Home > Bài phỏng vấn > Trả lời phỏng vấn Vietnamnet (Người Viễn Xứ) tháng 7, 2007

Trả lời phỏng vấn Vietnamnet (Người Viễn Xứ) tháng 7, 2007

October 25th, 2008 Leave a comment Go to comments

Phần I : “Tôi lấy làm tiếc…”

 Lời diễn dải của hai phóng viên NHẬT ANH và HỒ DUYÊN

Chiều thứ 6 (21.07.2006) tòa soạn Người Viễn Xứ nhận được lá thư của GS-TS Nguyễn Đăng Hưng. Mở đầu lá thư, ông cho biết ông “rất lấy làm tiếc”, “một con én không thể làm nên mùa xuân”… . Từ những bức xúc và trăn trở của ông, phóng viên Người Viễn Xứ đã có buổi gặp gỡ GS-TS Nguyễn Đăng Hưng để chia sẻ những gánh nặng trong lòng của ông - một nhà khoa học giáo dục Việt kiều nặng lòng với nền giáo dục nước nhà.
GS-TS Nguyễn Đăng Hưng viết: “Sau khi suy nghĩ rất kỹ, cân nhắc trước sau, tôi lấy làm tiếc phải đi đến quyết định là sẽ ngưng tổ chức các lớp đào tạo Cao học đẳng cấp quốc tế mà tôi đã xây dựng và điều hành từ 12 năm nay tại ĐH Bách khoa TP.HCM và ĐH Bách khoa Hà Nội, bắt đầu từ 01.10.2006.

Việc này là giải pháp tốt nhất vì các lý do sau đây:

1. Tôi sắp về hưu (01.10.2006), sẽ trở thành “professeur emeritus” (giáo sư danh dự) sau ngày ấy!

2. Đại học Liège sẽ không có nhân sự thay thế tôi làm những công việc phức tạp cho các chương trình EMMC và MCMC mà tôi đã gánh vác từ 12 năm nay!

3. Tài chánh của Bỉ và Châu Âu nay đã cạn kiệt (gần 3 triệu Euros trong 12

năm).

4. Dự án Việt Nam hoá các Trung tâm đào tạo này đã không được Bộ GD&ĐT lưu tâm. (Tuy chỉ cần không gởi xuất ngoại 6 thạc sĩ thì chúng tôi có thể qua các Trung tâm này đào tạo 30 người thạc sĩ đẳng cấp quốc tế mỗi năm).

5. Sau 12 năm làm việc cật lực, đào tạo được trên 350 thạc sĩ, 20 tiến sĩ cho Việt Nam, tôi đã thấy mệt mỏi, cần nghỉ ngơi và dành thời gian cho gia đình riêng (4 con, 8 cháu nội và ngoại!) và cho những việc khác…

Trong những ngày tháng sắp đến, các Văn phòng EMMC (TP.HCM) và MCMC (Hà Nội) dưới sự chủ trì và điều động của tôi sẽ sinh hoạt và hoàn thành những phận sự tồn đọng mà thôi:

1. Cấp bằng và phát bằng cho tất cả những sinh viên thi đậu.

2. Tổ chức thi cử và bảo vệ luận văn cho những em còn đang theo học

(EMMC-XI, MCMC VII) và những học viên chưa bảo vệ hay chưa đạt.

Nếu không có gì mới sẽ kết thúc lâu nhất là vào tháng 09.2008″.

Và cuộc phỏng vấn của phóng viên Người Viễn Xứ với GS-TS Nguyễn Đăng Hưng dưới đây sẽ giúp bạn đọc phần nào có một cái nhìn chung về những chương trình đào tạo quốc tế do ông đề xướng và điều động từ 12 năm qua, cũng như những tâm tư của vị giáo sư “già”. Ông cũng hy vọng rằng những ý kiến này sẽ đến được với Tân Bộ trưởng Bộ GD&ĐT.

