Saturday, March 01st, 2008 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

NHÀ BÁO TRƯỜNG KIÊN TRAO ĐỔI VỚI GS.TS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG

“Tôi làm theo những gì mà trái tim tôi mách bảo…”

VIETNAMNET-NGƯỜI VIỄN XỨ - 11:39′ 15/04/2004 (GMT+7)

*********

Được tin ngày 28.03.2004, GS.TS Nguyễn Đăng Hưng từ Bỉ về đến TP.HCM, chúng tôi liên lạc ngay với ông để xin một cái hẹn. Một tuần sau, chúng tôi được ông tiếp tại văn phòng (Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM), nhưng cũng chỉ đủ thời gian cho việc thăm hỏi và vài ba câu chuyện… bên lề. Mãi đến chiều 14.04.2004 chúng tôi mới có dịp gặp lại ông tại Tòa soạn Chuyên san Người Viễn Xứ, để thực hiện cuộc trao đổi này. Trước khi bắt đầu cuộc trò chuyện, ông… thông báo: “Ngày mai tôi sẽ phải đi Đà Nẵng, Huế và Hà Nội. Tôi ở đến 24.04 mới trở lại TP. HCM. Sau đó ngày 26.04.2004 tôi sẽ lên đường qua Bỉ “.

Từ nhiều năm nay, ông - GS.TS Nguyễn Đăng Hưng đã dành không dưới 60% quỹ thời gian của mình cho Việt Nam. Ông đi - về giữa Bỉ và Việt Nam như con thoi: bình quân 4 chuyến một năm. Và hầu hết thời gian ông ở Việt Nam là dành cho hai trường Đại học Bách khoa tại TP.HCM và Hà Nội.

 Thưa Giáo sư, hơn 40 năm sống ở nước ngoài, điều gì làm ông trăn trở nhất mỗi khi chạnh lòng nhớ quê hương?

- Điều gì làm tôi trăn trở nhất khi chạnh lòng nhớ quê hương? 40 năm sống ở nước ngoài là hơn 2/3 đời người phiêu bạt ở xứ lạ quê người… Phải nói trăn trở thì triền miên nhưng thời thanh niên, thời tráng niên, và bây giờ đã trên sáu mươi rồi, mỗi giai đoạn của cuộc đời mối trăn trở có khác… Thật vậy, 40 năm qua, đất nuớc chúng ta đã trải qua biết bao dâu bể thăng trầm, cục diện thế giới cũng có rất nhiều xáo trộn, đổi thay… Câu hỏi của anh cần cả một thiên hồi ký gồm nhiều chương sách… Tôi lại có một tuổi ấu thơ khá bất hạnh vì sinh ra là lớn lên tại miền Trung xứ Quảng sớm mồ côi mẹ, bị thất học, bị chiến tranh tàn phá ác liệt cướp đi bao nhiêu người thân, bao nhiêu ước mơ… Có lẽ vì số phận khá đặc biệt này mà nỗi trăn trở của tôi về đất nước thường day dứt khôn nguôi, chuyển biến qua thời gian, theo diễn tiến của thời cuộc…

* Giáo sư là người “gắn” khá chặt với quê hương - đặc biệt khi ông đã được xem là người-thành-đạt…

- Nếu gắn cuộc đời của tôi với các mốc lịch sử của đất nước mình, tôi có thể tóm lược như sau: giai đoạn thanh niên của tôi (từ năm 1960-75) là cuộc chiến tại Việt Nam. Giai đoạn tráng niên (từ năm 1976-90) là những bất cập của những chính sách bao cấp trong giai đoạn tiền đổi mới, và trong giai đoạn đất nước mở cửa là ý thức trách nhiệm của một nhà khoa học, một giáo sư đại học - sinh ra và lớn lên tại một vùng đất kham khổ, lam lũ, có quê hương là một đất nước bị chiến tranh tàn phá khủng khiếp, tự đặt cho mình nỗi trăn trở: làm thế nào giúp đất nước đi nhanh đặc biệt trong những lĩnh vực chuyên môn của mình…

Thời còn là sinh viên, ở những năm đầu đại học, báo chí phương Tây khi đưa tin về chiến tranh Việt Nam đã ảnh hưởng không ít đến tư duy của tôi - một người Việt xa xứ. Lúc ấy, tôi cũng đã bắt đầu ý thức đến hiểm họa của một cuộc chiến khốc liệt sẽ gây ra đau thương tang tóc cho đồng bào trong nước. Tôi nhớ lúc ấy tôi đã từng viết:

Tôi thấy mình còn chưa biết,

Bên trời mưa gió làm sao

Cả triệu linh hồn hủy diệt

Một thân lệ nuốt chưa vào!

