựu GV, Quảng Nam
227. KTS Trần Thanh Vân, Hà Nội
228. Nguyễn Quang Hưng, giám đốc chương trình, Q2, TP HCM
229. Đại tá Thái Quang Sa, hưu trí, Hà Nội
230. Vũ Minh Thoa, hưu trí, Nha Trang

==============================================

Đợt 3, từ 17h ngày 17-9-2016

231. Nhà báo tự do Bùi Tín, Paris, CH Pháp
232. GS – TSKH Nguyễn Đức Nhuận, cựu GĐ Trung tâm SEDET (Uninversité Paris 7 / CNRS), hưu trí, Paris
233. Linh mục Đặng Hữu Nam, Giáo phận Vinh, Giáo xứ Phú Yên, An Hòa, Quỳnh Lưu, Nghệ An
234. Nhà văn Võ Thị Hảo, CHLB Đức
235. Kỹ sư Doãn Mạnh Dũng, Phó CT kiêm Tổng TK Hội KHKT và kinh tế biển TP HCM, 380B Nam Kỳ khởi nghĩa, P8, Q3, TP HCM
236. PGS – TS Hồ Uy Liêm, nguyên Quyền Chủ tịch Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam, Hà Nội
237. GS Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, TP HCM
238. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, 3/7 Nguyễn Công Trứ, Huế
239. Linh mục Phêrô Trần Văn Thành, quản xứ Tam Tòa, Đồng Hới, Quảng Bình, Giáo phận Vinh
240. Nhà văn Hoàng Minh Tường, Hà Nội
241. Nhà thơ Thường Quán, Melbourne, Australia
242. Bác sĩ Nguyễn Trọng Hoàng, Paris, CH Pháp
243. Nhà thơ Inrasara, nghiên cứu văn hóa Chăm, Sài Gòn
244. Cao Lập, Hoa Kỳ
245. GS Trần Ngọc Vương, ĐHQG Hà Nội, Hà Nội
246. Nhà văn Hà Văn Thùy, TP HCM
247. Họa sĩ Mỹ Hạnh Hélène Nguyễn, Bruxelles, Bỉ
248. PGS – TS Trần Thị Băng Thanh, Hà Nội
249. Nhà thơ Ý Nhi, TP HCM
250. Dịch giả Ngụy Hữu Tâm, 28 Nguyễn Huy Tự, Hà Nội
251. TS sinh hóa Hoàng Văn Khẩn, Genève, Thụy Sĩ
252. Nguyễn Mậu Cường, cựu giảng viên ĐHBK Hà Nội & ĐH Agostinho Neto Angola
253. Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, Canada
254. KTS Tạ Quang Hòa, Hà Nội
255. TS Hoàng Quý Thân, Hà Nội
256. TS Nguyễn Hữu Thái, CHLB Đức
257. Nguyen Thinh-Le, giảng viên Humboldt University Berlin
258. Nhà thơ Phạm Ngọc Thái, 194 Quán Thánh, Hà Nội
259. PGS Trần Hải Hạc, cựu giảng viên ĐH Paris 13, CH Pháp
260. PGS – TS Bửu Nam, Huế
261. Dr. sc. Agr. Đỗ Ngọc Quỳnh, 227/9A Điện Biên Phủ, P15, Bình Thạnh, TP HCM
262. Nhà văn Lê Hiền Phương, TP HCM
263. Nhà thơ Anh Chi, Hà Nội
264. TS sinh học Phạm Hoài Đức, hưu trí, Hà Nội
265. Kỹ sư – tư vấn Đặng Đình Cung, CH Pháp
266. Chu Trong Thu, cựu giảng viên ĐH, C3/40/3 Phạm Hùng, Bình Hưng, Bình Chánh, Sài Gòn
267. Kỹ sư Nguyễn Trọng Việt, hưu trí, Hà Nội
268. ThS Đoàn Minh Châu, Sài Gòn
269. Phạm Khiêm Ích, nghiên cứu khoa học, số 8, ngõ 118, Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội
270. Kỹ sư xây dựng Hồ Sĩ Lâm, Vinh, Nghệ An
271. Lê Mạnh Năm, nghiên cứu viên, 47 ngõ 622 Minh Khai, Hà Nội
272. Mai Toan Hao, dịch thuật, Q1, TP HCM
273. Kỹ sư điện Đặng Kim Thoa, Hà Nội
274. Kỹ sư luyện kim Nguyễn Quang Anh, Đà Nẵng
275. Kỹ sư Dương Anh Tuấn, Tri Tôn, An Giang
276. Nguyễn Hữu Tế, 163 Đinh Tiên Hoàng, P Đa Kao, Q1, TP HCM
277. Kỹ sư Nguyễn Đức Thủ, Sài Gòn
278. Vũ Quý Khang, Tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ
279. Quản Mỹ Lan, CH Pháp
280. Nguyễn Vũ, kinh doanh tự do, Q3, TP HCM
281. Lê Đại Quang, Montreal, Canada
282. Lê Quang Huy, Sài Gòn
283. Nguyễn Đức Nhân, Bình Thạnh, TP HCM
284. Phan Minh Ý, Nha Trang
285. Mai Lê, hưu trí, 37 Sant James Ave Springvale VIC 3171
286. Võ Thị Thảo, nội trợ, Bình Thạnh, TP HCM
287. Nguyễn Ngọc Diệp, cán bộ hưu trí, Q Cầu Giấy, Hà Nội
288. Mai Văn Rê, Q Tân Phú, Sài Gòn
289. Hồ Văn Tiến, Genève, Thụy Sĩ
290. Hoàng Đức Thuận, Hà Nội
291. Bùi Tuấn Dương, lao động tự do, Sài Gòn
292. Nguyễn Thị Hoa, công nhân, Hoa Kỳ
293. Trần Xuân Huyền, Glasgow Scotland UK
294. Nguyễn Thị Bích Ngà, Sài Gòn
295. Nguyễn Lưu, Tuyên Quang
296. Nguyễn Văn Phương, Lai Châu
297. Huỳnh Liên, TP HCM
298. Nguyễn Ngọc Thạch, hưu trí, TP HCM
299. Đỗ Thị Ngọc Nguyên, dân oan, P Xuân Trung, Long Khánh, Đồng Nai
300. Đinh Lương Cường, Berlin, CHLB Đức
301. Vũ Thị Thanh Hà, CHLB Đức
302. Đỗ Hoa, thương binh, lương y, Thượng Nông, Tam Nông, Phú Thọ
303. Phạm Hữu Trí, doanh nhân, Melbourne, Australia
304. Võ Hồng Ly, Sài Gòn
305. Lê Tuyết Nga, cán bộ hưu trí, 371/28 Hai Bà Trưng, P8, Q3, TP HCM
306. Nguyen Văn Tro, TP HCM
307. Dương Quốc Huy, cựu chiến binh, Hà Nội
308. Trần Thiên Hương, CHLB Đức
309. Phan Cung, New York, USA
310. Nhà giáo Dương Hội, Sài Gòn
311. Đặng Thị Phương Loan, giáo viên nghỉ hưu, Tô Hiến Thành, P15, Q10, TP HCM
312. Trần Thị Thanh Tâm, hưu trí, Warszawa Ba Lan
313. Lê Thanh Hiệp, Q1, TP HCM
314. TS Vũ Thế Cường, Muenchen, CHLB Đức
315. Nguyễn Thị Hiền, Muenchen, CHLB Đức
316. Hoàng Đức Phong, Muenchen, CHLB Đức
317. Ngô Sách Thân, Bắc Giang
318. Trần Hữu Quang, nghiên cứu xã hội học, Sài Gòn
319. Tô Oanh, giáo viên nghỉ hưu, 6 ngõ 75 Trần Đăng Tuyển, Bắc Giang
320. Hoàng Thị Như Hoa, cựu chiến binh hưu trí, Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội
321. Kỹ sư xây dựng Nguyễn Hữu Trần Khương, Q3, Sài Gòn
322. Dược sĩ Lê Kim Hoàng, Texas, Hoa Kỳ
323. Lê Vân Xuân, kinh doanh, 62/30 Hà Huy Tập, Đà Nẵng
324. Cử nhân Nguyễn Huy Tám, nguyên chủ tịch HĐQT kiêm TG Đ các cty Shell Việt Nam
325. Nguyễn Thị Thúy, nội trợ, Q12, TP HCM
326. PGS – TS Bùi Văn Bội, Hà Nội
327. Đỗ Hữu Thạo, cựu chiến binh, cựu giáo chức, Thanh Hóa

=======================================

(Tiếp tục cập nhật. Quý cá nhân, tổ chức tán thành Tuyên bố, xin thư về vvtao.nb@gmail.com ghi danh tính, nghề nghiệp, nơi cư trú)

Category: Thông báo  | Tags:  | Comments off
September 24th, 2016 | Author:

PHUNU1

MỘT PHẢN ỨNG TIÊU BIỂU

Xinh Truong An

Nếu trường con tôi học đăng ký “thí điểm” tiếng Nga và tiếng Trung, tôi sẽ cho con chuyển trường.
Nếu các trường học ở Vn đều dạy “thí điểm” tiếng Nga và tiếng Trung, tôi sẽ cho con nghỉ học hoặc du học!

Tôi không kỳ thị thứ tiếng nào cả. Nhưng tôi không chấp nhận con tôi trở thành vật thí nghiệm cho những ngu dốt và bảo thủ của người khác.
Từ những năm 50-60 của thế kỷ trước ở miền Nam Việt Nam, tiếng Pháp và Tiếng Anh – hai thứ tiếng phổ biến nhất – đã được dạy trong các trường học như là ngôn ngữ chính. Ở bậc đại học rất nhiều trường 100% giáo trình là tiếng Anh.
Tài liệu dạy học cũng là từ Pháp, Mỹ.. Nơi người ta đã nghiên cứu chán chê rồi, sự ưu việt đã được chứng minh thực tế rồi, chỉ việc áp dụng. Thì bỏ.

Uh thì mông muội, rồi chiến tranh, rồi internet chưa có thôi thì những chính sách sai lầm sau đó đã qua chúng ta không nói lại.
Nhưng giờ sao? Tấm gương Singapore, Hongkong, Phillipin, Đài Loan đó? Thông tin đầy ra đó, ngân sách đi công tác nước ngoài để thực tế tình hình mỗi năm 1 tăng đó, dẫn tới kết quả gì?
Người ta bảo CÓ MÙ CŨNG PHẢI THẤY MỜ MỜ. CÓ ĐIẾC CŨNG PHẢI NGHE LÃNG ĐÃNG.
Dân ngu như tôi đây còn thấy.
Các vị rối loạn nhiễm sắc thể 21 hết cả rồi hay sao???

Việt Nam sẵn sàng copy thế giới từ cái ốc vít, đến bộ quần áo, đến cái nhà, từ kiến trúc nội thất, tiêu dùng, đến khoa học kỹ thuật, không cái gì là không đi ăn cắp… Có nghĩ được ra cái gì? Nhưng lại thích TỰ NGHĨ RA CÁCH DẠY cơ. Thế mới éo le.

Có ý kiến cho rằng, hơn 1 tỷ người trên thế giới nói tiếng Trung (tính theo dân số), vì vậy tiếng Trung rất quan trọng.
Tôi không biết họ ngu thật hay giả vờ ngu – khi hơn 1 tỷ người nói tiếng Trung đó thực chất là hơn 100 thứ tiếng địa phương khác nhau, có 12 loại tiếng Trung được sử dụng nhiều nhất và chính họ cũng … không hiểu nhau. Tiếng Quan Thoại được coi là thứ tiếng phổ thông chỉ chiếm khoảng 1/5 số người sử dụng, thậm chí cũng bị kỳ thị khi nói ở Quảng Đông – Quảng Châu. Ai đi TQ nhiều sẽ hiểu sự phức tạp của tiếng Trung Quốc.
Mà giả sử hơn 1 tỷ người nói tiếng Trung đó có nói cùng 1 thứ tiếng sẽ được dạy cho học sinh Việt Nam. Thì bao nhiêu người trong số hơn 1 tỷ người đó là giáo sư, bác sĩ, doanh nhân, chuyên gia trong các lĩnh vực?
Ngược lại, gần như tất cả các vị tôi kể trên ở khắp phần còn lại của thế giới đều có thể nói được tiếng Anh!