 

Phóng viên

GS có thể tóm tắt những công trình giúp đỡ cũng như cộng tác đã thực hiện tại Việt Nam của GS từ 12 năm qua?

 

GS-TS Nguyễn Đăng Hưng (GSTS NĐH):

Từ 1995 cho đến ngày nay (tháng 07.2006), tôi đã đề xướng, quản lý và điều hành 5 chương trình giúp đỡ Việt Nam nghiên cứu khoa học và giáo dục đào tạo.

Đáng kể nhất là chương trình EMMC (European Master in Mechanics of Construction) đã được đề xướng và tài trợ từ tháng 07.1995 cho đến năm 2008 và đang tiếp tục tại ĐH Bách khoa TP.HCM. Tôi vừa quyết định ngưng không tuyển sinh nữa để có thể kết thúc vào hè 2008 sau khi đã tổ chức thực hiện những công việc tồn đọng bảo về quyền lợi cũa học viên: thi tốt nghiệp, bảo vệ luận văn và cấp bằng chánh thức của Đại học Liège. Đây là một chương trình Cao học do tôi đề xướng và trường Đại học Liège chủ trì với sự tham gia của Cộng đồng các trường Đại học Bỉ nói tiếng Pháp (Bruxelles, Louvain-la-Neuve, Mons, Namur, Gembloux).

Mô hình được đem ra áp dụng là du học tại chỗ. Học viên học tại Việt Nam một chương trình Master (Thạc sĩ) của ĐH Liège theo cách tổ chức của Bỉ và các do giáo sư Bỉ sang thỉnh giảng. Ngôn ngữ sử dụng chính là tiếng Anh. Mỗi khoá kéo dài 2 năm. Năm đầu học 10 giáo trình công nghệ kỹ thuật hiện đại đặc biệt về các phương pháp mô hình và mô phỏng, các phương pháp tính toán cấu trúc phức tạp và các môi trường liên tục liên quan đến xây dựng, cơ khí, công trình biển, kỹ thuật hàng không, tàu biển… Năm thứ 2 dành cho việc chuẩn bị luận văn ra trường. Chỉ có từ 3 đến 5 người xuất sắc nhất nhất được sang Bỉ thực tập nghiên cứu. Đại bộ phận phải làm luận văn trong nước và được hướng dẫn thông qua Internet.

Cho tới nay chương trình EMMC đã xây dựng đươc 12 khoá. Mỗi khoá có khoảng 30 học viên theo học và trung bình chỉ có 50% trong số này được đạt tiêu chuẩn và được ĐH Liège cấp bằng. Đây là chương trình cao học duy nhất về ngành kỹ sư được tổ chức và xây dựng hoàn toàn tại Việt Nam mà được một trường Đại học Châu Âu chính thức cấp bằng.