(Bên trời, 1963)

Sau này, diễn tiến của cuộc chiến có khác, nỗi trăn trở trong tôi cũng đổi thay. Lúc ấy tôi đã bày tỏ những suy nghĩ của mình về một giấc mơ hồi hương:

Những ngày đất nước bão giông

Ra đi canh cánh trong lòng trời mây

Tin về gói trọn vòng tay

Tháng năm phiêu bạc một ngày đoàn viên

Cũng vì thao thức triền miên

Ngồi đây tiếng súng bưng biền vọng sang…

(Hoài hương, 1973)

Nước nhà thống nhất, hòa bình vãn hồi là lúc tôi bước vào tuổi tráng niên. Tôi đã là giảng viên đại học, đang thực hiện những công trình nghiên cứu khoa học trong giai đoạn sung mãn nhất.

* Được biết, Giáo sư đã trở về nước rất sớm…

- Vâng, tôi đã có mặt tại Việt Nam ngay từ những năm 1976, 1977, 1979, mặc dù lúc ấy điều kiện đi lại cò
n khó khăn. Lúc đó tôi đã có ý định hồi hương, chuẩn bị cho việc góp một phần rất khiêm tốn của mình vào công cuộc kiến thiết đất nước…

* Thế nhưng điều gì đã xảy ra sau đó?

- Sau một thời gian khảo sát, tìm hiểu tình hình Việt Nam, mắt thấy tai nghe, cũng như đông đảo Việt kiều có điều kiện “đi thực tế”, tôi lại có những trăn trở không ngờ trước được… Tôi đã ghi lại những cảm nghĩ này sau chuyến tham quan Việt Nam năm 1979 trong một bài bút ký và mười năm sau đó mới gởi cho một tờ báo Việt kiều bên Pháp:

“Lên sân bay Tân Sơn Nhất, tôi nhìn lại gia đình, bè bạn đi đưa, nhìn những ánh mắt đăm chiêu, những gương mặt hốc hác, lòng tôi như có gì ảm đạm, xót xa hơn những chuyến trước. Tôi thấy càng ngày càng xa ra. Một giới tuyến vô hình nhưng vô cùng kiên cố đã được dựng lên giữa họ và tôi. Phải qua thời gian tôi mới nhận diện ra nó một cách chắc chắn. Kỹ thuật đông lạnh tinh vi nào đã hình thành những khối băng khổng lồ vĩnh cửu, co cứng lại ngay trong vùng nhiệt đới! Tôi cố bào chữa, nghĩ đến chiến tranh tàn phá, cán bộ tiêu hao, nhưng vẫn thấy toát ra những điều nghịch lý của một cơn ác mộng…”

(“Bút ký của một nhà khoa học Việt Kiều”, báo Đoàn Kết số 418, Paris, 1989).

* Còn sau đó nữa…, điều gì đã lại làm cho ông “chuyển hướng”về quyết định gắn-bó-với-quê-nhà, thưa Giáo sư?

- Và từ những trăn trở như tôi đã nói ở trên, chính là động cơ để tôi tham gia ký “Tâm thư” gởi về lãnh đạo Việt Nam, tham gia thảo kiến nghị gởi về Đảng Cộng sản Việt Nam vào thời kỳ đất nước còn trong giai đoạn bao cấp.

Tuy nhiên, phải đợi sau Đại hội Đảng lần VI, khi những chính sách đổi mới bắt đầu rõ nét, phải đến những năm tháng của thập niên 90 (thế kỷ XX), tôi mới tìm được những điều kiện để có thể thực hiện phần nào những hoài bão của một người Việt sống xa xứ - nhưng luôn luôn quan tâm đến công cuộc phát triển đất nước… Những trăn trở của thời mở cửa, của giai đoạn hội nhập lại càng day dứt hơn, nhưng tôi quyết định lao vào những việc cụ thể, thực hiện nhanh chóng những gì trong tầm tay. Thời gian không chờ đợi tôi nữa, tuổi về hưu đã cận kề… Tôi gác qua một bên những suy tư trăn trở và âm thầm, cần mẫn như một con ong, gầy dựng cho tới ngày nay những Trung tâm đào tạo cao học mà anh biết…

* Theo Giáo sư, giữa cái nghèo nàn, lạc hậu và sự sút kém, tụt hậu về nền tri thức của một dân tộc thì đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả?

- Đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả của sự sút kém, tụt hậu của dân tộc ta? Anh lại đặt cho tôi một câu hỏi lớn! Trả lời câu hỏi này cần một thế hệ những nhà sử học nghiêm túc, cần thời gian nghiên cứu thâm sâu, nhất là cần những con người có tâm có lực, có lòng quả cảm, biết nhìn thẳng vào sự thực để phê phán lịch sử… Tôi lại chỉ là một kỹ sư, một nhà giáo, một chuyên gia về một lãnh vực công nghệ, quanh năm suốt tháng tất bật chung quanh “các vết nứt của vật thể”, sự tồn vong của “các cấu trúc phức tạp”, chung quanh các chương trình “tính toán vạn năng”… Nói vậy, nhưng không vì thế mà tôi trốn tránh trả lời câu hỏi bức thiết này. Dĩ nhiên là câu trả lời của tôi chỉ có một giá trị tương đối mà thôi…

Hậu quả thì ai cũng thấy thôi, đại đa số người Việt chúng ta ngay cả những người Việt định cư tại hải ngoại là nạn nhân của tình trạng này… Nhưng nguyên nhân ở đâu?

Để thấu triệt các nguyên nhân này tôi xin đặt ngược câu hỏi, rồi thử soi sáng vấn đề theo dòng lịch sử của dân tộc Việt: vì những lý do gì và ở thời nào dân tộc Việt đã tạo được cho mình chỗ đứng tiên tiến, đã biến nước ta thành cường quốc tại Đông Á một thời?

Theo chỗ hiểu biết khiêm tốn của tôi, nếu cương vực dân tộc Việt cổ đã được xác định từ lâu, phải đợi đến thời Lý, văn hiến của dân tộc Việt mới bắt đầu được khẳng định. Tôi nghĩ đến “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn, đến “Tuyên ngôn độc lập” của Lý Thường Kiệt trên bờ sông Như Nguyệt, đến việc xây dựng Văn Miếu, đến sự quan tâm trọng dụng hiền tài của các vị anh quân thời bấy giờ… Chính nhờ tri thức chân chính được lên ngôi mà Đại Việt đã hình thành được một xã hội đồng thuận, nắm bắt được những kỹ thuật tiên tiến nhất thời bấy giờ… Ta biết, sau cuộc kháng chiến gian khổ kéo dài mười năm giải phóng dân tộc Việt ra khỏi ách đô hộ nhà Minh, sau một thời nội bộ triều đình thiếu ổn định, phải đợi đến vị anh quân trí thức Lê Thánh Tôn lên ngôi mới giải oan cho bậc trí thức anh hùng Nguyễn Trãi, xây dựng nền thịnh trị kéo dài ngót 40 năm. Và chính giai đoạn này Đại Việt mới trở thành cường quốc tại Đông Nam Á.

Ngược lại những giai đoạn trí thức chân chính bị bạc đãi, nho sĩ cơ hội cầm quyền thì đất nuớc suy vong tụt hậu. Tôi nghĩ đến thời Tự Đức, đến bản Điều trần tâm huyết của nhà yêu nước Nguyễn Tường Tộ. Thời bấy giờ triều đình không ai có quyền có thế, có tri thức để giúp vua thoát ly ra khỏi tư duy lạc hậu, lấy phong kiến Trung Quốc làm mẫu mực… Người Nhật đã có được một tầng lớp sĩ phu chân chính, đã đánh giá chính xác thời cuộc thế giới và đã giúp cho Nhật Hoàng đưa nước Nhật lên đài vinh quang mà ai cũng biết.

Và như vậy theo tôi, sự tụt hậu phát xuất không những từ yếu tố khách quan: sau một gian dài chiến tranh, sinh lực dân tộc tiêu hao cùng cực, mà quan trọng hơn, những yếu tố chủ quan: ta
bỏ lỡ nhiều dịp tạo đồng thuận xã hội, ta đã đánh mất nhiều cơ hội lịch sử vươn lên phát triển, ta đã chưa tận dụng đúng mức vốn tri thức chân chính sẵn có của dân tộc, trong đó có chất xám Việt kiều…

May thay trong những năm gần đây của thời mở cửa, xu thế hội nhập ngày càng sáng tỏ, hướng đi lên ngày càng rõ nét… Tôi có cảm tưởng nguy cơ tụt hậu dần dần được đẩy lùi… Nhưng theo tôi, cần phải nỗ lực gấp bội mới xóa bỏ được tư duy bao cấp vẫn còn tiềm tàng ở mọi cấp mọi nơi, cần phải cải cách, đổi mới quyết liệt hơn nữa mới mong bắt kịp các nước lân bang.