Con tôi không cần thiết phải học cái thứ tiếng chỉ vì lý do nhiều người biết.
Nó phải được học cái thứ tiếng mà nhiều người giỏi trên khắp thế giới này có thể nói thành thạo.
Thay vì chỉ có đối tác người Hoa
Con tôi có thể có đối tác trên khắp thế giới.
Nó có quyền lựa chọn.
Bản thân những doanh nhân người Hoa đang làm việc ở khắp thế giới cũng đã và đang phải học tiếng Anh.
Hội chợ canton fair mỗi năm 2 lần ở Quảng Châu năm nào cũng thiếu nhân viên có khả năng nói tiếng Anh.
Sinh viên ở đó buộc phải đi học tiếng Anh bên ngoài nếu muốn kiếm được việc làm thêm dễ dàng dù không được chính phủ hoan nghênh.

Chính phủ TQ không hoan nghênh việc học tiếng Anh nhưng đi họp ở éo đâu chính phủ cũng phải mang theo mấy thằng Tàu 100% giỏi tiếng Anh để phiên dịch.
Và trong lúc chờ phiên dịch, chính phủ gật đầu xã giao như những con lật đật và mặt đần ra như những con ngỗng bị táo bón!

Hồi lớp 6, tôi bị bắt buộc phải học tiếng Nga mặc dù trước đó đã mất 2 năm học tiếng Anh rồi.
Các cô giáo trường tôi cấp tốc đi học tiếng Nga chừng 6 tháng đủ để dạy chúng tôi ét tơ Vô Va, ét tơ ma sa, xờ bát xờ pu che gì gì đó và đương nhiên, họ phát âm sai bét. Ơn Đảng ơn Chính Phủ.
Lên lớp 7, yêu lại từ đầu hay còn gọi là lau lại đầu từ, chúng tôi lại học tiếng Anh.
1 năm trong cuộc đời của 1 con người rất quý giá, vài lần thí nghiệm chuột bạch đã biến thành chuột cống tự bao giờ. Đầu óc những đứa trẻ như tờ giấy trắng viết rồi xoá rồi tẩy vài lần thành tờ giấy nháp ngay.

Bây giờ. Sẽ có bao nhiêu cô giáo cấp tốc đi học tiếng Trung và tiếng Nga vài tháng, rồi dạy lại các nạn nhân của bộ giáo dục kiến thức KÌ DIỆU của họ?
Con tôi lại học mấy năm tiếng Trung và tiếng Nga xong bộ lại thích mở ra lau lại đầu từ?

Tôi và nhiều bà mẹ khác, cho con đến trường để chúng có bạn chơi, có môi trường, có tập thể, có cơ hội tự xử lý các mối quan hệ xung quanh cho quen dần.. Chứ không phải mục đích chính để học kiến thức mà các vị truyền đạt. Xin ngừng ảo tưởng! Thứ kiến thức lỗi thời, bảo thủ, sai lệch và nhồi nhét đó, chúng tôi không hoan nghênh!
Nếu nghi ngờ. Xin mời các vị tổ chức họp với tôi, chúng ta thảo luận lại về sách lịch sử, về môn giáo dục công dân, về thuyết tiến hoá của Darwin, về chủ nghĩa Marx Lenin, về văn học và mỹ học ok?

Chúng tôi hiểu biết hết rồi.
Ngừng coi thường chúng tôi!
Ngừng mang con cái chúng tôi ra làm thí nghiệm.
Ngừng ép những người giàu và người hiểu biết phải mang hết con ra nước ngoài, để ở lại chỉ toàn là người nghèo và người cam chịu.
Ngừng đối xử với cái đất nước đẹp đẽ này một cách man rợ nhân danh lòng yêu nước và xây dựng đất nước theo một cơ sở lý luận được viết ra bởi 1 người mắc chứng bệnh hoang tưởng là Karl Marx.

http://m.baomoi.com/tu-nam-toi-se-thi-diem-c…/c/20359415.epi

Category: Bài viết trích từ báo chí, Giáo dục  | Tags:  | Comments off
September 24th, 2016 | Author:

bm2

THÔNG BÁO
+++++++++++
Trao tặng phòng học máy tính cho các em học sinh Quảng Nam
___________________________________________________

Nhân dịp năm học mới 2016-2017, Quỹ Tâm lòng vàng báo Lao Động cùng Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng đại diện cho Quỹ học bổng Hưng Việt sẽ tổ chức trao tặng 25 máy tính, tổng trị giá 100 triệu đồng cho Trường Tiểu học Nguyễn Huệ, xã Điện Thắng Bắc, huyện Điện Bàn, Quảng Nam.
Toàn bộ số tiền tài trợ thu được do sự ủng hộ từ GS Nguyễn Đăng Hưng cùng Nhóm Chia sẻ Tình thương (Share Your Love) thực hiện các đêm nhạc ra mắt album “Đường đời” tại 3 thành phố TPHCM, Đà Nẵng và Hà Nội từ cuối năm 2015 đến đầu năm 2016.
Đây cũng là tấm lòng của người con của Bồ Mưng (Điện Bàn, Quảng Nam) mong muốn góp một phần nhỏ cho quê hương và tạo điều kiện để thầy cô và các em học sinh học tập hiệu quả. Theo đó các em sẽ cập nhập thông tin, làm quen với công nghệ, sử dụng máy tính…rút ngắn khoảng cách từ thành thị đến nông thôn và các em sẽ xây dựng được những đức tính nhân văn, yêu cha mẹ, yêu gia đình, yêu xóm làng và yêu đất nước.

Phòng máy sẽ được chính thức khánh thành và đưa vào hoạt động:
_________________________________________________________________________
Thời điểm : 9 h 30 ngày 26/9/2016
Địa điểm: Trường Tiểu học Nguyễn Huệ, xã Điện Thắng Bắc, huyện Điện Bàn, Quảng Nam.
_________________________________________________________________________

bm bm3

Category: Giáo dục, Thông báo  | Tags:  | Comments off
September 16th, 2016 | Author:

tds-4

CÓ PHẢI CÁC BÊN ĐỀU THUA?

Trần Đình Sử, 11.09.2016
***************

Trong chuyến thăm Singapore gần dây, chủ tịch nước Trần Đại Quang có nói đại ý, nếu gây xung đột vũ trang ở Biển Đông thì các bên đều thua, coi như một lời cảnh báo đối với ai muốn đe doạ vũ lực đối với lân bang.

Thưa chủ tịch nước, nhưng theo thiển ý của nhiều người, trong thời đại ngày nay Tàu sẽ không dám dùng quân sự để xâm phạm Việt Nam. Nếu chúng diễu võ dương oại ngoài biển Đông là chúng làm ta mất cảnh giác việc chúng đang tiến hành cuộc xâm lược nước ta theo chiến lược tằm ăn rỗi. Nếu chịu nhìn vào thực tế thì thấy: Chúng gậm nhấm biên giới ta, chúng mua rừng mua biển của ta, chúng mua chuộc cán bộ các cấp của ta, chúng chiếm lính hầu hết công nghiệp của ta, chúng phá hoại nền nông nghiệp ta, chúng huỷ hoại và mua rẻ tài nguyên của ta, chúng thâm nhập vào mọi ngõ ngách của đất nước ta, chúng bóp chết đồng bằng sông Cữu Long của ta, chúng đầu độc môi trường sinh thái của ta, chúng còn muốn di dân , lập phố Tàu , lấy vợ để con… đến một lúc nào đó, cả nước bị chúng gậm nhấm hết, toàn thân bj tê liệt, chân tay bị trói, không còn sức đề kháng, là bị chúng thâu tóm.

Tôi đề nghị ông và cả ông Trọng hãy nhìn vào thực tế cuộc xâm lược này, một cuộc xâm lược ngọt ngào, mang đậm tính chất anh em, với lá cờ 16 chữ vàng và coi chừng có khi nhiều cán bộ các cấp của ta vô tình hay hữu ý tiếp tay cho bọn Tàu.

Xin hỏi các ông có nhìn thấy cuộc xâm lược đó không? đã có đối sách nào đối với chiến lược này? Xin hỏi các ông đã truyền vào nhân dân ý thức phản khắng xâm lược chưa? Hay là tuyên truyền để cho nhân dân mất cảnh giác thêm?

Trong thời đại hội nhập, nhiều bên, mà ta lại chỉ ngầm cho Tàu trúng thầu hầu hết dự án lớn thì hiểm hoạ vô cùng to lớn.

Tôi xin nói, nếu ta không có đối sách thì ta sẽ thua, kẻ đich sẽ thắng. Xin đừng vội nói các bên đều thua.
Nguồn:
https://xuandienhannom.blogspot.co.uk/…/tran-inh-su-co-phai…

September 16th, 2016 | Author:

xhds2

HƠN MỘT TRĂM NHÂN SỸ TRÍ THỨC VÀ CÁC TỔ CHỨC DÂN SỰ PHẢN ĐỐI DỰ ÁN THÉP HOA SEN, NINH THUẬN.

______________________________________________

Tổ chức, cá nhân tán thành tuyên bố này, xin email về hộp thư vvtao.nb@gmail.com). Trân trọng cảm ơn!
______________________________________________

TUYÊN BỐ: CỰC LỰC PHẢN ĐỐI DỰ ÁN PHIÊU LƯU NGUY HIỂM THÉP HOA SEN Ở NINH THUẬN

+++++++++++++++++++

Hà Nội, ngày 16-9-2016

Chúng tôi, các tổ chức, cá nhân đứng tên dưới đây, tuyên bố cực lực phản đối dự án thép khuất tất, cực kỳ phiêu lưu, nguy hiểm đối với đời sống kinh tế xã hội đất nước của Tập đoàn Hoa Sen (Hoa Sen Group – HSG, còn gọi là Tôn Hoa Sen) đang toan tính triển khai ở khu vực Cà Ná, tỉnh Ninh Thuận, bởi những lẽ sau:

