Phần II: Nếu là Bộ trưởng Bộ GD&ĐT tôi sẽ thay đổi ít nhất 50% nhân sự
http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/doisongnvx/hdvktrongnuoc/2006/08/600511
http://www2.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2006/08/599739/
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=154489&ChannelID=13
Giải bày của phóng viên HỒ DUYÊN
Khi trò chuyện cùng GSTS Nguyễn Đăng Hưng, chúng tôi càng hiểu hơn những gì mà ông đã dày công tạo dựng cho giáo dục Việt Nam, cho những sinh viên nghèo…GS Nguyễn Đăng Hưng “lấy làm tiếc…” khi phải về hưu, nhưng chúng tôi, những người thực hiện cuộc phỏng vấn này càng lấy làm tiếc hơn…
Phóng viên
Thưa Giáo sư, vậy 12 năm qua, ông nhận được những gì từ những việc mình đã làm?
GSTS Nguyễn Đăng Hưng (GSTS NĐH)
Xác định quay về Việt Nam là chấp nhận khó khăn nhưng quả thật “cái tình” mà tôi đã nhận từ những học trò của mình là không thể cân, đo, đong, đếm được và đánh tan những phiền muộn trong lòng. Vào thời điểm còn khó khăn, có em đứng tên mua đất dùm tôi sau đó sang tên cho tôi cất nhà hiện tại tôi đang ở mà không nề hà khó khăn. Có em đã đứng ra bảo lãnh khi tôi cần người ký giấy xin lại quốc tịch và hộ khẩu tại Việt Nam. Xúc động nhất là các em lấy ngày sinh nhật của tôi (01 tháng Giêng) làm ngày họp mặt truyền thống. Còn nữa, tôi đã đem đến Việt Nam những giáo sư tên tuổi, đầu ngành ở châu Âu, họ là bạn bè thân thiết của tôi. Có người đã đến Việt Nam hàng chục lần để giảng dạy nếu ở các nước khác phải trả cho họ 1.500 Euro/ngày nhưng tất cả đều dạy miễn phí. Thậm chí tiền để mua ô tô đưa rước họ tôi đề nghị đổi thành những học bổng và thay vì đi xe hơi, tôi yêu cầu sinh viên đến khách sạn đưa rước họ bằng Honda. Số tiền dành dụm ấy đã cứu vớt biết bao em sinh viên nghèo hiếu học. Và khi tôi gặp khó khăn, bạn bè nhiều nơi đã gởi email chia sẻ, động viên, có lúc nước mắt tôi đã rơi trên bàn phím…Nhưng với tôi đó là những hạnh phúc mà không phải ai cũng có được…
Phóng viên
Trở lại chuyện cũ, xin hỏi thật ông: là một Giáo sư tên tuổi và thành công ở Bỉ, khi quyết định quay về VN, ông có lường hết khó khăn? Điều gì đã khiến ông đi đến quyết định đó?
GSTS NĐH
Lý do nằm trong tim tôi! Đối với tôi, Việt Nam là số phận, là cái nghiệp của cuộc đời. Trước khi về, tôi đã tiên liệu được hết, thậm chí cả những bất trắc, hiểm nghèo…
Việt Nam vẫn còn những sinh viên sống lây lất mà đầy khát vọng, đó là hình ảnh của tôi thời ấu thơ, tôi chỉ khác họ là có một ngày, tôi được học bổng đi Bỉ. Tôi thấy có bổn phận phải làm cái gì đó hữu ích cho tuổi trẻ Việt Nam mà không đòi hỏi…Giờ đây, nhìn lại, tôi cảm thấy có phần thanh thản. Tôi đã có chỗ ở tại VN, có nhà ổn định để sống quãng đời còn lại, nhưng thú thật lòng tôi vẫn chưa yên…
Phóng viên
Vâng, một trí thức nặng lòng như ông về hưu không có nghĩa là yên nghĩ…?