Trên thực tế chương trình này cùng một lúc giúp Việt Nam đào tạo cấp tiến sĩ bằng ngân sách ngoài dự án. Thật vậy qua giới thiệu 20% những thạc sĩ tốt nghiệp đã được tiếp tục sang Âu-Mỹ soạn luận án tiến sĩ. Tôi có thể đơn cử các khoá EMMC-I, II, III đã có 4 tiến sĩ bảo vệ thành công tại Bỉ (Lê Đình Tuân, Vũ Đức Khôi, Nguyễn Tiến Dương, Nguyễn Hoài Sơn), 2 tại Canada (Vũ thị Bích Ngà, Hồ Hữu Chỉnh), 4 học viên khác sắp bảo vệ tại Bỉ và tại Anh…
Thứ đến là chương trình MCMC (Modélisation et Calcul des Milieux Continus) cũng đào tạo Thạc sĩ đặt tại trường ĐH Bách khoa Hà Nội với sự
tham gia của các trường công nghệ phía Bắc như các trường ĐH Xây dựng, Kiến trúc, Thuỷ lợi và Quốc gia Hà Nội. Chương trình này do Chính quyền Cộng đồng Bruxelles & Wallonie tài trợ đã bắt đầu từ năm 1998 và sẽ kéo dài cho đến cuối năm 2006. Mô hình tổ chức cũng tương tự như trong Nam, duy có nội dung chương trình đào tạo thiên về môi trường thuỷ khí hơn. Mỗi năm trung bình có 25 học viên theo học.
Hai chương trình đào tạo thạc sỹ trên đây đã là tiền đề của chương trình hợp tác đào tạo ghép (Doctorat en partenariat) 50 tiến sĩ tại Âu châu bằng ngân sách nhà nước Việt Nam với sự tham gia của 10 ĐH Châu Âu (Bỉ, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan…) và 10 ĐH Việt Nam, rải dài khắp Trung Nam Bắc. Chương trình này do hai trường ĐH Liège và ĐH Xây dựng Hà Nội chủ trì, đã triển khai năm 2003 và sẽ kéo dài cho đến 2010. Ban đọc có thể tham khảo chi tiết của dự án này qua website sau đây :

http://vesta.ltas.ulg.ac.be/Webasia/CFD-EU&VN/index.html

Projet 50 doctorants
“Đề án hợp tác đào tạo 50 Tiến Sỹ ĐH Liège-ĐH Xậy dựng Hà Nội trong khuôn khổ dự án 322 “

Ngoài ra chúng tôi cũng đang hoàn tất hai chương trình đào tạo thạc sĩ EU-EMMC, EU-EMMD do Liên Hiệp Châu Âu tài trợ (2001-2003). Đây là những khoá đào tạo trọng điểm song song với các khoá EMMC và MCMC đã nói ở trên. Chi tiết của hai chương trình này đã đươc miêu tả lần lượt trên hai websites sau đây :

http://vesta.ltas.ulg.ac.be/Webasia/EMMC/index.htm

http://vesta.ltas.ulg.ac.be/Webasia/MCMCEMMD/index.htm

Ngoài việc huy động các giáo sư ngoại quốc hàng đầu đang giảng dạy tại các Đại học nỗi tiếng tại Châu Âu (trung bình mỗi năm 12 GSTS cho cả hai chương trình EMMC và MCMC), những chương trình chuyên ngành trên đây luôn luôn được tổ chức theo phong cách mở, đã chào đón và tổ chức có hiệu quả sự tham gia tích cực của chuyên gia Việt kiều đến từ các nước khác, thí dụ GSTS Vũ Khánh Toàn, Đại học Sherbrooke, Canada, GSTS Đặng Văn Kỳ, Cao đẳng Bách khoa Paris (Pháp), GSTS Nguyễn Văn Hiền, Đại học Namur, Bỉ…

Trên lĩnh vực thuần túy chuyển giao công nghệ và nghiên cứu khoa học, tôi còn đang triển khai dự án nghiên cứu bảo vệ bờ biển, bờ sông “ANTIERO” do Chính phủ vùng Wallonie, Bỉ tài trợ từ năm 2001 và sẽ tiếp tục cho đến cuối 2006. Một công trình kè tiêu biểu đã được xây dựng tại Mũi Né, Phan Thiết sau khi một cấu trúc tối ưu đã được ĐH Liège và ĐH Thuỷ Lợi Hà Nội tham gia thiết kế, cùng một lúc bảo vệ bờ và bảo vệ bãi tắm. Cấu trúc này đang được triển khai áp dụng tại nhiều vùng biển khác tại Việt Nam. Trong 3 năm dự án này có tham vọng phối hợp với UBNN Tỉnh Bình Thuận xây dựng một Trung tâm đo đạc, thí nghiệm và tàng trữ dữ liệu về biển và ven biển tại Phan Thiết. Trung tâm này sẽ song hành đào tạo chuyên viên kỹ thuật cho ngành biển… Hiện nay tỉnh Bình Thuận đang hoàn thành việc xây dựng phần cứng của trung tâm đo đạc này, toạ lạc trên một khuôn viên có diện tích trên 5000 mét vuông, sát bờ biển trên con đường Phan Thiết - Mũi Né. Chúng tôi sẽ dùng tài trợ của Cộng đồng Bruxelles-Wallonie để mua thiết bị cao cấp và một đợt đo đạc nghiên cứu dòng nuớc ven biển trong không gian 3 chiều sẽ được thực hiện vào tháng 8/2006 sắp đến với sự cộng tác của Giáo sư Nguyễn Văn Mạo, trường ĐH Thủy lợi Hà Nội.