1. Đại thảm họa môi trường khủng khiếp do nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh đã cho thấy rất rõ ràng, vì lợi ích nhóm bất chính, chủ dự án và giới chức quản lý hữu trách Việt Nam bất chấp tính mạng, sức khỏe và lợi ích chính đáng của nhân dân. Hậu quả Formosa gây ra là cực kỳ tệ hại, khó lường hết mức độ và thời gian di hại. Khả năng chuyên môn, cơ sở vật chất kỹ thuật và trách nhiệm của các cơ quan, cán bộ quản lý, bảo vệ môi trường của Việt Nam hiện nay quá yếu kém.
2. Trong bối cảnh các quốc gia tiên tiến và minh bạch siết chặt quản lý môi trường, thận trọng, khắt khe với những dự án công nghiệp tiềm ẩn cao ô nhiễm, các chủ đầu tư luôn tìm mọi cách đưa những dự án này vào các quốc gia chưa phát triển, hệ thống pháp luật môi trường yếu kém, giới chức tham nhũng nặng nề, trong đó có Việt Nam.
3. Dự án thép 16 triệu tấn thép/năm của HSG ở Ninh Thuận tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn, khuất tất, hiểm họa rất lớn về kinh tế – xã hội:
– Ninh Thuận vốn vô cùng khan hiếm nguồn nước cho nông nghiệp, thậm chí cho sinh hoạt. Nhà máy thép ngốn một lượng nước khổng lồ. HSG tuyên bố sẽ không thải một giọt nước ra biển, nhưng lãnh đạo Ninh Thuận lại cam kết cung ứng đủ cho nhà máy thép 250.000 – 300.000 m3/1 ngày đêm (?). Vậy nước thải đi đâu?
– Ngoài nước thải độc hại, nhà máy thép còn thải một lượng khổng lồ chất thải rắn, tro xỉ, khói bụi độc hại đối với sức khỏe con người và nông nghiệp.
– Trong khi sản lượng thép trên thế giới nhiều năm qua và dự báo sẽ còn cung vượt xa cầu, thép giá rẻ Trung Quốc (có phần nhờ yếu tố lỏng lẻo trong quản lý chất thải) đang lũng đoạn thị trường, nếu bị buộc xử lý chất thải đạt chuẩn, liệu thép HSG có khả năng cạnh tranh? Phải chăng đây chỉ là điểm trung chuyển cho thép Trung Quốc, núp bóng xuất xứ Việt Nam, tuồn ra thế giới, tránh hàng rào thương mại?
– HSG huênh hoang tuyên bố, nếu gây ô nhiễm môi trường, sẽ giao tài sản cho nhà nước. Nguồn vốn chủ sở hữu của HSG hiện chỉ có khoảng 2.500 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư lên tới 230.000 tỷ đồng (10,6 tỷ USD), còn lại phải vay, không lẽ HSG trao khoản nợ khổng lồ cho ngân sách nhà nước? Tiền nào đổi được tính mạng, sức khỏe của nhân dân, thiệt hại to lớn của các ngành kinh tế khác?
– Ai cũng biết công nghệ sản xuất thép của Trung Quốc lạc hậu, tiềm ẩn lớn rủi ro môi trường. HSG công khai tuyên bố nếu mua công nghệ sản xuất thép Âu, Mỹ thì không có lời, chủ tâm mua công nghệ Trung Quốc. HSG cũng đã có văn bản xin phép Ninh Thuận cho 5 chuyên gia Trung Quốc vào khảo sát.
– Tại Đại hội cổ đông bất thường HSG ngày 6-9-2016, Chủ tịch HSG Lê Phước Vũ trắng trợn tuyên bố: “Một quý làm thép lời tới 2.000 tỷ đồng, ngu gì không làm?”. Rõ ràng, HSG chỉ chăm chăm lợi nhuận của doanh nghiệp, bất chấp nguy cơ khủng khiếp đối với tính mạng, sức khỏe, lợi ích nhân dân cũng như trật tự trị an xã hội.
4. Tại sao Bộ Công Thương lại sốt sắng đến bất thường (bổ sung hỏa tốc vào quy hoạch trong 4 ngày) ưu ái dự án thép HSG ngay thời điểm di họa Formosa đang nóng bỏng? Tại sao Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh liên tục xuất hiện tại các sự kiện, dù nhỏ nhoi, của HSG? Quan hệ gia tộc anh em cọc chèo giữa ông Trần Tuấn Anh với ông Lê Phước Vũ có phải là nguyên nhân?
5. Động cơ và căn cứ pháp luật nào để Phó trưởng Ban Tuyên giáo trung ương Phạm Văn Linh trắng trợn, lố bịch toan tính bịt miệng báo chí nhà nước (13-9-2016): “dừng phản biện, đưa tin về dự án thép của Tôn Hoa Sen”?
6. Rất nhiều chuyên gia, nhà quản lý có uy tín và dư luận cả nước đã và đang lên tiếng phản biện, quan ngại, phản đối dự án hết sức nguy hiểm này của HSG.
7. Lãnh đạo Ninh Thuận nhắm mắt ủng hộ dự án, nhưng nếu thảm họa môi trường xảy ra, họ có đảm bảo tính mạng, sức khỏe của người dân Ninh Thuận? Có ngăn nổi thảm họa tác động đến cả nước?

Vì những lẽ trên, chúng tôi kiên quyết yêu cầu Chính phủ, các bộ ngành trung ương hữu quan, Ban Bí thư, Bộ Chính trị ĐCSVN, Quốc hội thực thi nghiêm túc bổn phận, trách nhiệm của mình với nhân dân và đất nước trước nguy cơ một Formosa 2 tại Ninh Thuận, dứt khoát không được phép để xảy ra sự đã rồi như Formosa Hà Tĩnh.
Chúng tôi cũng kêu gọi nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, bằng mọi phương cách, cùng chung sức cương quyết phản đối dự án hết sức nguy hiểm này.

DANH SÁCH TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KÝ TUYÊN BỐ (Đợt 1)

I. Tổ chức:

1. Diễn đàn Xã hội dân sự, TS Nguyễn Quang A đại diện
2. Ban vận động Văn đoàn độc lập, Nhà văn Nguyên Ngọc đại diện
3. Hội Nhà báo độc lập Việt Nam, TS Phạm Chí Dũng – Chủ tịch Hội, đại diện
4. Diễn đàn Bauxite Việt nam, GS Phạm Xuân Yêm và GS Huệ Chi đại diện
5. Voice of Vietnamese Americans (Hội Tiếng nói người Mỹ gốc Việt), Genie Nguyễn Thị Ngọc Giao, Chủ tịch Hội đại diện
6. Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, Nguyễn Bá Tùng đại diện
7. Sài Gòn Báo, Linh mục Lê Ngọc Thanh đại diện
8. Hội Cựu tù nhân lương tâm, BS Nguyễn Đan Quế và Linh mục Phan Văn Lợi đại diện

II. Cá nhân:

1. Nhà văn Nguyên Ngọc, Quảng Nam
2. GS Lê Xuân Khoa, Hoa Kỳ
3. TS sinh học Hà Sĩ Phu, Đà Lạt
4. TS Nguyễn Quang A, Hà Nội
5. GS Nguyễn Đăng Hưng, GS Danh dự Đại học Liège (Bỉ), TP HCM
6. Nhà báo Võ Văn Tạo, Nha Trang
7. Linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn G.B. Huỳnh Công Minh, Sài Gòn
8. Nhà thơ Nguyễn Duy, TP HCM
9. Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, Hà Nội
10. Đạo diễn, nghệ sĩ Nguyễn Thị Kim Chi, Hà Nội
11. Vũ Linh, cựu giảng viên ĐH Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội
12. TS Chu Hảo, Đà Nẵng
13. Nhà thơ Bùi Minh Quốc, PCT Hội Nhà báo độc lập, Đà Lạt
14. Nhà báo Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo độc lập, TP HCM
15. Nhà văn tự do Tiêu Dao Bảo Cự, Đà Lạt
16. Nhà thơ Hoàng Hưng, Sài Gòn
17. Nhà báo Trần Tiến Đức, Hà Nội
18. Đại tá Nguyễn Đăng Quang, nguyên cán bộ Bộ Công an, Hà Nội
19. TS Phạm Gia Minh, TP HCM
20. TS Hán – Nôm Nguyễn Xuân Diện, Hà Nội
21. Dịch giả Phạm Nguyên Trường (Phạm Duy Hiển), Vũng Tàu
22. Nhà thơ Bui Hien, Canada
23. Kỹ sư, nhà báo tự do JB Nguyễn Hữu Vinh, Hà Nội
24. Kỹ sư Mai Đậu, hưu trí, Hà Nội
25. Nhà báo tự do Ngô Kim Hoa (Sương Quỳnh), Sài Gòn
26. Nghệ sĩ Lại Thị Ánh Hồng, Sài Gòn
27. Nhà thơ Phan Đắc Lữ, CLB Lê Hiếu Đằng, TP HCM
28. Nhà văn Vũ Ngọc Tiến, Hà Nội
29. Trần Minh Thảo, viết văn, Bảo Lộc, Lâm Đồng
30. Hồ Phú Bông, hưu trí, Hoa Kỳ
31. GS Phạm Xuân Yêm, Hà Nội
32. GS Nguyễn Huệ Chi, Hà Nội
33. TS Đặng Thị Hảo, Hà Nội
34. Nhà báo Kha Lương Ngãi, cựu Phó TBT Báo SGGP, TP HCM
35. Nhà văn Nguyễn Nguyên Bình, Hà Nội
36. GS Nguyễn Thế Hùng, PCT Hội Cơ học thủy – khí Việt Nam
37. PGS – TS Hoàng Dũng, TP HCM
38. Nhà văn Phạm Đình Trọng, Sài Gòn
39. Linh mục Đinh Hữu Thoại, Dòng Chúa Cứu thế, Giáo xứ Tiên Phước, Quảng Nam
40. TS Nguyễn Sĩ Phương, Thời báo Việt – Đức, Đức
41. Nhà văn Phan Tấn Hải, Hoa Kỳ
42. Nguyễn Thanh Tâm, Oregon, USA
43. Đạo diễn Trần Văn Thủy, Hà Nội
44. Phan Thị Hoàng Oanh, Giảng viên đại học, TP HCM
45. TS – BS Đinh Đức Long, Sài Gòn
46. Genie Nguyễn Thị Ngọc Giao, Chủ tịch Hội Voice of Vietnamese Americans, Hoa Kỳ
47. Hòa thượng Thích Không Tánh, Trụ trì Chùa Liên Trì, Sài Gòn
48. André Menras Hồ Cương Quyết, nhà giáo, Pháp
49. Nhà báo Tống Văn Công, cựu TBT Báo Lao động, TP HCM
50. GS Nguyen Thanh Trang, Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam
51. Bùi Xuân Bách, Giaso viên nghỉ hưu, Boston, Massachusetts, USA
52. Angelina Trang Huỳnh, Washington DC
53. Nguyễn Thị Ánh Tuyết (Tuyet Jethwa), Hà Nội
54. Nhà báo tự do Lê Bá Diễm Chi (Song Chi), Oslo, Na Uy
55. Nguyễn Lan Chi, Nyon, Thụy Sĩ
56. TSKH Vũ Hải Long, nghỉ hưu, Q3, TP HCM
57. Phạm Đỗ Chí, Florida, Hoa Kỳ
58. Nguyễn Huy Vũ, Oslo, Na Uy
59. Phạm Anh Tuấn, kinh doanh, CH Sec
60. Nhà văn Phạm Viết Đào, Hà Nội
61. Trần Văn Huynh, hưu trí, Melbourne, Australia
62. Hà Dương Tuấn, Chuyên gia CNTT, Pháp
63. Nguyễn Bá Tùng, Westminster, CA, USA
64. Kỹ sư Trần Ngọc Sơn, Pháp
65. Dược sĩ Nguyễn Thanh Hằng, Pháp
66. Kỹ sư tin học Phan Quốc Tuyên, Genève, Thụy Sĩ
67. Nguyễn Xuân Liên, hưu trí, Hà Nội
68. Trương Văn Vấn (T. Vấn), Trang mạng Văn học T. Vấn & Bạn hữu
69. Hoa Nguyen, Sydney, Australia
70. Quang Ha, Sydney, Australia
71. Tú Quỳnh, Nhà giáo, Hoa Kỳ
72. Mai Thái Lĩnh, Nhà nghiên cứu độc lập, Đà Lạt
73. GS – TSKH Nguyễn Đông Yên, Hà Nội
74. Chuyên viên tư vấn tài chính Nguyễn Hồng Khoái, Tây Hồ, Hà Nội
75. Nguyễn Văn Đức, lao động tự do đã nghỉ, Nguyễn Kiệm, Gò Vấp, TP HCM
76. Luật gia, Nhà báo Nguyễn Chính, Nha Trang
77. Nguyễn Thị Khánh Trâm, Hưu trí, TP HCM
78. Lê Minh Hằng, Hưu trí, Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội
79. Nguyễn Anh Ngọc, TP Hải Dương
80. Nhà văn, Đạo diễn Đỗ Minh Tuấn, Hà Nội
81. GS Nguyễn Đình Cống, Hà Nội
82. Nguyễn Quang Vinh, cán bộ Bộ Quốc phòng, 109, Đội Cấn, Hà Nội
83. Nguyễn Việt, Q3, TP HCM
84. Nguyễn Ly, Q3, TP HCM
85. Nguyễn Vin, Q3, TP HCM
86. Phan Loan, Q3, TP HCM
87. Linh mục Lê Ngọc Thanh, Dòng Chúa Cứu thế
88. Kỹ sư xây dựng Lê Văn Oanh, Hà Nội
89. TS CNTT Lê Khánh Hùng, Hà Nội
90. Nguyễn Khánh Việt, Cán bộ hưu trí, Hà Nội
91. Nguyễn Trần Hải, cựu sĩ quan HQNDVN, 39 Lê Đại Hành, Q. Hồng Bàng, TP Hải Phòng
92. Hoàng Công, Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam
93. Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Đồng Chủ tịch Hội Cựu tù nhân lương tâm, TP HCM
94. Đỗ Nam Hải, kinh doanh, Hải Phòng
95. Nguyễn Thị Minh Phương, Giảng viên Đại học Massachusetts, Boston, Hoa Kỳ
96. Nhà báo Hồ Ngọc Nhuận, TP HCM
97. Huỳnh Kim Báu, Tổng Thư ký Hội Trí thức TP HCM, Chủ nhiệm CLB Lê Hiếu Đằng, TP HCM
98. Tăng Thị Nga, cựu sinh viên Luật, tù chính trị trước 1975, TP HCM
99. MBA Huỳnh Kim Thanh Thảo, TP HCM
100. Kỹ sư cơ khí Nguyễn Văn Lịch, nghỉ hưu, Đống Đa, Hà Nội
101. Trương Bích Phương, Nhân viên văn phòng, TP HCM
102. Trần Mạnh Thái, CHLB Đức
103. Hồ Văn Nhãn, Giáo viên hưu trí, TP HCM
104. TS Trần Văn Bình, Phú Mỹ Hưng, Q7, TP HCM
105. Kỹ sư Hồ Sĩ Hải, Hưu trí, Hà Nội
106. TS Lê Vinh Quốc, TP HCM
107. TS Mai Anh Tài, TP HCM

——————–

(Tiếp tục cập nhật. Tổ chức, cá nhân tán thành tuyên bố này, xin email về hộp thư vvtao.nb@gmail.com). Trân trọng cảm ơn!