GSTS NĐH
Như tôi đã nói trong email gởi các bạn. Tôi đã thấy mệt mỏi, cần nghĩ ngơi dành thời gian cho gia đình và những việc khác. Tôi đang mở công ty thiết kế phần mềm làm xe hơi cho Đức và có lẽ sẽ tham gia tư vấn cho một số trường đại học mà tôi đặt kỳ vọng. Tôi sẽ không làm gì mà tôi cho là sẽ không đem lại hiệu quả. Đã qua rồi cái thời góp ý chung chung, phải làm việc cho có kết quả cụ thể chứ không thể ngồi chơi xơi nước, làm hoa, làm cảnh…
Phóng viên
Ông thường nhắc đến “đẳng cấp quốc tế” trong giáo dục. Vậy theo ông cần khắc phục như thế nào để nền giáo dục nước ta được xem là có “đẳng cấp quốc tế”?
GSTS NĐH
Cái buồn của tôi là tư duy Việt Nam nói chung chưa đánh giá đúng mức thế nào là đẳng cấp quốc tế thực sự. Biểu hiện thực tế của đẳng cấp quốc tế chính là đào tạo thực chứ không phải đào tạo ảo. Muốn có trường Đại học đẳng cấp quốc tế, truớc hết các thầy tham gia giảng dạy phải thực sự có đẳng cấp quốc tế. Muốn có đẳng cấp quốc tế phải có một thời gian dài cọ xác với nghiên cứu khoa học, chung đụng lâu năm với phong cách giảng dạy quốc tế. Không thể đứng tại Việt Nam, đọc giáo trình của một trường Đại học quốc tế, tìm cách bắt chước giảng lại, rồi bảo đây là quốc tế! Cọ xác với trình độ quốc tế đòi hỏi quá trình học tập dày công, khỗ luyện lâu năm,
nhất là thực hiện những công trình nghiên cứu khoa học được quốc tế công nhận, đăng tải thường xuyên những công trình này trên các tạp chí quốc tế, có ban khoa học quốc tế thẫm định, tham gia thường xuyên những hội thảo khoa học quốc tế…
Tôi nghĩ ông Bộ trưởng đã thấy và nhà giáo nghiêm túc của Việt Nam, các Việt kiều tâm huyết đã thấy và có ý kiến. Chính tôi đã cùng 19 giáo sư Việt Nam và Việt kiều đồng ký một văn bản có tên là kiến nghị Hoàng Tụy nhằm chấn hưng nền giáo dục Việt Nam. Bây giờ nói thêm, tôi thấy nó… nhàm. Tại sao lãnh đạo tuy lắng nghe trân trọng nhưng tiếp thu thực hiện lại quá chậm và không có đột phá? Nền giáo dục xuống cấp đã quá lâu. Tư duy học ảo đã thấm nhuần qua một quản thời gian quá dài nên sự tiếp thu thực hiện của lãnh đạo cao cấp rất khó biến thành mệnh lệnh cụ thể, chuyển về thuộc cấp của mình.
Phóng viên
Giả sử nếu là Bộ trưởng Bộ giáo dục Việt Nam, những vấn đề ông ưu tiên giải quyết là gì?
