Mảnh Trời Xanh Trên Thung Lũng
Tiêu Dao Bảo Cự
Tác phẩm viết (Hồi ký -Tiểu thuyết tự truyện)
Khi tôi nhìn mảnh trời xanh
phản chiếu trong mặt nước
của chiếc ao yên bình bé nhỏ,
tôi hiểu rằng lắng lòng lại,
tôi có thể soi thấu bản thân
và hiểu được bầu trời.
9/3/1998
Tiêu Dao BẢO CỰ
LỜI MỞ
Hầu như mỗi ngày, giữa buổi lao động, tôi đều ngồi nghỉ trên phiến đá bên chiếc ao bé nhỏ này.
Chiếc ao do chính tay tôi đào, với sự giúp sức của hai con, cách đây đã khá lâu, nằm bên cạnh dòng suối chảy dọc theo vườn. Đó chỉ là một chiếc ao nhỏ, rất bé nhỏ, nhưng nó đã giúp tôi soi thấu bản thân và hiểu được bầu trời trong mười năm trầm tư lặng lẽ.
Tôi đã chăm chú theo dõi những bông hoa súng. Ban đầu chỉ là một mầm cây bé tí do mấy đứa học trò nhỏ của vợ tôi đem cho, không thể trồng ngay xuống ao, tôi phải đem ương tạm xuống một vũng nước. Bây giờ chiếc mầm kỳ diệu đó đã lan tỏa ra hơn nửa mặt ao với đám lá tròn và những bông hoa vàng tuyệt đẹp.
Đó là một loài hoa mảnh mai cao quý và thanh khiết mọc lên từ đáy ao bùn. Những cánh hoa dáng thuyền đầu nhọn thon thả mầu vàng nhạt mở ra từng cánh, từng cánh từ một búp thanh mảnh xanh lơ phớt vàng khi ánh nắng mặt trời sưởi ấm dần mặt nước. Những cánh hoa mở ra hết sức mình như hít căng đầy lồng ngực, phô bày đám nhụy vàng đậm trinh nguyên bắt đầu gởi hương cho gió. Trên chiếc cọng mảnh mai đong đưa, đó là động tác hiến dâng, hiến dâng cho đời vẻ đẹp thuần khiết có một không hai.
Mỗi buổi chiều vào cuối giờ thiền, tôi làm động tác Guru Puja [hiến dâng cho Đấng Tối Cao] với thế quỳ và hai bàn tay xòe mở. Trên lòng bàn tay của mình, tôi tưởng tượng ra ba đôi bông súng vàng với ý nghĩa ba cặp phạm trù: Yêu thương và Tha Thứ, Nghị Lực và Làm Việc, Bình Yên và Hạnh Phúc. Tôi thấy rõ sáu bông hoa vàng này ngời lên trong nắng và tôi dâng hiến hết cho Đấng Tối Cao. Tôi đã phó thác. Tôi không còn lại gì và cũng không còn gì để lo nghĩ.
Rồi những hoa súng vàng trên chiếc ao bé nhỏ của tôi cũng tàn. Khi một bông hoa khép cánh lại, nghiêng người chìm dần xuống làn nước đục, tôi thảng thốt kêu lên: “Hoa súng vàng ơi, em có đau đớn không?” Hoa gượng lại, ngẩng nhìn tôi và mỉm cười: “Không đâu. Em đã hiến dâng vẻ đẹp mong manh cho đời và bây giờ em trở về với bùn đất để làm cuộc tái sinh thôi. Hãy chờ em.”
Và tôi đã chờ. Và em đã không lỗi hẹn. Những búp mầm mới lại sinh sôi và một sáng nào đó, em lại nhô ra từ làn nước đục, với nụ cười sóng sánh tinh khôi. Em liếc mắt nhìn tôi thì thầm một lời mật ngọt: “Em không thất hứa đâu. Em đã đến và em sẽ đến cùng anh qua suốt cuộc luân hồi khi anh vẫn còn ngồi chờ em bên bờ trần gian khổ lụy.”
Cám ơn em vô cùng, hoa súng vàng mảnh mai như một nàng tiên nhỏ đã thề ước và bầu bạn cùng tôi nơi khu vườn khuất nẻo hoang sơ này.