Category: Chính luận, Chính trị, Khoa học Công nghệ, Thông báo  | Tags:  | Comments off
September 06th, 2016 | Author:
Bản đồ Trung Hoa thời Xuân Thu Chiến Quốc

Bản đồ Trung Hoa thời Xuân Thu Chiến Quốc

Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt

Trần Gia Ninh

Khi đọc những câu hỏi “Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. Hoặc “Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?(1), nhiều người nghĩ chắc là ý kiến của những anh chàng người Việt nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Nhưng thật bất ngờ, những câu hỏi này và tương tự như vậy hiện là những chủ đề nóng của các diễn đàn tranh luận trên mạng Internet của người Trung Hoa, bằng tiếng Trung chứ không phải của người Việt.


Họ đã chất vấn nhau, đại loại thế này: Hơn một nghìn năm, trước khi nhà Tống lên ngôi, Giao Châu là thuộc Trung Hoa, dù chị em họ Trưng có nổi dậy cũng chỉ mấy năm là dẹp yên. Thế mà vì sao từ đời Tống trở đi các triều đại Trung Hoa không thể thu phục nổi Việt Nam. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam, người Kinh ấy, từ đâu mà ra, hình thành từ lúc nào? Người Hán chúng ta từ cổ xưa đã có sức đồng hóa cực mạnh. Số dân tộc đã bị Hán tộc đồng hóa không đếm xuể. Tại sao chừng ấy năm đô hộ vậy mà không đồng hóa nổi Việt Nam… Nếu An Nam là thuộc Trung Quốc từ thời đó, liệu bây giờ quần đảo Nam Sa (VN gọi là Trường Sa) có thành vấn đề không? Việt Nam có còn chiếm được nhiều đảo ở Nam Sa như bây giờ không?

Là người Việt Nam, chắc ai cũng muốn chính mình tìm câu trả lời cho những câu hỏi thú vị đó. Chúng ta từng nghe nói rằng, từ xa xưa một dải giang sơn mênh mông từ Nam sông Dương Tử trở về Nam là nơi các tộc dân Việt sinh sống và phát triển nền văn minh lúa nước rực rỡ. Thế rồi ngày nay, hầu hết đều trở thành lãnh thổ và giang sơn của người Hán, dùng Hán ngữ và văn hóa Hán. Quá trình đó người ta quen gọi là Hán hóa. Vì vậy nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, và quá trình Hán hóa Bách Việt, là một cách ôn cố tri tân hữu ích. Đáng tiếc là thời xa xưa đó lịch sử chủ yếu ghi chép lại bằng Hán ngữ cổ ở Trung Hoa, không dễ tiếp cận với đa số hiện nay. Vì lẽ đó người viết bài này cố gắng tóm tắt những gì mà sử sách cổ còn ghi lại, kết hợp với những tài liệu khoa học đã công bố của một số học giả uy tín trên thế giới, ngõ hầu cung cấp một vài thông tin hữu ích, nhiều chiều, kể cả còn đang tranh cãi.

Bách Việt là ai và ở đâu?

Vào thời thượng cổ, từ đời nhà Thương 商朝 (khoảng 1600-1046 TCN), trong văn tự thì chỉ có một chữ Việt 戉 (nghĩa là cái rìu), cũng là tên chung cho tộc người ở phía Nam không phải là người Trung Hoa, do tộc người này sử dụng rìu (Việt) làm công cụ. Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc 春秋 戰國 (722-221 TCN) bắt đầu trong văn tự có hai chữ Việt là 越 và 粤, đều chỉ bộ tộc Việt, dùng như nhau (Sách cổ viết là 越粵互通-Việt Việt Hỗ Thông), ta hay gọi 越 là Việt bộ tẩu 走 (đi, chạy) và Việt 粤 là Việt bộ mễ 米-(lúa)2.

Trong Hán ngữ cận, hiện đại, hai chữ Việt này (có thể từ sau đời Minh) thì dùng có phân biệt rõ ràng. Chữ Việt bộ tẩu 越 là ghi tên tộc Việt của nước Việt có lãnh thổ ở vùng Bắc Triết Giang, ngày nay là vùng Thượng Hải, Ninh Ba, Thiệu Hưng (Cối Kê 會稽 xưa). Một loại ca kịch cổ ở vùng này vẫn còn tên là Việt Kịch 越剧. Chữ Việt bộ tẩu này cũng là tên của tộc Nam Việt (Triệu Đà) Âu Việt và Lạc Việt (Việt Nam ngày nay), Mân Việt (Phúc Kiến), Điền Việt (Vân Nam, Quảng Tây)… Chữ Việt 粤 bộ mễ 米 ngày nay dùng ghi tên cư dân vùng Quảng Đông, Hồng Kong, Ma Cao… những cư dân này sử dụng ngôn ngữ gọi là tiếng Quảng Đông (Cantonese). (Ai đến Quảng Châu đều thấy biển xe ô tô đều bắt đầu bằng chữ 粤 là vì vậy).

Bởi vì xưa có đến hàng trăm tộc Việt, cho nên sử sách gọi chung là Bách Việt 百越 hoặc 百粤. Tên gọi Bách Việt xuất hiện trong văn sách lần đầu tiên trong bộ Lã thị Xuân Thu 吕氏春秋 của Lã Bất Vi 呂不韋 (291–235 TCN) thời nhà Tần.

Trong lịch sử Trung Hoa, toàn bộ vùng đất Giang Nam (tên gọi vùng Nam Sông Dương Tử), rộng bảy tám ngàn dặm từ Giao Chỉ đến Cối Kê, từ trước thời Tần Hán đều là nơi cư ngụ của các tộc Bách Việt.

Thời nhà Hạ gọi là Vu Việt 于越, đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越, đời Chu gọi là Dương Việt 扬越, Kinh Việt 荆越, từ thời Chiến quốc gọi là Bách Việt百越.

Sách Lộ Sử của La Bí (1131 – 1189) người đời Tống viết3: Việt thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu ngai, Thả âu, Tây âu, Cung nhân, Mục thâm, Tồi phu, Cầm nhân, Thương ngô, Việt khu, Quế quốc, Tổn tử, Sản lí (Tây Song Bản Nạp), Hải quý, Cửu khuẩn, Kê dư, Bắc đái, Phó cú,  Khu ngô (Cú ngô)…, gọi là Bách Việt.

Hán Hóa Bách Việt – Giai đoạn từ thượng cổ đến trước thời Tần-Hán

Gọi Hán hóa chỉ là để cho tiện thôi, thực ra không đúng, vì lúc này làm gì đã có nhà Hán. Hai nước Ngô – Việt là những tộc Bách Việt được ghi chép rất sớm trong sử sách. Nước Ngô 吴国,còn gọi là Cú Ngô 句吴, Công Ngô 工吴,攻吾… lập quốc vào thời Chu Vũ Vương (thế kỷ 12 TCN), kinh đô ở Tô Châu 苏州 ngày nay, từ thủy tổ là Ngô Thái Bá 吳太伯 truyền đến Phù Sai夫差 thì bị diệt vong bởi nước Việt (473 TCN). Thực ra ghi chép sớm nhất trong sử sách là Vu Việt 于越, tiền thân của nước Việt 越 国 thời Chiến quốc. Nước Việt đã tồn tại muộn nhất cũng từ thời nhà Thương, không tham gia vào sự kiện Vũ Vương Phạt Trụ (1046 TCN), nhưng sử có ghi là khá lâu trước đó đã làm tân khách của Chu Thành Vương 周成王(1132 – 1083 TCN). Nước Việt đã có một văn hóa dân tộc đặc sắc, gọi là Văn hóa Mã Kiều 馬橋文化, mà các chứng tích đã tìm thấy khi khai quật di chỉ Thái Hồ 太湖地區. Nước Việt định đô ở Cối Kê 會稽 (Thiệu Hưng ngày nay) truyền đến đời Câu Tiễn句踐 (496 – 464 TCN) thì bành trướng lên phía Bắc, năm 473 TCN sau khi diệt nước Ngô, mở rộng bờ cõi Bắc chiếm Giang Tô 江蘇, Nam đoạt Mân Đài 閩台 (tức Phúc Kiến ngày nay), Đông giáp  Đông Hải 東海, Tây đến Hoàn Nam 皖南 (phía Nam An Huy ngày nay), hùng cứ một cõi Đông Nam. Đến năm 306 TCN, nước Sở 楚國 nhân nước Việt, triều vua Vô Cương, nội loạn, bèn liên kết với nước Tề 齊國 tiến chiếm nước Việt, đổi thành quận Giang Đông, nước Việt tuyệt diệt và bị Sở hóa từ đó. Những sự kiện này được ghi chép tỉ mỉ trong bộ sử Ngô Việt Xuân Thu 吳越春秋 do Triệu Diệp 赵晔 thời Đông Hán soạn (~năm 25). Các nhà khoa học thế giới ngày nay cũng đã phục dựng đầy đủ lịch sử này, ví dụ xem Eric Henry4.

Đến đây cần nói rõ, Sở là gốc Hoa Hạ (sau này gọi là Hán) hay là Bách Việt, hiện còn nhiều tranh cãi. Dân Hoa Hạ (chính là tộc Hán sau này) nhận mình là con cháu của Tam Hoàng, Ngũ Đế. Tam Hoàng thì rất thần tiên, mơ hồ, Ngũ Đế có vẻ cụ thể hơn. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên5 thì đó là năm chi: Hoàng Đế (黃帝), Chuyên Húc (顓頊), Đế Cốc (帝嚳), Đế Nghiêu (帝堯), Đế Thuấn (帝舜). Dân nước Sở tự nhận thuộc chi Chuyên Húc, họ Cao Dương 高阳 tức là tộc Hoa Hạ (Hán). Đất nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Hồ Động Đình, quen gọi là vùng Kinh Sở (Hồ Bắc – Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay). Vùng Kinh Sở nằm chồng lấn phía Nam lưu vực sông Hoài sông Vị của dân Trung Nguyên Hoa Hạ. Đó là vùng đất đầu tiên mà một chi của dân Hoa Hạ (chi Chuyên Húc) thiên di xuống. Nhà thơ Khuất Nguyên (340 – 278 TCN) người nước Sở, mở đầu bài thơ Ly Tao đã viết6: Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ, /Vốn dòng vua về họ Cao Dương (Nhượng Tống dịch thơ). Trước khi con cháu Cao Dương nam thiên đến đây, dân bản địa là tộc nào? Nước Sở lập quốc vào cuối đời Thương đầu đời Chu (1042 TCN). Sách Sử Ký – thiên Sở Thế gia viết rằng người Sở là dân Man (Sở Man), vua Sở nhận mình là dân Man Di7. Man là chữ người Hoa Hạ gọi dân miền Nam không phải là Trung Hoa. Những khai quật khảo cổ ở vùng Kinh Sở gần đây cũng cho thấy rằng thực ra cư dân tối cổ ở vùng Kinh Sở có nguồn gốc Tam Miêu, một dân tộc thuộc nhóm Bách Việt. Đây có thể là nhóm Âu Việt ở phía Tây nên còn gọi là tộc Tây Âu, để phân biệt với Đông Âu là tộc Âu Việt phía Đông, tức vùng Mân – Đài (Phúc Kiến). Tộc Tây Âu, theo các nhà dân tộc học, có thể là tổ tiên các tộc H’mông, Lào, Miến, Thái… hiện nay, ít nhiều cũng có cùng huyết thống người Việt Nam cổ. Như vậy là quá trình Trung Hoa hóa dân Man (Miêu tộc bản địa) đã bắt đầu từ cuối Thương đầu đời Chu rồi. Có thể tạm gọi đó là đợt đồng hóa thứ nhất.