* Từ năm 1977 đến nay, Giáo sư đã trực tiếp tham gia, tạo “chiếc cầu nối” cho không ít sinh viên và các nhà khoa học Việt Nam được có điều kiện học tập, bồi dưỡng kiến thức ở nước ngoài và cụ thể là đã tạo điều kiện cho không ít người trở thành những Thạc sĩ, Tiến sĩ. Giáo sư có thể giới thiệu sơ lược về vai trò “cầu nối” ấy? Xuất phát từ động cơ nào Giáo sư đã làm điều ấy từ suốt 27 năm qua?

- Như tôi đã nói ở trên, tuổi ấu thơ tôi có nhiều nỗi bất hạnh vì chiến tranh và vì nhiều may mắn tôi đã phải học “nhảy”, đuổi bắt cho kịp với thời gian mà mình đã mất, vượt qua được những rào cản, được học bổng của chính phủ Bỉ xuất dương du học từ năm 1960. Được dịp về thăm đất nước sau ngày hòa bình tái lập, tôi có dịp chứng kiến tình trạng cơ cực của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Nhìn em bé đánh giày ngoài phố, em bé chăn trâu ở đồng quê, tôi như tìm lại chính tôi ngày xưa… Và từ ấy tôi đã tự nói với bản thân, với bất cứ giá nào phải làm được một điều gì đó cụ thể và hữu ích cho đất nước…

Tôi vốn thích những gì cụ thể, tôi bắt đầu bằng những gì trong tầm tay, thực hiện những dự án nho nhỏ, để một mặt tạo niềm tin cho chính mình, đồng thời tạo lòng tin nơi các cấp chính quyền hai bên (Việt Nam và Bỉ), rồi dần triển khai những dự án dài hơi, tầm cỡ…

Khi lựa chọn cho mình vai trò “chiếc cầu nối”, tôi cũng đã chọn con đường thực tế và hữu hiệu, có tính khả thi cao để giúp Việt Nam phát triển. Tôi trộm nghĩ, đào tạo chuyên gia, bồi dưỡng kiến thức của các giáo chức đại học, tạo dựng đội ngũ nghiên cứu sinh, tạo điều kiện chuyển giao công nghệ tiên tiến, tổ chức du học tại chỗ… là góp phần nhỏ cho tương lai dân tộc Việt. May thay, tôi có nghiệp vụ ổn định tại một nước có công nghệ phát triển, tôi được dịp tiếp cận với khoa học quốc tế, tôi có kinh nghiệm hợp tác phát triển và nhất là tôi có thói quen tổ chức, quản lý và thực hiện các dự án tại địa bàn châu Âu.

Hình thành các chương trình đào tạo thạc sĩ quốc tế tại chỗ trong thời buổi rất khó khăn, tôi muốn trong điều kiện cho phép và riêng trong lĩnh vực chuyên môn của tôi, đáp ứng một phần những nhu cầu khẩn thiết của các đại học và cơ sở công nghệ Việt Nam: khan hiếm nghiên cứu sinh và giảng viên giảng dạy có trình độ tiên tiến Âu-Mỹ, thiếu thiết bị, sách vở tài liệu tham khảo hiện đại và nhất là đang loay hoay đi tìm hướng đi thích hợp cho việc đào tạo bậc cao học…

* Nói thì nghe có vẻ dễ dàng, nhưng thực tế thì chắc là không hề đơn giản. Phải thế không, thưa Giáo sư?

- Thực hiện một chương trình đào tạo quốc tế tại Việt Nam trong thời điểm ấy giờ là cả một vấn đề phức tạp. Câu hỏi của anh làm tôi nhớ đến những năm đầu của thập kỷ 90, lúc tôi bắt đầu triển khai các dự án du học tại chỗ, trong một bối cảnh hoàn toàn khác với hôm nay. Một cán bộ an ninh thành phố đã có lần gọi tôi lên đặt một câu hỏi: Đâu là ý đồ, là động cơ khi ông hăm hở về Việt Nam khá thường xuyên, để thuyết trình khoa học, tổ chức seminar, tổ chức du học tại chỗ? Tôi đã trả lời: “Ông là công an, ông có tất cả những phương tiện để kiểm tra, theo dõi và phát hiện những ý đồ (nếu có) của tôi. Nhưng theo tôi, xin ông không nên tốn nhiều công sức, vì tại Việt Nam tôi chỉ hành động theo những gì mà trái tim tôi mách bảo…”.