Tôi vẫn ngồi đó mỗi ngày để nhìn xuống chiếc ao bé nhỏ do tự tay mình đào nên.
Khi nước trong, một mảnh trời xanh hiển hiện với những đàm mây trắng lững lờ rồi tan dần vào hư vô. Khi nước đục, trời xanh cũng nhuộm màu xám bẩn với một vẻ buồn rầu không che giấu. Lúc gió lao xao, những bóng cành lá chao động nhòe mờ như một ảo ảnh.
Nước đục ngầu lên, tôi không nhìn thấy đáy ao, không thấy cả những con cá đang bơi lượn tìm mồi, chỉ biết chúng đang sục sạo làm nổi lên những bọt bong bóng hay vẩn lên những đám bùn. Nước trong lắng lại, tôi thấy rõ từng con cá với những chiếc đuôi và cái vi ve vẩy. Tôi thấy cả bùn lầy, rong rêu và lá úa chìm dưới đáy ao.
Tôi hiểu rồi. Chiếc ao chính là lòng tôi. Khi tôi nhìn mảnh trời xanh phản chiếu trong mặt nước của chiếc ao yên bình bé nhỏ, tôi hiểu rằng lắng lòng lại, tôi có thể soi thấu bản thân và hiểu được bầu trời.
* Đoạn kết hay vẫn là lời mở: Cái đẹp vẫn là người chiến thắng
Tôi suy nghĩ về việc hết thời gian quản chế tôi sẽ làm gì. Lao vào cuộc đấu tranh mới, đi ta bà tiêu dao hay ẩn cư làm đạo sĩ? Ấy là chưa kể hết thời gian quản chế này, Đảng và Nhà nước sẽ đối xử với tôi ra sao và tình hình đất nước sẽ chuyển biến như thế nào. Công an đã nhắn nhe xa gần với tôi là hết hạn quản chế chưa phải là đã hết chuyện. Một quyết định quản chế mới là chuyện quá dễ dàng đối với những người đang nắm quyền lực.
Thật ra Đảng và Nhà nước chưa có hành động ngược đãi, hành hạ, tra tấn hay bỏ tù đối với tôi, điều mà một số người khác đã chịu đựng. Nhưng quản chế hay giam lỏng, hay buộc ở tù giữa chợ là một phương thức tuy tốn nhiều công sức nhưng gây sức ép về kinh tế, tâm lý và tinh thần rất khó chịu đựng, có thể làm người ta đầu hàng hay gục ngã. Trong dịp đặc xá vừa qua, có người đã đến gợi ý với Bùi Minh Quốc làm đơn xin giảm chế. Bùi Minh Quốc đã hai lần viết đơn nhưng đều không đạt yêu cầu và không được chấp nhận. Người ta muốn trong đơn phải có phần thừa nhận sai lầm, ăn năn và xin khoan hồng, điều mà Bùi Minh Quốc không thể làm vì hoặc sẽ tự hủy danh dự và nhân cách, hoặc sẽ rơi vào một cái bẫy làm thân bại danh liệt.
Mỗi khi tôi chở Đan Tâm đi đâu dù chỉ trong phạm vi phường, cũng bị công an theo dõi sát nút và giám sát, điều tra cả những việc Đan Tâm làm như gởi thư, gọi điện thoại hay mua sách báo. Điều đó làm Đan Tâm rất bực bội. Khi tôi khuyên Đan Tâm hãy xem thường, vô hiệu hóa những chuyện đó đi, Đan Tâm đã nói không thể được, đó là tình cảm tự nhiên bộc phát do bị dồn nén. Đúng là lỗi tại tôi. Tôi không giúp ích gì được cho Đan Tâm mà lại trở thành gánh nặng. Tôi bị quản chế nhưng Đan Tâm lại bị tác động và chịu đựng nhiều hơn tôi.
Đan Tâm không lo cho mình mà lo cho tôi và các con. Đôi khi quá căng thẳng và quá chán nản, Đan Tâm muốn bỏ dạy về sống gần các con nhưng lại không thể được và cũng không yên tâm khi tôi bị quản chế ở đây một mình mà không có người chia sẻ. Tôi có thể giữ bình yên tâm hồn cho mình nhưng không giúp được cho Đan Tâm. Đó là một hệ lụy chưa có cách giải quyết.