Sự Trung Hoa hóa theo thế lực nước Sở, bành trướng đến Trùng Khánh, Quý Châu, về sau sang tiếp phía Đông, trở thành một trong thất hùng thời Chiến quốc. Đặc biệt là quý tộc Sở cổ đều có họ Hùng (熊 – con gấu), vua Sở là Hùng Vương, phải chăng có liên hệ gì đó đến Hùng Vương ở Việt Nam, chỉ khác chữ Hán viết 雄 – hùng mạnh, (trong sử Trung Hoa cổ không tìm thấy ghi Hùng Vương 雄 này, có lẽ đây là do các nhà Nho Việt Nam viết lại sau này!). Tóm lại đến thời Khuất Nguyên, rồi sau đó là lúc Sở diệt Việt phía Đông, thì Sở đã hoàn toàn biến thành dân Trung Hoa, và quá trình Trung Hoa hóa Ngô – Việt là quá trình đồng hóa thứ hai, tiến hành thông qua nước Sở.

Các nhà khoa học Nhật, Mỹ, đã có nhiều phát hiện, chứng minh nền văn minh Ngô Việt sau khi nước Việt bị diệt và Trung Hoa hóa (đúng hơn là Sở hóa), đã theo dòng người Ngô Việt chạy ra biển sang Nhật Bản (tiếng Nhật Bản đọc Hán tự theo kiểu nước Ngô, nên gọi là ごおん-Go On- Ngô âm 呉音). Nền văn minh đó chủ yếu theo bộ phận tinh hoa của dân Ngô Việt chạy xuống phía Nam hợp lưu cùng Việt bản địa, thành ra văn minh Việt kéo từ Lĩnh Nam (phía Nam dãy Ngũ Lĩnh – tức Bắc Lưỡng Quảng ngày nay) đến Giao Chỉ. Theo phát hiện của Jerry Norman và Tsu-lin Mei (Washington University và Cornell University) thì nhiều từ cổ của tộc Việt nước Ngô Việt hiện vẫn thông dụng trong tiếng Việt ngày nay, ví dụ các từ: chết; chó, đồng (trong đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (trong ngà voi), con (trong con cái), ruồi, đằm (trong đằm ướt), sam (con sam), biết; bọt , bèo…8 Điều này chứng tỏ rằng dân Lạc Việt ít nhiều có cùng huyết thống với dân Ngô Việt xưa. (Xem bản đồ).

Hán hóa Bách Việt- Giai đoạn sau thời Tần-Hán

Cho đến trước khi Tần Thủy Hoàng diệt được sáu nước, dẹp bỏ nhà Chu, thống nhất Trung Hoa (221 TCN) thì dân Hoa Hạ (Hán tộc) chỉ chiếm lãnh và đồng hóa được dải đất từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh9, còn từ Ngũ Lĩnh trở về Nam (Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam… gọi tắt là Lĩnh Nam) thuộc về Âu Việt (gọi chung Tây Âu và Đông Âu) và Lạc Việt. Từ Kinh Sở trở về Tây, Tây Nam (Vân Nam) vẫn còn thuộc về Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý…

Vùng Bách Việt phía Tây Nam này (Vân Nam) thì mãi đến thế kỷ 12 còn độc lập, dù người Hán có tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm lẻ tẻ. Chỉ sau khi Mông Cổ chiếm Đại Lý (1253), Vân Nam, rồi sau đó chiếm nốt Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, thì Vân Nam mới nhập vào Trung Hoa. Năm 1381, Minh Thái Tổ mới bình định xong Vân Nam và cuộc Hán hóa hoàn tất rất nhanh. Ngày nay hơn 61% cư dân Vân Nam là người Hán.

Vùng Lĩnh Nam chiếm làm đất Trung Hoa từ thời Tần – Hán, nhưng quá trình Hán hóa thì khá khó khăn và cho đến nay vẫn chưa xong hết (!). Cổ sử Trung Hoa chép thì Lĩnh Nam có nhiều bộ tộc Việt lập quốc như Tây Âu, Lạc Việt… có nước Dạ Lang (nhưng không thấy chép Văn Lang!). Âu và Lạc10là một tộc Việt hay là hai tộc Việt khác nhau, cho đến tận ngày nay vẫn còn tranh cãi. Sách “Hoài Nam Tử” (139 TCN) thì chỉ viết có Tây Âu11 không có nói đến Lạc chỗ nào cả. Sách “Sử Ký” (94 TCN) muộn hơn một ít thì cũng có viết Âu, không tìm thấy chữ Lạc đứng riêng một mình, mà luôn luôn chỉ có chép Âu Lạc liền nhau12. Tuy nhiên trong Lã thị Xuân Thu (291–235 TCN) sớm nhất thì có chép” Việt Lạc-越骆”13. Việt Lạc rất có thể chính là nước Lạc Việt trong sử sách sau này, Việt Lạc là ghi âm trực tiếp từ ngôn ngữ người Việt, theo ngữ pháp Việt, còn sau này ghi Lạc Việt là ghi chép qua thông dịch sang Hán Ngữ, theo ngữ pháp Hán.

Luận theo sử sách chép, có thể thời tiền Tần thì Âu và Lạc là hai chi Việt khác nhau. Thời kỳ chiến đấu chống lại Tần thì có thể hai chi Việt này liên minh lại với nhau thành một khối Âu Lạc. Lúc đó trung tâm là ở Nam Trung Hoa, vùng Vũ Minh Mã đầu (Nam Ninh – Quảng Tây ngày nay). Chỉ sau khi Hán Vũ Đế bình Nam Việt của Triệu Đà thì hai chi này mới lại phân chia ra, và trung tâm di về vùng quanh Hà Nội ngày nay.

Đồng thời với nước Lạc Việt có nước Tây Âu hay Âu Việt mà người đứng đầu trong sử chép là Thục Phán. Tuy nhiên Âu Việt lập quốc lúc nào và Thục Phán từ đâu ra thì sử sách không ghi rõ. Rất nhiều ý kiến cho rằng Thục Phán là hậu duệ của vương triều nước Thục. Quả thực sử có chép một quốc gia tên là Thục Quốc, ở Tây Nam Trung Hoa ngày nay. Thường Cừ (347)người đời Tấn viết trong Sách “Hoa Dương Quốc Chí”14: “Nước Thục Đông giáp nước Ba, Nam giáp Việt, Bắc phân giới với nước Tần, Tây tựa Nga Ba”. Vị trí địa lý như vậy nên cư dân ở đây bao gồm người Khương, người Việt, người Hoa Hạ. Dòng họ Khai Minh làm vua nước Thục, truyền được 12 đời, đến năm 316 TCN đời Chu Thận Vương thì bị nhà Tần diệt15, hậu duệ chạy về phương Nam. Sử chép đến đây thì đứt đoạn, không nói gì tiếp. Cho nên về sau nói Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị, cha Thục Phán là Khai Minh Chế chiếm lưu vực Diệp Du Thủy (tức thượng nguồn sông Hồng)16, xưng là An Tri Vương vua nước Tây Âu, sau truyền ngôi cho con là Phán, cũng chỉ là một giả thuyết, chép lại theo truyền thuyết của tộc dân Đại Y17.

Lúc này cũng là thời kỳ theo truyền thuyết là có nước Văn Lang ở phía trung và hạ lưu sông Hồng (trong cổ sử Trung Hoa không có tên nước Văn Lang, chỉ có tên một nước là Dạ Lang, liệu có liên quan đến Văn Lang không?), do dòng họ Hùng làm vua. Việc Thục Phán là hậu duệ nước Thục, cũng như nước Văn Lang có vua Hùng trị vì 18 đời trong sử An Nam là ghi lại theo truyền thuyết. Tuy nhiên Thục Vương Tử tên Phán, Hùng Vương vua Lạc Việt, Thục diệt Hùng Vương chiếm lãnh thổ, xưng là An Dương Vương thì có ghi trong sử cổ Trung Hoa từ đầu Công nguyên.

Theo quyển “Việt sử lược”18, của tác giả không rõ tên, có lẽ là người Việt Nam khắc in ở Trung Hoa vào quãng cuối Nguyên đầu đời Minh (~1360), có viết về nước Văn Lang, vua là Đối Vương 碓王, sau bị Thục Phán đánh đuổi, Phán xưng là An Dương Vương.

Sách cổ “Thủy kinh chú” dẫn lại lời ghi trong “Giao châu ngoại vực ký” rằng19 “… Thục Vương Tử dẫn binh tướng ba vạn đánh lại Lạc Vương 雒王, Lạc hầu 雒侯, thu phục các Lạc Tướng. Rồi đó Thục Vương Tử xưng là An Dương Vương”. Sách “Cựu Đường thư” dẫn lại “Nam Việt chí” chép20 “Đất Giao Chỉ vô cùng màu mỡ, xưa có vua xưng là Hùng Vương 雄王, có Lạc hầu phò tá. Thục Vương Tử dẫn quân tướng ba vạn tiến đánh, diệt được Hùng Vương. Thục xưng làm An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ”. Như vậy thì sử sách có ba tên gọi cho vua nước Lạc Việt: Lạc Vương, Hùng Vương, Đối Vương. Có nhiều ý kiến cho rằng ba tên gọi này là một, chính là Lạc Vương, các tên khác do về sau sao chép nhầm chữ Lạc 雒 của Hán ngữ mà thành21. Dầu sao thì cũng có hai lý giải về truyền thuyết danh xưng Hùng Vương, một là dòng dõi họ Hùng Vương nước Sở, hai là Lạc Vương vua của dân Lạc Việt. Dù tên tuổi đúng sai thế nào, thì Hùng Vương không chỉ thuần túy là truyền thuyết của Việt Nam, mà cũng có ghi trong cổ sử Trung Hoa. Nhân vật Thục Phán tuy nguồn cội chưa xác định, nhưng cũng có thật, đánh chiếm Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc xưng là An Dương Vương cũng là có thật, có ghi trong chính sử không chỉ của Việt Nam22.

Tần diệt Sở, rồi đánh chiếm Lĩnh Nam, Đô Úy Triệu Đà được Tần cắt cử quản lĩnh Quế Lâm, Tượng Quận. Nhân khi nơi nơi nổi lên chống Tần, năm 204 TCN Triệu Đà bèn chiếm Lĩnh Nam lập nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu) và đánh chiếm Âu Lạc. Sách “Giao Châu ngoại vực ký” chép: “Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”23. Sách “Thái Bình Ngự Lãm” dẫn “Nhật Nam truyện” còn chép phóng đại hơn, nỏ một phát giết ba vạn người và còn kể tỉ mỉ chuyện tình Mỵ Châu Trọng Thủy, chuyện mất nỏ thần, dẫn đến An Dương Vương thất bại24. Nước Âu Lạc từ đó nhập vào nước Nam Việt25. Triệu Đà lập nước Nam Việt năm 203 TCN, giữ độc lập với nhà Hán được 92 năm, truyền 5 đời vua, đến đời Triệu Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia26thì mất nước vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TCN. Một dải Lĩnh Nam và Đông Hải bị Hán chiếm và Hán hóa kéo dài hơn ngàn năm, ngoại trừ Lạc Việt, còn lại hoàn toàn trở thành Hán. Lạc Việt, sau hơn 1000 năm nô lệ và Hán hóa, vẫn giữ được bản sắc và nền văn minh Việt, cuối cùng thì giành được độc lập và trở thành Đại Cồ Việt, Đại Việt, Nam Việt và Việt Nam đến tận ngày nay. Đó là một trường hợp duy nhất mà Trung Hoa không thể Hán hóa được.