* Hiện nay Bộ Giáo dục – Đào tạo (GD-ĐT) đang nỗ lực tham khảo các giáo sư, các lãnh đạo đại học để chuẩn bị cho những cải tổ. Giáo sư có nhận xét gì về giáo dục đại học (GDĐH) ở Việt nam và có đề nghị gì cho việc cải tổ?

- Đây lại là một câu hỏi lớn. Là người đã lăn lộn tại Việt Nam trên hơn hai thập niên, đã thực hiện một số chương trình hợp tác quốc tế, du học tại chỗ với nhiều trường ĐH tại Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học công nghệ, tôi không thể không có những nhận xét cá nhân và những đề nghị cụ thể. Tuy nhiên, vấn đề này cần thêm thời gian và giấy mực, tôi xin khất với nhà báo và xin hẹn một buổi khác. Nay tôi xin chỉ nói nhanh những ý chính:

1. Những lợi thế về GD-ĐT của Việt Nam trong thời bao cấp (Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, đã nhanh chóng thanh toán nạn mù chữ) đã trở thành những chướng ngại to lớn trong thời mở cửa! Việt Nam không thể thực hiện có hiệu quả việc cải tổ nền giáo dục - đặc biệt là giáo dục đại học, nếu không dứt khoát loại bỏ tư duy lỗi thời coi trọng lượng hơn phẩm, chạy theo thành tích, chạy theo con số, coi trọng hư danh hơn thực học, chạy theo bằng cấp…

2. Việc trì trệ, tụt hậu trầm trọng của nền giáo dục, phát xuất từ những sự chệch hướng sai lầm đã bắt đầu từ nhiều thập niên. Việc chấn chỉnh
đòi hỏi một quyết tâm cao độ, một lộ trình ít nhất mười năm, nhất là ở những quyết định triệt để từ cấp cao nhất của chính quyền.

3. Việc chấn chỉnh nền giáo dục Việt Nam cần thời gian nghiên cứu cặn kẽ các nền giáo dục hiện hành thành công ở các nước tiên tiến, cần lắng nghe ý kiến đa chiều và nhất là cách thức, phương pháp, hành xử của các khâu thực hiện của các bậc thức giả, các chuyên gia, các giáo chức quốc tế, đã có quá trình cọ xát thực tiễn, đã có kinh nghiệm nghề nghiệp tại các nước tiên tiến.

Tôi sẽ phát triển thêm những ý kiến này, nhất là đưa ra những đề đạt cụ thể trong một dịp khác, dài hơi hơn…

* Cái “tài” của người trí thức, đất nước nào cũng cần. Thế theo Giáo sư, cái “đức” của họ có quan trọng không? Hay chỉ cần “tài” là đủ?

- Người có tài mà không có đức là những ánh sao băng. Người tài đức vẹn toàn mới là những ánh sao lung linh trên bầu trời trăng sáng… Quan điểm của tôi về chữ “Đức” thì cũng rất cổ điển thôi… Không có lương tâm soi sáng cho hành động thì đạo đức bị xói mòn… Vấn đề của một nước đang phát triển như Việt Nam, theo tôi, là phải làm sao giữ được và đưa lên được đúng chỗ, đúng cương vị người tài đức để bầu trời bớt nhá nhem, để vàng thau không lẫn lộn… Đôi khi, tôi không thể không bức xúc, xót xa khi thấy những hành vi thiếu đạo đức lại trở thành quá bình thường, nhan nhản trong xã hội… Không có nguy cơ tụt hậu nào nguy hiểm hơn nguy cơ suy đồi đạo đức. Thật đáng sợ, khi người ta coi việc mua bằng, việc học dỏm là chuyện cơm bữa; người ta xem việc sao chép, đạo văn, đạo nhạc như chuyện kiếm sống nên làm; người ta cắt xén công quỹ nhà nước như đi hái trái chín ngoài cây, đi gặt lúa ngoài đồng (!?). Ở điểm này vai trò hướng thiện, vạch ra trước công luận cái xấu, cái ác, bảo vệ cái tốt, cái hay, cái đẹp, cái đạo đức của báo chí, của các anh là vô cùng khẩn thiết và quý giá…

* Nhiều năm sống và làm việc ở nước ngoài; Giáo sư có nhận xét gì về những người Việt Nam sống xa xứ? Việt kiều mình có những khác biệt gì cơ bản so với các kiều dân khác trên thế giới?