Tôi suốt đời muốn đấu tranh chống lại điều Ác. Nhưng phương thức nào để đấu tranh có hiệu quả mà không gây ra xung đột, hận thù, không liên lụy đến những người thân và thiệt hại cho chính bản thân? Lẽ nào câu hỏi này không có câu trả lời chính xác qua suốt lịch sử loài người cho đến tận mai sau? Thật khó thương yêu kẻ thù nhưng muốn thực sự hòa giải hòa hợp phải thử đứng về phía kẻ thù và những người đối nghịch để cảm nhận, suy nghĩ và hành động. Mấy ai đã làm được điều này và đa số đều không muốn, không chịu làm.
Mùa khô năm nay, chắc do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, dòng suối chảy qua vườn tôi và chiếc ao bé nhỏ của tôi bắt đầu cạn kiệt. Phải chăng khi nước trong ao khô cạn, tôi không thể nhìn bầu trời phản chiếu qua mặt nước cũng như khi tâm hồn ta không còn tình yêu, ta không thể hiểu được điều gì đẹp đẽ cao xa.
Những cây hoa súng vàng của tôi với những chiếc lá tròn héo hon áp mình và phơi rễ trên nền đất nứt nẻ. Những bông hoa bé nhỏ cố nở nhưng không còn đủ sức gục xuống trông thật thảm thương. Tôi thảng thốt kêu lên: “Những bông hoa súng vàng của tôi sắp chết rồi sao?” Chúng cần đến mạch nước. Hãy đào xuống. Đào xuống nữa để tìm đến mạch nước ngầm thiên thu. Và tôi đã đào.
Trước tiên tôi đào một hố nhỏ và sâu để giữ một ít nước, bứng những cây hoa trên nền đất nứt nẻ ương tạm xuống rồi tiếp tục đào chung quanh. Tôi đào mãi, đào mãi mỗi ngày dù lưng tôi đau nhói. Tôi đào bằng xẻng và cả bằng tay. Tôi nạy từng thân cây mục đã nằm im dưới đất cả trăm năm. Tôi nhặt từng viên đá sần sùi lẩn trong bùn. Tôi bốc từng nắm đất đen như than. Tôi mải miết cào xới vào lòng đất, mồ hôi nhỏ ròng ròng dưới ánh nắng chói chang và bầu trời xanh biếc rợn người. Những giọt nước hiếm hoi ứa dần ra. Những cây hoa vẫn giữ được nhịp thở thoi thóp. Và trời đã không phụ lòng tôi. Cơn mưa đầu mùa tuy đến muộn đã tiếp thêm nguồn nước mát. Chiếc ao đầy dần lên và những bông hoa lại nhô lên mặt nước gượng cười dù rất bé nhỏ và mệt mỏi.
Một buổi chiều, Đan Tâm có việc ra phố, tôi ngồi một mình bên cửa sổ nhìn ra vườn trầm tư. Chợt một cô gái từ đâu xuất hiện bên cửa nhìn tôi mỉm cười. Cô mặc chiếc áo dài màu vàng mơ với chiếc eo mảnh mai thon thả. Nụ cười với chiếc răng khểnh bé xíu làm sáng lên khuôn mặt cô vốn đã trắng ngời ngợi trong làn tóc xõa dài đen huyền óng ả. Cô nhìn tôi bằng đôi mắt bé thơ long lanh và đưa tay vẫy: “Anh ra đây em cho xem cái này hay lắm”. Tôi thấy cô rất quen, hình như thân thiết nữa là khác nhưng nhất thời chưa nhận ngay ra cô là ai. Tôi mở cửa đi ra sân. Cô tiến lại cầm lấy tay tôi kéo tôi đi ra cổng và nói nhẹ nhàng: “Hãy theo em và đừng hỏi gì cả”.
Tôi như người mê, không nghĩ đến chuyện phải vào thay quần áo hay đóng khóa cửa, tôi cứ thế lẳng lặng đi theo cô. Lúc này trời đã gần tối nhưng những ngọn đèn đường cao áp chưa bật lên. Không ai chú ý đến chúng tôi nhưng tôi có cảm giác mơ hồ là người công an canh gác tôi trước hẻm đang lén lút theo dõi dù tôi không ngoảnh lại.