Vì sao Đại Việt không bị Hán hóa?

Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1 – Đồng hóa tự nhiên: đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2 – Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc bị trị chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của dân tộc thống trị; đây là một tội ác.27 Người Hán đã thực hiện cả hai biện pháp đồng hóa này hơn một ngàn năm mà Đại Việt vẫn không bị đồng hóa, người Trung Hoa ngày nay tìm mọi lý lẽ để biện minh nhưng chính họ cũng không thấy thuyết phục lắm. Chẳng hạn:

* Việt Nam ở xa Trung Nguyên, núi sông cách trở không tiện đồng hóa. Phản bác lại: Tại sao Vân Nam cũng xa, núi sông cách trở hơn nhiều mà chỉ trong mấy trăm năm đã bị đồng hóa hoàn toàn.

* Việt Nam ở phương Nam, nóng ẩm, người Hán không ở được. Thế tại sao Hải Nam cũng như vậy mà lại ở được, đồng hóa xong rồi.

* Tại vì số lượng người Hán di dân xuống Việt Nam ít. Thực ra, không có bằng chứng nào là ít hơn Hải Nam, Vân Nam cả. Chỉ riêng số quan lại cai trị và số quân chiếm đóng trong hơn một ngàn năm, cũng không ít hơn số dân bản địa. Chỉ có thể hiểu người Hán ở đây đã bị Việt hóa. Cũng có ý kiến cực đoan bênh vực, nói rằng thực ra đã Hán hóa dân Việt rồi nhưng từ sau năm 1945, Việt Nam đã thanh lọc lại hết!

Cũng có một số kiến giải của người Trung Hoa bình thường ngày nay, xem ra cũng ít nhiều có lý, ví như:

* Người Kinh có ba nguồn gốc: Người Lạc Việt, Người Thục, Người Hán. Do vậy người Kinh hấp thụ được tinh hoa của ba chủng tộc nên trở thành một tộc người ưu tú.

* Người Hán ở Việt Nam kể cả các tầng lớp cai trị không đồng hóa được người Kinh, trái lại bị đồng hóa ngược trở thành người Việt. Người Kinh là một tộc người có năng lực đồng hóa mạnh, bằng nếu không nói là còn hơn người Hán. Hãy xem họ mở rộng về phía Nam thì rõ.

Nhưng đó chỉ là những lý do bề ngoài mà những người bình thường có thể nhận thấy được. Thực ra, theo các nhà chuyên môn, đồng hóa dân tộc là một vấn đề khoa học lớn, rất nhạy cảm và vẫn chưa có được một lý thuyết nào đứng vững cả, vì vậy tạm thời không bàn đến lý luận trong bài này. Thông thường đồng hóa dân tộc là một sự tổng hòa gồm:

* Đồng hóa chủng tộc, thường được thực hiện bằng một cuộc chinh phục và kẻ chinh phục hoặc diệt chủng dân bị chinh phục, hoặc xua đuổi dân bị chinh phục để thay thế bằng cư dân của phía chinh phục, hoặc pha loãng huyết thống.

* Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng.

* Đồng hóa về tổ chức cộng đồng, xã hội.

(Về vấn đề Văn Hóa, Ngôn Ngữ, Tín Ngưỡng, đều là những yếu tố bảo tồn dân tộc Việt, xin dành cho bài sau).

Sự đồng hóa dân tộc sẽ khó được thực hiện.

1. Nếu một dân tộc có sức sống sinh học và xã hội mãnh liệt thì sự đồng hóa chủng tộc khó thành công, ví dụ điển hình là dân tộc Do Thái.

2. Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng phụ thuộc vào trình độ văn minh của dân tộc. Một dân tộc mạnh về chinh chiến, có thể chiến thắng trong cuộc chinh phục, nhưng nếu trình độ văn minh thấp hơn thì sẽ bị kẻ bại trận đồng hóa, điển hình như tộc Hung Nô, Nữ Chân, Mãn Châu… đều chiến thắng người Hán nhưng lại bị Hán hóa.

3. Khi một cộng đồng dân tộc có tổ chức tốt, cố kết các thành viên bền chặt, thì dân tộc đó rất khó bị đồng hóa.

Nhìn lại thì thấy người Việt (người Kinh) có đủ cả ba yếu tố 1,2,3: Người Kinh hiện nay là nơi tập hợp các thành phần ưu tú nhất của Bách Việt, bởi lẽ khi Bách Việt bị Hán hóa, các thành phần ưu tú, tinh hoa trong xã hội Việt là mục tiêu tàn sát của người Hán, do đó các thành phần này phải tháo chạy, và nơi dung nạp họ là mảnh đất cuối trời Bách Việt, tức Việt Nam ngày nay. Hãy xem thí dụ về ngôn ngữ Ngô Việt còn lưu lại trong tiếng Việt (như đã nói ở trên), đó là một bằng chứng cho sự dịch chuyển của người Ngô-Việt xuống đây. Vì vậy tộc người Kinh có sức sống mãnh liệt.

Tinh hoa của văn minh Bách Việt được cô đọng lại ở người Kinh, chắc chắn không kém nền văn minh Hoa Hạ. Người Việt dù không có văn tự riêng (hay có mà bị xóa sạch sau ngàn năm nô lệ) nhưng vẫn phát triển và bảo tồn được ngôn ngữ dân tộc, dù phải mượn Hán Ngữ để ghi chép, thì thật là một kỳ tích, chẳng kém gì người Do Thái vẫn giữ được tiếng Do Thái dù bị diệt chủng và xua đuổi hai ngàn năm.

Tổ chức xã hội của tộc Việt, điển hình là làng xã đã cố kết cộng đồng rất chặt. Tổ chức nhà nước cũng có rất sớm, từ thời Chiến quốc, do đó rất khó phá vỡ, nó tồn tại dấu tích sau khi khi đã độc lập. Hãy nhớ đến Hội Nghị Diên Hồng thời Trần để thấy tinh thần của tổ chức xã hội gắn kết người dân với triều đình chặt chẽ đến mức nào. Ngay cả một vương triều thất thế, bị truy đuổi như Triều Mạc, cũng không bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ Vạn Ninh, trước khi chết để di chúc cho Mạc Kính Cung: “Nay vận khí nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời, dân ta vô tội mà để phải mắc nợ binh đao, sao lại nỡ thế… Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”28.

Quân Minh đầu TK 15 cũng khó mà có thể chiếm được Đại Việt làm quận huyện nếu không có những nhóm quý tộc như nhóm Mạc Thúy, vì quyền lợi riêng bán rẻ dân tộc cho người Minh. Nên biết Mạc Thúy là hậu duệ của danh nhân Mạc Đĩnh Chi, một đại thần nhà Trần… Nhà Thanh không thể chiếm Thăng Long nếu không có vua quan bán nước Lê Chiêu Thống, tiếc thay y lại là dòng dõi của anh hùng dân tộc Lê Lợi…

Than ôi! truyền thống thì hào hùng rực rỡ, tổ tiên phải đổ bao mồ hôi, xương máu mới có, nhưng bán rẻ nó đi thì thật dễ dàng. May sao tự ngàn xưa số những kẻ bán rẻ dân tộc như vậy là vô cùng nhỏ trong cộng đồng người Việt.1


CHÚ DẪN

1为什么经历了一千多年的统治,中国始终不能同化越南?“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. http://bbs.tianya.cn/post-no05-226522-1.shtml

越南人(京族)为何难以同化 “ Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?”  http://lt.cjdby.net/thread-1440161-1-1.html

2 Có học giả Việt đương thời theo tự dạng vội suy đoán rằng viết như vậy có lẽ chỉ tộc người vác rìu đi (chạy) săn và tộc  người trồng lúa trong ruộng. Chứng tỏ thời bấy giờ tộc Việt thuộc văn minh săn bắn và trồng trọt. Có lẽ không phải đơn giản như vậy. Khảo sát lịch sử văn tự thì thấy rằng Việt 越 và Việt粵  âm đọc  giống nhau, “Sử ký” viết là 越, “Hán thư” viết là 粤. Âm đọc 粤 là từ âm đọc của chữ Vu 于, người cổ đọc 越 là于. Vu 于 viết theo lối chữ triện 篆 là 亏, hài thanh là chữ vũ 雨-mưa, viết lên trên thành 雩. Trong “Hán Thư” còn tồn nhiều chữ cổ, nên chữ Việt 越 đều cải viết thành雩, sau theo lối chữ lệ 隶, chữ khải 楷 mới viết thành ra 粤, tức biến hóa hình chữ vũ 雨 đặt trên chữ Vu亏.

3 “路史” 罗泌 (1131—1189) 宋朝 : 越裳, 雒越, 瓯越瓯皑,  且瓯, 西瓯, 供人, 目深, 摧夫, 禽人, 苍梧, 越区, 桂国, 损子, 产里(西双版纳), 海癸, 九菌, 稽余, 北带,仆句, 区吴(句吳), 是谓百越。

#4 http://www.sino-platonic.org/complete/spp176_history_of_yue.html

 The Submerged History of Yuè. By Eric Henry, University of North Carolina

5 史記-司馬遷 (145 – 86 TCN)

6屈原在《离骚: 帝高阳之苗裔兮,朕皇考曰伯庸- Ðế Cao Dương chi miêu duệ hề, Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.

7《史记.楚世家》记载: “封熊绎于楚蛮- phong Hùng Dịch ư Sở Man “, “ 熊渠曰: 我蛮夷也不与中国之号谥- Hùng Cừ nói: Ta là dân man di, không cùng hiệu, thụy của Trung quốc. Hùng Dịch (~1006 TCN) là vua lập ra nước Sở, Hùng Cừ (~877 TCN) là vua Sở về sau. Sở Man là tên nhà Thương, Chu gọi dân Kinh Sở bản địa, Man tức là Man Việt, tên tộc Việt thời nhà Thương.

8 Jerry Norman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by: Taylor & Francis, Ltd.

9 五岭 Ngũ Lĩnh-dãy núi phía Nam Trung Hoa chạy qua biên giới các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, có năm đỉnh cao (Ngũ lĩnh) là 越城 (Việt Thành)、都庞 (Đô Lung), 萌渚 (Manh Chử), 骑田 (Kỵ Điền), 大庾(Đại Dữu).

10 Chữ Lạc có nhiều cách viết, đều đọc là Lạc. Hai chữ  雒,骆 thường dùng như nhau để chép Lạc Việt trong sách cổ. Tiếng Bắc Kinh đọc là Luo, Quảng Đông đọc lok, Đời Đường đọc lak. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc chữ Lạc là do người Hán ghi âm chữ Lúa, Ló của người Việt, người Mường mà ra. Người Việt là tộc người có nền văn minh lúa nước.

11《淮南子·人间训:“(秦皇)又以卒凿渠而通粮道,以与越人战,杀西呕君译吁宋。Hoài Nam Tử. Nhân gia huấn: (Tần Hoàng) cho quân đào kênh thông đường vận lương, rồi đánh người Việt, giết được vua Tây Âu là Dịch Hu Tống”.

12《史记·南越列传》赵佗上呈汉文帝的“谢罪书”:“且南方卑湿,蛮夷中间,其东闽越千人众号称王,其西瓯骆裸国亦称王。” Triệu Đà dâng thư tạ tội với Hán Văn Đế: “ đất phương Nam thấp, ẩm ướt. Trong các tộc man di ở đây, (chỉ dám) xưng vương phía Đông với dân Đông Âu vài ngàn khẩu, phía Tây với nước Âu Lạc khỏa thân (ý nói  đóng khố cởi trần).