GSTS NĐH
Tôi không hề nghĩ đến chức vụ ấy bởi tôi chỉ là…một phó thường dân. Phải nói thật đây là một nhiệm vụ không dễ dàng chút nào ở Việt Nam. Nhưng thử giả thuyết là Bộ trưởng, tôi sẽ làm gì trước tiên? Có lẽ phải việc đầu tiên phải làm là thay đổi ít nhất 50% nhân sự, sa thải những người thiếu trách nhiệm, chỉ giữ lại những người tâm huyết, thành lập ngay một tập thể các đồng nghiệp biết xã thân cho công cuộc đổi mới toàn diện nền giáo dục Việt Nam, lấy thực học làm cơ sở cho tất cả những chọn lựa quyết liệt cần phải có. Tôi tâm đắc với những điều mà tân Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết phát biểu khi nhậm chức. Đó là đất nước còn nhiều việc phải làm, còn nhiều người dân chưa có niềm vui. Đổi mới không thể nửa vời, không thể quay lưng với thực tế, với sự thật. Muốn được vậy, phải xây dựng cho được các phong trào quần chúng chống tham nhũng, đẩy lùi tiêu cực, chọn lựa đúng người để giao phó trọng trách. Tôi không hiểu ta bắt chước ai, từ buổi nào mà bổ nhiệm, cơ cấu trước rồi mới đào tạo sau? Ngay trong buổi đầu của giai đoạn dựng nước các vua đất Việt cũng đã nghĩ đến tổ chức thi cử nghiêm túc để tuyển chọn người tài ra làm quan, người tài có thế đến bất cứ từ đâu, giai cấp quý tộc hay nông dân tầm thường.
Tôi không hiểu được tại sao truyền thống tuyển chọn nhân tài ngàn năm lịch sử cao đẹp này lại bị phủ nhận không kèn không trống theo huớng tụt hậu không giống ai, như hiện nay ở nuớc ta?
Nhà báo bảo tôi phát biểu cái gì là ưu tiên trong tình hình hiện nay? Về giáo dục phổ thông, sau kỳ thi tuyển vào Cao đẳng và Đại học, sau những phát hiện gian lận có tổ chức và có qui mô lớn, báo chí đang nói nhiều về những gì cần làm ngay và tân Bộ trưởng đã có những phản ứng đáng trân trọng. Ở đây tôi xin chỉ đề cập đến lĩnh vực giáo dục đại học, chuyên môn của tôi. Tôi xin có bốn đề xuất cụ thể mà ba trong đó chỉ cần có quyết tâm là có thể làm ngay, không cần thêm ngân sách cho nền giáo dục :
1. Dẹp bỏ các hệ đào tạo khác, chỉ giữ một hệ đào tạo chính quy. Vì như hệ tại chức còn tồn tại là còn khuyến khích học dỏm. Với hệ giáo dục thường xuyên, tôi đồng ý đó là nhu cầu của mọi người. Nhưng nó không đồng nghĩa với việc cấp bằng tương đương với hệ chánh quy mà trên thực tế thời gian theo học cũng như chương trình đào tạo không thể so sánh được. Để khuyến khích việc bổ túc hiểu biết thường xuyên cho mọi lứa tuổi, cho những nguời có thiện chí trau dồi kiến thức hay chuyên môn, chỉ nên cấp chứng chỉ khuyến khích. Các nước phát triển trên thế giới không có nhiều hệ đào tạo như ở Việt Nam. Cả nước cần trở về một hệ giáo dục duy nhất: hệ chính quy. Bãi bỏ hệ tại chức sẽ chấm dứt được thãm trạng bán bằng, mua bằng, học giả bằng thật, chạy đua theo bằng cấp, kiếm bằng để giữ ghế…
2. Nhanh chóng kết hợp giữa nghiên cứu khoa học và giáo dục đào tạo.
Việt Nam là một nước nghèo mà chơi sang. Như miền Bắc có nhiều trung tâm nghiên cứu, nhưng không có ai thẩm định hiệu quả nghiên cứu; nghiên cứu không đi vào thực tiễn và không có hiệu quả. Có nhiều nhà nghiên cứu rất giỏi nhưng không đi giảng dạy, như thế là hoang phí. Không giảm lương, nhưng yêu cầu giáo sư giảng dạy bỏ ra 40 - 50% thời gian để nghiên cứu, viết lại giáo trình,… Không bổ nhiệm thêm các nhà nghiên cứu tại các viện mà tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu được giảng dạy, các giáo sư đại học có thời giờ nghiên cứu khoa học. Đã có lần tôi đề nghị sát nhập Bộ khoa học và phần vụ Đại học của Bộ GD&ĐT làm một.