Cô gái cứ cầm tay dắt tôi đi. Bàn tay cô mềm mát như bàn tay cô gái-mối tình đầu của tôi thời trẻ tuổi đã bao lần nắm tay tôi bên dòng sông dưới ngôi tháp cổ. Cô dắt tôi xuống dốc, lên đồi, qua những đám quỳ dại vàng rực trong ánh hoàng hôn, qua những cánh rừng thông tĩnh lặng hoang vu. Chúng tôi đi rất lâu, không nói gì, cho đến lúc lên một ngọn đồi cao có đỉnh là một mặt bằng rộng lớn. Ở đây ánh sáng rực lên như một buổi bình minh nhưng không thấy có mặt trời.
Tôi chớp mắt và gần như sững sờ đứng lặng nhìn thảm cỏ xanh mướt pha mầu tím nhạt trải dài như một thảo nguyên đến ngút tầm mắt. Giọng cô gái thoảng bên tai tôi: “Anh vẫn ước mơ nằm trên một đồi cỏ. Có phải là đồi cỏ này không?” ”Phải. Đúng rồi”. Tôi lẩm bẩm rồi chợt tỉnh. Như bị hút bởi một ma lực, tôi chạy băng về phía trước, chân trần dẫm lên cỏ xanh mềm và êm lạ lùng. Tôi chạy mãi cho đến khi mệt lả, tôi ngã lăn xuống thảm cỏ nằm thở dốc. Những ngọn cỏ mềm li ti ve vuốt khuôn mặt tôi nóng bừng. Tôi nhắm mắt tận hưởng khoái cảm êm đềm đến ngây ngất.
Cô gái đến bên tôi không một tiếng động nhưng tôi vẫn có cảm giác cô đang đến gần. Tôi mở hé mắt ra và quả nhiên cô đang vén áo ngồi xuống cạnh tôi. Cô bứt một ngọn cỏ may dài và tinh nghịch ngoáy vào mũi tôi. Cô nói : “Anh còn muốn làm “chung thân ngựa hoang” nữa kia mà.” Tôi ngồi dậy sửng sốt: “Sao cô biết ?” Cô không trả lời và chỉ tay ra phía trước. Tôi nhìn theo và thấy một con ngựa trắng đang phi qua đồi cỏ. Chao ôi, con ngựa như trong chuyện thần thoại. Thân hình cao lớn, trắng toát từ đầu đến chân, đầu ngẩng cao, chiếc bờm dài lộng gió bập bùng như sóng biển, bốn chân phi nước đại bay trên mặt cỏ, xa dần, xa dần rồi mất hút cuối thảo nguyên. Tôi thảng thốt đứng lên chạy đuổi theo. Một sức mạnh vô hình giúp tôi phóng như bay theo hướng con ngựa trắng đang mờ dần như một ảo ảnh. Tôi ngừng lại bên một con suối chảy dọc theo bờ rừng cuối thảo nguyên. Con suối nhỏ như mọi con suối vô danh trong bạt ngàn rừng thẳm. Hai bên bờ suối lẫn giữa những đám cỏ lau là những bông hoa dại màu tím cánh nhỏ li ti. Phía dưới, dòng nước trong veo uốn quanh co giữa những bờ đá rong rêu, lăn tăn trên những hòn sỏi trắng muốt hay vàng óng, rì rầm một bài ca hoang dã tự thiên thu của núi rừng. Không thấy bóng dáng con ngựa đâu nữa. Tôi cúi xuống vốc nước lên rửa mặt và uống vài ngụm nhỏ. Nước ngọt lạ lùng và tôi cảm thấy không còn chút mệt nhọc nào.
Tôi ngồi lên tảng đá, thòng chân xuống suối và cô gái lại đến ngồi cạnh, gần như tựa vào tôi. Chúng tôi im lặng rất lâu rồi tôi nghe giọng cô thì thầm: “Anh đã lắng nghe dòng suối như nhân vật Tất Đạt của Hermann Hesse trong “Câu chuyện của dòng sông”. Anh cũng đã nghĩ dòng suối này sẽ chảy ra sông lớn và xuôi về biển cả, trở thành một với biển cả. Anh chỉ là một giọt nước. Anh đã hòa vào con suối và con suối sẽ đưa anh về đại dương. Từ đại dương, anh bốc lên trời cao, ẩn vào đám mây trắng lang thang và một lúc nào đó sẽ đông lại, rụng xuống một cánh rừng già, trở về hội ngộ với con suối nhỏ và tiếp tục cuộc hành trình miên viễn”.