- Đã một thời không xa, mảnh đất Việt Nam là địa bàn liên tiếp của hai cuộc chiến tranh thảm khốc vào bậc nhất của lịch sử loài người. Là người Việt Nam, nhất là ở lứa tuổi chúng tôi, ít có ai không mất mát, không tan tác vì chia cắt, vì dâu biển, vì chia ly… Chủ quyền vào tay ngoại bang trong một thời gian rất dài, chiến tranh lạnh, chiến tranh cục bộ, máu thịt tan tác… Người Việt chúng ta đã phải gánh chịu tất cả những điêu linh ấy của giai đoạn lịch sử thế giới phân cực, mà ý đồ thôn tính đã bất chấp quyền lợi và số phận của một dân tộc vốn hiếu khách, cởi mở và nhất là nhân nghĩa và đạo lý… Tôi có cảm tưởng người Việt sinh sống ở hải ngại thuộc thế hệ chúng tôi khác với các dân tộc khác, cũng vì hoàn cảnh đau thương cá biệt này… Thế hệ thứ hai, thứ ba có khác nhưng lại ít gắn bó hơn với quê hương hơn thế hệ cha ông…

Một điểm khác, tích cực hơn, là ít có dân tộc nào hiếu học bằng dân tộc Việt Nam. Gia đình nào, kinh tế khiêm tốn cách mấy đi nữa cũng tạo điều kiện cho con cháu đi học, đỗ đạt thành tài… Mà trong việc học, người Việt lại tiếp thu nhanh, trong thời gian ngắn vươn lên nắm bắt những bí quyết khoa học công nghệ tiên tiến nhất…

Chất xanh trong tay người Việt xa xứ so với các dân tộc khác, có lẽ khiêm tốn hơn, nhưng chất xám thì có thế nói là rất phong phú dồi dào…

* Suốt buổi, chúng ta đã đề cập khá nhiều đến chuyện đất nước, chuyện dân tộc… Vậy, Giáo sư có thể giới thiệu đôi nét về chuyện-gia-đình?

- Gia đình lớn của tôi như anh đã biết có nhiều bất hạnh, tan tác vì chiến tranh… Gia đình nhỏ của tôi, được bình yên hơn tại trời Âu… Các con lớn của tôi đều học hành đến nơi đến chốn, đều tốt nghiệp đại học, có nghiệp vụ ổn định và nên vợ nên chồng, có con có cái, êm ấm thuận hòa… Tôi chỉ còn phải lo cho cậu con út nay mới 9 tuổi… Người bạn đời hiện nay của tôi là người phụ nữ Việt Nam tôi đã gặp ngày mồng một Tết khi cô ấy đi dâng hương tại lăng Ông Bà Chiểu. Có lẽ, vì cái duyên kỳ ngộ này mà chúng tôi sống với nhau rất hạnh phúc. Người phụ nữ ấy, chẳng những là nguồn cảm hứng cho những việc hằng ngày của tôi mà là một trợ lý rất đắt lực, nhất là những gì tôi làm cho Việt Nam

Nếu được, xin anh chuyển hộ mấy câu đầu bài thơ tôi làm tặng vợ:

Không em đời sẽ ra sao?

Buổi đầu gặp gỡ như vào thời gian

Phút giây dừng lại phím đàn

Không em héo úa như ngàn rừng thiêu

Không em héo hắt con tim

Có chăng thì chỉ nỗi niềm vu vơ

Gặp em nào có ai ngờ

Anh như hiểu được bến bờ thế nhân…

* Ước nguyện cuối đời của Giáo sư là gì?

- Có sức khoẻ và còn thêm một đoạn ngắn nữa của quỹ thời gian để làm thêm một ít việc cần làm… Có điều kiện để thực hiện vài giấc mơ nho nhỏ của thời niên thiếu… Tôi mong mỏi sống lại thuở ấu thơ bên dòng suối nhỏ, có nước chảy róc rách trong buổi trưa hè hay được thường xuyên nằm nghe trước khi chợp mắt – giai điệu bất tận phát ra từ thuở hoang sơ, tiếng rì rào của sóng biển ngày đêm vỗ về cát trắng…

* Xin cảm ơn Giáo sư đã dành thời gian cho buổi trao đổi hôm nay.

 

TRƯỜNG KIÊN thực hiện

You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. You can leave a response, or trackback from your own site.
Leave a Reply » Log in