3. Đề cao tính quốc tế trong nghiên cứu khoa học. Khuyến khích các nhà nghiên cứu, các giáo sư đại học đăng tải các công trình trên các tạp chí quốc tế. Quốc tế hoá các tạp chí khoa học Việt Nam. Mời các giao sư quốc tế, các Việt kiều đang công tác tại các Trung tâm nghiên cứu quốc tế hay các trường Đại học tại các nước tiên tiến tham gia chọn lọc các công trình đăng tải. Mời các Giáo sư quốc tế tham gia các ban bệ quốc gia chọn lựa Giáo sư hay Phó Giáo sư. Mời các giáo sư quốc tế tham gia các Hội đồng giám khảo các luận án Tiến Sỹ trình tại Việt Nam.
4. Về việc thành lập Đại học đẳng cấp quốc tế, không “rót rượu mới vào bình cũ”, mà thành lập một trường hoàn toàn mới, mới về tư duy sáng lập, mới về nhân sự ban đầu, mới về thành phần lãnh đạo….
Phóng viên
Thưa giáo sư, ông đã có điều kiện tiếp xúc với nhiều nền giáo dục trên thế giới. Vậy theo ông, có hay không một mô h
ình giáo dục kiểu mẫu mang “đẳng cấp quốc tế” phù hợp với Việt Nam?
GSTS NĐH
Có. Âu châu đã thẩm định các nền giáo dục ở thế giới và thấy nền giáo dục kiểu mẫu là ở Phần Lan. Ta nên coi và bắt chước Phần Lan vì đây là một đất nước khách quan và vô tư. Tôi sẽ trình bày về nền giáo dục kiểu mẫu này cho Người Viễn Xứ trong một bài viết gần đây.
Báo Tiếp Thị (TP Hồ Chí Minh) số Xuân
Phóng viên
Tháng 10 sắp đến GS sẽ về hưu. Xin GS nói về một kỷ niệm nào đáng ghi nhớ nhất trong quãng đời hoạt động và nghiên cứu của GS tại Châu Âu?
GSTS NĐH
Có lẽ là ngày lần đầu tiên tôi lên diễn đàn khoa học quốc tế trình bày một công trình về “Phép tính phần tử hữu hạn đối ngẫu áp dụng cho bản và vỏ” tại Lisbonne, Portugal, tháng 09.1971 trong khuôn khổ một Hội Nghị do NATO tài trợ. Thấm thoát đã 35 năm rồi. Ngày ấy tôi chỉ là một con chim nhỏ nương nhờ đất lành xứ Bỉ, vừa cất cánh bay vào không gian khoa học toàn cầu!
Còn về hoạt động thì có lẽ là sự kiện đang được các học trò của tôi chuẩn bị.
Thật vậy, một cuốn sách khoa học dày trên 600 trang sẽ được ra mắt cuối năm nay, do các học trò cũ của tôi thực hiện, tặng riêng tôi nhân ngày tôi lấy hưu trí. Cuốn sách ấy sẽ do 14 tiến sĩ khoa học có nhiều quốc tịch khác nhau: Bỉ, Pháp, Ý, Brasil, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ma Rốc, Ba Lan, Việt Nam…mà tôi đào tạo trong đó có 7 vị là đương kim giáo sư tại các trường ĐH lớn tại châu Âu, đứng ra chủ trì. Các bài viết sẽ bao gồm những tóm tắt các luận văn thạc sĩ và tiến sĩ xuất sắc nhất do tôi hướng dẫn từ hơn 40 năm nay, ưu tiên cho các học viên của hai chương trình thạc sỹ EMMC và MCMC. Những bài viết chọn lọc của cuốn sách sẽ được một tờ báo khoa học lớn tại Hoa Kỳ dành cho một số đặc biệt trong năm 2007. Tôi sẽ có dịp trở lại việc này khi cuốn sách ra đời.