13《吕氏春秋·孝行览·本味篇》:“和之美者:阳朴之姜,招摇之桂,越骆之菌。”高诱注:“越骆,国名。菌,竹笋。”  Lã thị Xuân Thu-Hiếu hạnh lãm, bản vị thiên:” Những thứ hoàn mỹ  là gừng Dương Phác, quế Chiêu Diêu, Khuẩn (Măng) Việt Lạc” Cao Dụ chú giải:” Việt Lạc là tên nước, Khuẩn là măng tre”.

14 常璩(347)华阳国志-(卷三蜀志): Thường Cừ, “Hoa Dương Quốc Chí” (quyển 3-Thục Chí): “历夏、商、周,武王伐纣,蜀与焉。其地东接于巴,南接于越,北与秦分,西奄峨嶓。” Trải qua Hạ, Thương, Chu,Vũ Vương phạt Trụ, cùng có nước Thục. Nước đó đông giáp nước Ba, nam giáp nước Việt, bắc phân giới với Tần, Tây dựa Nga Ba” (vì vậy cư dân ở đây có thể là người Khương, Hoa Hạ và Việt-TGN).

#15“华阳国志·蜀志:“周慎王五年秋,秦大夫张仪、司马错、都尉墨等从石牛道伐蜀,蜀王自于葭萌拒之,败绩。王遁走,至武阳为秦军所害,其相、傅及太子退至逢乡,死于白鹿山。开明氏遂亡,凡王蜀十二世 ““Hoa Dương Quốc Chí, thiên Thục Chí”: “Mùa thu đời Chu Thận Vương thứ năm, các Đại Phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô úy Mặc v.v theo đường Thạch Ngưu tiến phạt Thục. Thục Vương thân cùng Gia Mạnh cự địch, bị thất bại. Vương tháo chạy đến Vũ Dương thì bị quân Tần hại, Thái tử thoái lui về và chết tại núi Bạch Lộc. Dòng họ Khai Minh, truyền được 12 đời, đến đây bị diệt”. Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn,Tứ Xuyên.

16 叶榆水

17岱依人

18《越史略》卷一载:“周庄王时嘉宁部有异人焉,能以幻术服诸部落,自称碓王,都于文郎,号文郎国。以淳质为俗,结绳为政,传十八世,皆称碓王。越勾践尝遣使来谕,碓王拒之。周末为蜀王子泮所逐而代之。泮筑城于越裳,号安阳王,竟不与周通。” .: Việt sử lược: “thời chu Trang Vương, ở Gia Ninh bộ có người tài, dùng xảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Đối Vương, đô ở Văn Lang, nước là Văn Lang. Tục lệ thuần hậu, chính sự nghiêm chỉnh, truyền 18 đời, đều xưng là Đối Vương. Việt Vương Câu Tiễn đã từng đến dụ, Vương đều từ chối. Vào cuối đời nhà Chu bị Thục Vương Tử tên là Phán đánh đuổi,  thay thế trị vì. Phán xây thành Việt Thường, hiệu là An Dương Vương, tuyệt giao với nhà Chu”.

19《水经·叶榆水注》中注引《交州外域记》云:“交趾昔未有郡县之时,土地有雒田,其田从潮水上,民垦食其田,因名为雒民。设雒王、雒侯主诸郡县。??后蜀王子将兵三万来讨雒王、雒侯,服诸雒将。蜀王子因称为安阳王。Sách “Thủy Kinh.Diệp Du Thủy chú”, dẫn theo “Giao Châu Ngoại Vực Ký” viết rằng: Giao Chỉ thời chưa có quận huyện, đất đai thì có Lạc điền, nước ruộng lên xuống theo triều, dân làm ruộng sinh sống, nên gọi là Lạc dân. Thiết đặt Lạc Vương, Lạc hầu cai quản các quận huyện. ?? về sau Thục vương tử xua quân tướng ba van đánh Lạc Vương, Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Thục vương tử xưng là An Dương Vương.

20《旧唐书·地理志》则引《南越志》云:“交趾之地,最为膏腴,旧有君长曰雄王,其佐曰雄侯。后蜀王将兵三万讨雄王,灭之。蜀以其子为安阳王,治交趾。Sách “Cựu Đường Thư” dẫn lại “Nam Việt Chí” viết rằng: Đất Giao Chỉ rất mầu mỡ, xưa có vua gọi là Hùng Vương, phò tá là các Hùng Hầu. Về sau ba van quân tướng của Thục vương đánh bại Hùng Vương. Con của Thục Vương xưng là An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ.

21 So sánh các sách thì “Giao Châu ngoại vực ký” là cổ nhất, ít nhất là trước đời Ngụy Tấn (TK3), “Nam Việt Chí” soạn sau thời Bắc Ngụy, còn “Việt sử lược” có lẽ soạn thời Hồng Vũ (~1358) nhà Minh sau này. Quân Vương của nước Lạc Việt theo  sách cổ  nhất (“Giao châu ngoại vực ký”) ghi là Lạc Vương 雒王, sách về sau (Việt sử lược, Nam Việt chí) thì ghi là Đối Vương 碓王, Hùng Vương 雄王. Một số học giả Trung Hoa và Quốc tế ngờ rằng ba chữ 碓, 雄, 雒 (bộ thủ “chuy 隹 “) nguyên chỉ là chữ 雒 (Lạc) do mấy trăm năm sau sao chép nhầm phần các chữ ghép (chữ các 各thành chữ thạch 石 hay chữ quăng 厷) mà ra. Tuy nhiên nhiều học giả Viêt Nam không nhất trí, vì cho rằng các nhà Nho Việt Nam ngày xưa đều rất uyên thâm, khó mà lầm lẫn được. Ai cũng có lý cả!

22 Các sách của Việt Nam có nói đến Hùng Vương, An Dương Vương cổ nhất như Lĩnh Nam Chích Quái 嶺南摭怪, Việt Điện U Linh Tập 粵甸幽靈集 hay Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書  thì cũng soạn vào thời Trần, muộn hơn nhiều so với các sách của Trung Hoa như Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域记, Thái Bình Ngự Lãm 太平御览. Cho nên các sự tích và tên tuổi như Hùng Vương, An Dương Vương… chắc là chép lại từ sách Trung Hoa, vì Việt lúc đó không có chữ viết… Tất nhiên, cũng không loại trừ có những ý kiến khác.

23《交州外域记: “南越王尉佗举众攻安阳王。安阳王有神人皋通,下辅佐,为安阳王治神弩一张,一发杀三百人”: Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông xuống phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”.

24《太平御览》卷348:《日南傳》曰:一發萬人死,三發殺三萬人。佗退,遣太子始降安陽。安陽不知通神人,遇無道理,通去。始有姿容端美,安陽王女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩,亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫,浮海奔竄: “Thái Bình Ngự Lãm, quyển 348 dẫn “Nhật Nam Truyện” viết:.. một phát giết vạn người, ba phát giết ba vạn người. Đà lui, sai thái tử Thủy hàng An Dương. An Dương không biết Thông là thần nhân, thấy (vua) không hiểu đạo lý, Cao Thông bèn bỏ đi. Thủy có tư dung đoan mỹ, con gái An Dương Vương là Mỵ Châu vì thích y đẹp mà xiêu lòng. Thủy sai Châu vào kho cưa đứt nỏ thần rồi về nước báo tin. Đà liền xuất kỳ bất ý (tiến đánh). An Dương Vương nỏ gãy binh tan, trốn chạy ra biển. (Thái Bình Ngự Lãm là sách soạn vào thời Bắc Tống (977 -984), trích dẫn “Nhật Nam Truyện” thì chắc là còn cũ hơn. “Nhật Nam Truyện” hình như đã thất truyền, chỉ thấy trích dẫn lại ở sách này-TGN).

25 Người viết bài này đã đến thăm và khảo sát khá kỹ Bảo Tàng Nam Việt Vương ở Quảng Châu. Bảo tàng xây trên khu lăng mộ của Triệu Mô, vua kế vị Triệu Đà (Thủy chết sớm, Mô là con Thủy thay). Ngôi mộ được phát hiện năm 1983, hầu như còn nguyên vẹn, đồ tạo tác rất kỳ vĩ, tinh xảo chứng tỏ trình độ văn minh của người Việt lúc đó khá cao, nếu không nói là hơn hẳn người Hán. Xem bảo tàng thấy các cổ vật trưng bày như thạp đồng, trống đồng, vũ khí… giống in và còn phong phú hơn nhiều so với Bảo Tàng Lịch Sử quốc gia Việt Nam giai đoạn lịch sử đó.

#26 Lữ Gia, Thừa tướng nắm quyền hành của nước Nam Việt, chống lại nhà Hán,  thua trận bị chém chết. Lữ Gia và người ở Quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lăng mộ và đền thờ hiện còn ở Ân Thi, Hưng Yên

27Nguyễn Hải Hoành: Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc? – http://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/#sthash.0FZriY2F.dpuf.

28 Đại Việt sử ký toàn thư – NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294.


* Người viết bài này xin bày tỏ lời cảm ơn nhà Hán học, dịch giả Trần Đình Hiến về những thảo luận, góp ý quý giá cho phần dịch các đoạn trích trong các sách sử cổ viết bằng văn ngôn trên đây

____

Nguồn: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=9983

Category: Bài viết trích từ báo chí, Văn hóa  | Tags:  | Comments off
September 05th, 2016 | Author:

PHUNU1

Một bài phỏng vấn khác cũng đã được đăng trên báo Phụ Nữ cách đây 12 năm (25/tháng 9/2004)

TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA BÁO PHỤ NỮ VIỆT NAM

VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

GS Nguyễn Đăng Hưng

 Nhà báo

Thưa GS, thời gian qua, ngành giáo dục có nhiều cải tiến giáo dục (từ cải tiến bỏ chấm điểm cho HS tiểu học, cải tiến xây dựng mô hình trường học mới, cải tiến thi vào đại học…). Nhưng, những cải tiến này thay vì làm yên lòng dư luận, lại đang thổi bùng lên những luồng tranh luận lớn hơn về tính hợp lý đúng đắn của các quyết sách. Riêng với GS, ông đánh giá như thế nào về những cải tiến giáo dục thời gian gần đây?

Gs Nguyễn Đăng Hưng

Tôi không lấy làm lạ là mỗi biện pháp đề đạt từ Bộ GD&ĐT đều gây tranh luận có khi khá gay gắt.

Lý do chung là những cải cách đưa ra chưa đồng bộ, chưa thấu tình đạt lý, chưa được tham khảo kỹ lưởng nhất là chưa dứt khoát mà còn vươn vấn nếp cũ, chưa chịu buông hẳn vì những quyền lợi cục bộ đã tồn tại quá lâu, nay ăn sâu vào não trạng như những căn bệnh kinh niên…

Dư luận chung về giáo dục chưa được đồng thuận, quan điểm đổi mới thực thụ và quan điểm bảo thủ trì trệ còn đan xen phức tạp…

Theo tôi thì vì sau 40 năm hòa bình, 70 năm dựng nước, nền giáo dục Việt đã đi lạc đường nay rớt tụt ở tận đáy. Vì sức ép của xã hội ngay cả các từng lớp được chính quyền ưu đãi, nay đã có những bước đi bắt đầu đúng hướng, những cải tổ có ít nhiều thực chất… Tuy vậy, nhìn chung tôi đánh giá là vẫn chưa thấm vào đâu, chưa thay đổi được cục diện, chưa tạo được động tác đột phá cần thiết. Khi căn bệnh đã nhập vào xương, vào tủy mà chỉ chửa trị ngoài da, hay cho uống thuốc cầm chừng thì sẽ không hy vọng có hiệu quả, ít ra trong ngắn hạn.

Nhà báo

Theo ông, vì sao giáo dục Việt Nam vẫn loay hoay tìm đường, sau rất nhiều cải tiến, rồi hủy bỏ, rồi lại cải tiến, rồi lai sửa chữa? Do tư duy giáo dục, hay do thiếu kinh phí, hay do chúng ta kết luận và chê trách Bộ GD-ĐT quá sớm khi mà cải cách giáo dục chỉ mới bắt đầu?