du an ANTIERO
“Dự án chống sạt lỡ bờ giữ bãi tại Mũi Né, Bình Thuận do Cộng đồng Bruxelles-Wallonie tài trợ và Hội nghị Khoa học năm 2000 tại Nha Trang do Cộng đồng Đại học Bỉ nói tiếng Pháp (CIUF) tài trợ “

Phóng viên

- Thưa GS, khi tiến hành các công trình này GS đã gặp các thuận lợi và khó khăn nào?

GSTS NĐH:

Tính cách chung của những dự án đã được nhắc đến trên đây là tính tự nguyện của tất cà các thành viên. Người chủ trương cũng như các chuyên gia tham gia đều không ai lấy lương… Dự án chỉ có hoàn tiền chi phí đi lại và cư trú tạm của các giáo sư thỉnh giảng. Vì lý do này, các dự án do tôi đề xướng và điều hành thường có ngân sách tương đối thấp. Xin đơn cử để so sánh. Dự án AIT Việt Nam do AIT Bangkok điều hành về ngành quản trị kinh doanh với tài trợ của Thụy Sĩ cũng thâu nhận số học viên tương đương đặt trong khuôn viên ĐH Bách Khoa TP.HCM cách chúng tôi thấp hơn một tầng lầu, có một ngân sách hằng năm gấp 10 lần! Đây chính là khó khăn thứ nhất mà cũng là thuận lợi thứ nhất của chúng tôi.

Thuận lợi đáng kể có lẽ là phương pháp đào tạo của chúng tôi, tuy có đẳng cấp quốc tế không thể phủ nhận (giáo sư trưởng của các trường lớn tại Châu Âu về dạy, chương trình học và giáo trình giảng dạy là hoàn toàn hiện đại vì đây chính là những giáo trình đang giảng dạy tại Châu Âu) nhưng việc chảy máu chất xám gần như không xảy ra. Đây là mô hình du học tại chỗ, học viên sang Châu Âu tập sự hay làm luận văn chỉ ở lại tối đa từ 3 đến 6 tháng. Họ khó có thể bén rễ đâm chồi toan tính ở lại làm việc tại Âu Mỹ như những chương trình khác.

Đề tài nghiên cứu khoa học, đề tài luận văn của học viên luôn luôn gắn liền với yêu cầu thực tế của Việt Nam trên đường phát triển, lãng phí được tối thiểu hoá một cách gần như tuyệt đối.

Khó khăn vì chúng tôi phải hằng năm tất bật tìm nhà tài trợ, mời giáo sư thỉnh giảng, vừa có đẳng cấp cao (ít nhất phải có học vị tiến sỹ) tại châu Âu, vừa có lòng tự nguyện, có cảm tình với Việt Nam

. Chúng tôi phải đứng ra cáng đáng điều hành hầu hết các công tác quản lý: quản lý hàn lâm, học thuật, khoa học, hướng dẫn luận văn, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, quản lý thi cử, tuyển sinh, phỏng vấn trực diện… Chúng tôi đã phải hội nhập vào xã hội Việt Nam hiện đại, đào cho ra các đồng nghiệp tâm huyết.
  1. No comments yet.
  1. No trackbacks yet.