Phóng viên
Xin cám ơn GSTS Nguyễn Đăng Hưng! Chúng tôi hy vọng những ý kiến tâm huyết của ông sẽ nhận được những phản hồi tích cực và có thêm nhiều những bước chân bước tiếp cùng ông!
H.D





Monday, 20. July 2009
Là một người đã gặp gỡ và giao tiếp với rất nhiều sinh viên, kỹ sư hệ tại chức kể từ khi ngồi trên ghế trường đại học lẫn khi đi làm, tôi nhận thấy hầu hết trong số họ có hiểu biết về chuyên môn rất kém. Thậm chí có nhiều người trong số đó nếu so với một người học cao đẳng loại trung bình cũng không bằng nữa.
Tôi đang theo học cao học tại một trường đại học danh tiếng của Việt Nam và gặp gỡ rất nhiều sinh viên hệ tại chức ở đây. Có thể nói, chương trình học của họ thì gần giống với chương trình học đại học của sinh viên chính quy. Nhưng khác nhau là ở chỗ, các thầy nới rất lỏng cho các sinh viên tại chức thì họ mới có thể qua được các kỳ thi học kỳ. Tại sao các thầy lại nới lỏng? Sau đây là một vài nguyên nhân chính:
1. Theo quan điểm của nhà trường thì sinh viên tại chức hầu như là đã có công việc, chẳng qua chỉ cần bằng cấp để củng cố địa vị, tăng mức lương. Còn nhà trường thì vẫn cần các sinh viên học để có tiền học phí (theo tôi được biết thì mức học phí của hệ tại chức cao hơn hệ chính quy khá nhiều), nên cần phải thu hút nhiều, mà nếu mình làm căng ra thì ai giám học. Thế nên sinh viên hệ tại chức được nới lỏng rất nhiều.
2. Chuyên môn thì kém nhưng ngược lại họ quan hệ rất giỏi, sắp đến kỳ thi thì nào là quà cáp, nào là họp mặt lớp (dĩ nhiên là họ mời cả thầy cô đến) và thế là cộng thêm với tư tưởng chủ đạo của các trường đại học đã nêu trên thế là “nới lỏng”.
Tôi biết các điều trên là bởi vì chính bản thân tôi đã từng ở với sinh viên hệ tại chức. Họ học mà như trên mây, có anh bạn mới vào học tại chức học môn toán cao cấp còn không tính nổi đạo hàm của một hàm sơ cấp một biến số thì thử hỏi anh ta sao tính nổi tích phân, đấy là chưa kể tích phân đường, tích phân mặt, chưa kể các kiến thức trìu tượng khi đi vào chuyên ngành.
Chúng ta quay lại với vấn đề có nên đào tạo hệ tại chức nữa hay không? Theo tôi là không! Tại vì nếu không có hệ tại chức chúng ta vẫn có thể giải quyết được các vấn đề:
1. Nếu muốn nâng cao hiểu biết và bằng cấp, có thể học liên thông. Theo tôi được biết thì nếu một người học cao đẳng ra nếu học tại chức và học liên thông để lên đại học thì học liên thông vẫn nhanh hơn. Nếu họ có trình độ trung cấp thì nếu có học liên thông lên đại học thì thời gian cũng tương đương với học tại chức.
2. Muốn tăng lương, họ có thể làm việc thật tốt, thi tăng lương.
Khi làm việc với một người mà thiếu trình độ nhưng có bằng cấp lại tương đương với mình nhiều lúc rất khó làm việc. Những người này thầy cũng không ra thầy mà thợ thì cũng chẳng ra thợ, mà họ lại rất ngang vì lý do “ông bằng đại học tôi cũng bằng đại học” (dĩ nhiên họ không nói hai chữ “tại chức” đâu ạ!).