Gs Nguyễn Đăng Hưng

Đừng nghỉ cải tổ giáo dục cần nhiều kinh phí. Nghĩ như thế là sập bẫy các thế lực lợi ích muốn chiếm lĩnh giáo dục để trục lợi cho phe nhóm. Trong cải tổ giáo dục, kinh phì chỉ là điều kiện phụ. Điều kiện chính là có hay không tư duy giáo dục chân chính, tư duy nhân văn khoa học đa chiều?

Những người không có tư duy giáo dục chân chính không thể đứng ra chủ trương cải tổ được! Tại sao từ hơn 40 năm hòa bình có biết bao thời gian cho suy ngẫm, tìm hiểu, tham khảo, thảo luận mà cứ loay hoay tìm đường không có lối ra?

Tại vì bấy lâu nay cái mà nhà chức trách muốn làm là cái sai lạc, còn cái đúng, cái phù hợp lại là cái mà họ cố tình bác bỏ, chối từ…

Thật vậy, chương trình giáo dục đúng đắn, khoa học, nhân văn đã được GS Hoàng Xuân Hãn (bạn rất thân của TT Phạm Văn Đồng), thành viên của chính phủ Trần Trọng Kim đã đề đạt nghiên cứu và thực thi chỉ trong 4 tháng (Chính xác là Từ ngày 20 tháng 4 đến ngày 20 tháng 6 năm 1945). Sau này chính quyền Việt Nam Công Hòa (1955-1975) đã xử dụng hệ thống giáo dục này và đã đạt được những thành quả rất khả quan.

Tôi rất vui nhân ngày Quốc Khánh nhắc đến việc này.

Suốt quá trình trên 70 năm chính quyền mới đã đánh đổ hệ thống này, đánh giá chính phủ Trần Trọng Kim là bù nhìn, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa là ngụy quyền, bác bỏ và miệt thị thẳng thừng chương trình giáo dục này, một chương trình đầy tính nhân văn, khai sáng, đa chiều, được học hỏi nghiêm túc từ các nước phát triển Âu Mỹ…

Rồi tốn bao công sức tìm tòi, gởi bao phái đoàn tham quan, rồi bao lần cải tổ, bao lần thay đổi rút cục đâu lại vào đấy.

Phải bước ra ngoài tư duy giáo điều sáo rỗng, duy ý chí, trọng hình thức, đề cao thành tích, duy trì lợi ích phe nhóm… mới mong có cải tổ thực sự với hiệu quả thực chất lâu dài…

Tôi có thể đề nghị một số biện pháp, một vài quyết định, chẳng tốn kinh phí nào mà sẽ đem lại ngay những sự thay đổi hiệu nghiệm!

Thí dụ trong tư duy giáo dục có sai lầm căn bản lẫn lộn giữa tuyên truyền và giáo dục. Hãy bãi bỏ những bài học nhồi nhét tuyên truyền vô tội vạ nhàm chán không có thực chất trong chương trình trung học và đại học đại chúng. Hãy chỉ giảng dạy chính trị tại các trường chính trị của đảng mà thôi…

Tôi đề dạt chấm dứt ngay các hệ chuyên tu và tại chức. Các hệ này chỉ phục vụ cho các nhóm lợi ích không muốn học mà muốn làm quanl

Các hệ này tự nó phá hoại hệ chính qui, nền giáo dục nghiêm túc, làm nhụt chí con em trên con đường học thực để xây dựng hiệu quả xã hội, kinh tế, công nghệ…

Nhà báo

Theo GS, đâu là điểm yếu nhất của GD Việt Nam?

Gs Nguyễn Đăng Hưng

Chính là cái mà tôi vừa nói. Không có tư duy triết lý giáo dục nghiêm túc khoa học và nhân văn.

Nhà báo

Đã có nhiều năm làm việc tại nước ngoài, ông có thể so sánh một vài điểm giữa cách làm giáo dục ở nước bạn và nước ta? Cũng như ông thấy sự khác nhau nào giữa HS Việt Nam và HS ở nước bạn? Tại sao, những sản phẩm của giáo dục Việt Nam vẫn đang gặp khó khi hội nhập quốc tế?

Gs Nguyễn Đăng Hưng

Đã sống hơn 50 năm tại Châu Âu, đi thỉnh giảng và thường trú nghiên cứu khoa học trên 20 nước tôi thấy rõ lý do của sự tụt hậu của nền giáo dục Việt Nam.

Nền giáo các nước phát triển luôn luôn lấy người đi học, học sinh, sinh viên làm chủ thể. Họ tạo điều kiện để người dân có thể hấp thụ một chương trình giáo dục nhân văn, đa chiều, các tri thức đề cao tính dân chủ tự do, không kỳ thị chủng tộc, giai cấp, tôn giáo, chính kiến. Họ đề cao học thực, ngăn cấm chạy theo bằng cấp, thành tích ảo…

Nền giáo dục như vậy sẽ giúp người học có tinh thần phản biện, phê phán cái cũ, loại bỏ cái lạc hậu để tìm ra chân lý, lẽ phải. Phải như vậy mới là khoa học, mới là học thuật..

Chính vì vậy mà đầu ra sẽ khác hẳn. Ai đã có bằng tốt nghiệp thì ngưới ấy có trình độ thực chất tham gia đóng góp điều hành và phát triển xã hội một cách có hiệu quả.

Qua hai Trung Tâm cao học Bỉ-Việt mà tôi đã tổ chức và điều hành tại các ĐH Bách Khoa TP HCM và Hà Nội (1995-2007) tôi đã mời vể Việt Nam giảng dạy trên 100 giáo sư, nhà khoa học Âu-Mỹ… Hầu hết các đồng nghiệp này đã bày tỏ cùng tôi sự khác biệt mà họ thấy ở sinh viên Việt Nam: Năng kiếu rất tốt nhưng không có đầu óc phê phán và tinh thần sáng tạo…

Sinh viên Việt Nam được đào tạo lại ở Âu Mỹ sẽ phất lên cao vì năng khiếu bẩm sinh và thoát được cảnh nhồi nhét bị động. Họ được trở lại với tình trạng bình thường của con người tự do: biết phê phán và biết sáng tạo…

Phu nu Thu do

Bào báo đăng mới đây ngày 4/9/2016

Nhà báo

Nếu đề xuất một vài giải pháp để “gỡ khó” cho giáo dục Việt Nam, GS sẽ đề xuất những điều gì?

Gs Nguyễn Đăng Hưng

Tôi có cả một chương trình cứu giải có thể đề xuất. Nhưng dài quá, ở đây không nói hết được. Tôi chỉ xin nhấn mạnh ở hai đề xuất quan trọng nhất không cần kinh phí đã nói ở trên:

Hãy bãi bỏ những bài học nhồi nhét tuyên truyền.

Hãy chấm dứt ngay các hệ chuyên tu và tại chức.

Nhà báo

Câu hỏi cuối cùng, nhân dịp đầu năm học mới, GS mong muốn điều gì ở ngành GD trên cương vị một giáo sư? Và mong muốn điều gì trên tư cách một phụ huynh học sinh.

Gs Nguyễn Đăng Hưng

Với tư cách nhà giáo dục, người Việt nam, tôi mong mỏi cải cách giáo nhanh chóng được thực thi có hiệu quả.

Muốn vậy chính phủ nên giao công tác trọng hệ này cho một công trình sư có đủ kinh nghiệm, tư duy, hiểu biết, tầm nhìn và đảm lược, đứng ra ban hành qui chế và điều động tổ chức khâu thực hiện. Công trình sư này phải có toàn quyền chọn lựa nhân sự cộng tác viên. Tôi cho rằng nếu chọn người chính xác, tạo điều kiện đầy đủ thì chỉ trong 3 năm thôi sẽ có đổi thay thực chất.

Với tư cách phụ huynh tôi sẽ phàn nàn là tuy phải đóng thuế cao, nhưng tôi lại không có được một hệ thống giáo dục cần thiết cho con cháu. Là phụ huynh, đã từ lâu tôi đã mất lòng tin ở nền giáo dục nước nhà đến nỗi có chút tiền là tôi phải gửi con ra nước ngoài du học, ngay cả những lĩnh vực không có gì gọi là tiên tiến…

Tôi khó chấp nhận tình trạng này kéo dài thêm nữa…

Gs Nguyễn Đăng Hưng

Sài Gòn ngày 3/9/2016

Category: Bài phỏng vấn, Giáo dục  | Tags:  | Comments off
August 26th, 2016 | Author:

Tượng thi hào Nguyễn Du

NGUYỄN DU QUA

QUẢN TRỌNG TAM QUI ĐÀI

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH

Nguyễn Du  đi qua Đài Tam Qui của Quản Trọng ở Sơn Đông trên đường đi sứ về trong khoảng thời gian 21 tháng 11 đến 11 tháng 12 năm Quí Dậu (1813). Quản Trọng là một nhân vật chính trị, kinh tế, giáo dục  kiệt xuất trong thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc, người đất Dĩnh Thượng nước Tề (vùng Sơn Đông) tên là Di Ngô, tự là Trọng.

Ông là tác giả sách Quản Tử, quyển sách sớm nhất của Trung Quốc luận bàn về luật pháp và kinh tế Trung Quốc thời Cổ Đại bao gồm cả chính trị, thương mại, triết học. Về mặt kinh tế ông đề cập đến : Tài chính, ngân hàng, thương mại, thuế khóa .. tác động mạnh mẽ đến kinh tế Trung Quốc thời cổ đại.

Ông cho rằng bốn cột trụ trong một nước là : Lễ, Nghĩa, Liêm, Sĩ (Chữ ngày xưa rất rộng : Lễ : bao gồm lễ nghi, phép tắc, luật pháp, thi cử.. Nghĩa : bao gồm mối quan hệ mọi người có trước sau, công bằng. Liêm : bao gồm sự trong sạch, liêm khiết,  chính trực. Sĩ bao gồm sĩ khí, lương tâm). Là người lãnh đạo một nước phải tuân theo nếp sống này, làm tấm gương đạo đức cho nhân dân.

 

more…

Category: Bài viết, Chính luận, Văn hóa  | Tags:  | Comments off
August 24th, 2016 | Author:

VỤ KỆN ĐÃ ĐI ĐẾN ĐÂU?

Nguyễn Đăng Hưng

Cách đây ba hôm (20/8/2016), bác Hào Song Trần trên Facebook đã nhắc lại vụ kiện mà tôi là bị đơn với nhiều câu hỏi bỏ lửng… Tôi kèm theo đây link bài của bác Hào Song Trần để các bạn tiện theo dõi.

https://www.facebook.com/saohong.tran/posts/10204114587492204

Tôi thấy cần phải trả lời những câu hỏi, nhất là những câu hỏi dành cho tôi vì tôi có được những thông tin mà nhiều người muốn biết.

Trong bài này, tôi chỉ tập trung vào nội dung vụ kiện, những phần nổi mà tôi được biết…

Đặc biệt tôi không hề biết và cũng không có ý kiến gì về câu hỏi: “Đằng sau có gì?”

more…

Category: Bài viết, Chính luận, Thông báo  | Tags:  | Comments off
August 24th, 2016 | Author:

THỬ PHẢN BÁC TỪNG ĐIỂM TRONG ĐƠN CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KIỆN

GIÁO SƯ NGUYỄN ĐĂNG HƯNG

Hiệp Sĩ Đường Phố

Tôi biết đến tên tuổi của GS Nguyễn Đăng Hưng từ lâu qua báo chí, nhưng chỉ mới liên lạc được với ông trong năm ngoái.

Biết được số điện thoại của ông, chúng tôi có nhã ý mời ông đi uống cà phê tại Q3, Sài Gòn. Sau một hồi lâu trò chuyện, tôi có hỏi ông về việc ông bị Trường Đại Học Tôn Đức Thắng kiện chung quanh việc Tạp chí khoa học APJCEN ra đời. Ông tóm gọn cho tôi biết diễn tiến đã xảy ra và không quên kể ra những khổ tâm mà ông phải gánh chịu.

more…

Category: Bài viết, Chính luận, Tài liệu  | Tags:  | Comments off