Tôi không nói gì vì cô gái đang nói như đọc ý nghĩ của tôi bằng một giọng thánh thót lẫn trong tiếng suối róc rách và tiếng những côn trùng, hoa lá vô danh đang bắt đầu dậy lên trong một bản hòa tấu vô vàn âm sắc. Tôi tưởng như mình đã tan đi, hòa vào điệu hát hoang vu và vô cùng thân thiết. Không biết bao lâu, tôi chợt tỉnh giấc và thấy cô gái đang âu yếm vuốt nhẹ vào má tôi: “Đã đến lúc trở về. Có người đang đợi anh đó”.
Tôi ngơ ngác đứng lên và cô gái lại cầm tay dẫn tôi đi, theo một lối khác không băng qua thảo nguyên. Đường về nhà là một con đường nhỏ ngoằn ngoèo, ẩn hiện giữa những bụi cây thấp dưới ánh sáng mờ mờ của vầng trăng non mới nhú nơi chân trời. Con đường băng qua một nghĩa trang với hàng hàng bia mộ trùng điệp. Trên các bia mộ có hình và tên họ của những người quá cố nhưng tôi không nhìn rõ được, chỉ thấy các thánh giá chen lẫn với những chữ vạn và những ngôi sao năm cánh trong vòng tròn.
Cô gái nói thầm vào tai tôi: ”Nơi đây yên nghỉ những người xa lạ, những bạn bè và cả những người ghét bỏ anh. Một ngày nào đó anh có cần một chỗ bên họ cho ấm cúng không?” Lần này tôi trả lời cô, giọng rõ ràng vang lên trong khung cảnh tịch mịch: “Tôi không cần một nấm mồ. Tôi muốn trở về hư vô. Nhưng sau khi tôi chết đi, những người sống làm gì với thân xác tôi cũng không quan trọng. Tôi bây giờ chỉ là một dấu chấm nhỏ của cát bụi trong cuộc đời. Đến một lúc nào đó nó sẽ tan đi không còn lưu vết. Tôi không có gì phải lưu luyến đâu”.
Tôi nói xong câu đó khi vừa đi ra hỏi hàng bia mộ cuối cùng. Chúng tôi đi ngang qua bên cạnh thành phố rực rỡ ánh đèn rồi như chỉ trong một chớp mắt đã trở về con dốc trên đường dẫn vào nhà tôi.
Vừa lên khỏi dốc, người công an mà tôi đã quên bẵng đi bỗng từ đâu xuất hiện dưới ngọn đèn cao áp bước ra giữa đường, chặn chúng tôi lại với tập giấy và cây bút lăm lăm trong tay. Anh ta nói với tôi, giọng lạnh sắc như băng: “Anh đã tự ý đi ra khỏi phường không xin phép, vi phạm quy chế quản chế hành chính. Tôi phải lập biên bản về việc này”. Tôi chưa kịp nói gì thì cô gái đã bảo anh ta : “Anh cứ làm đi nhưng đưa chúng tôi ký trước rồi muốn viết gì thì viết”. Cô giật cây bút trên tay anh ta, nguệch ngoạc mấy nét vào tập giấy, bỗng nhiên tập giấy cháy bùng lên, rồi rơi rụng lả tả xuống mặt đường. Cô cười khanh khách như một đứa trẻ trong một trò chơi lý thú, ném cây bút vào đống lửa rồi kéo tay tôi đi tiếp.
Người công an sững sờ một lúc rồi chạy đuổi theo. Tôi nghe tiếng chân anh ta rầm rập phía sau. Anh ta quát lên : “Đứng lại”. Chúng tôi vẫn đi. Anh ta đã chạy sát đến sau lưng chúng tôi, quát lớn: “Đứng lại không tôi bắn.” Tôi không nhìn lại nhưng biết anh ta đã rút súng ra. Cô gái quay lại nhìn anh ta mỉm cười: “Cám ơn”. Cô đưa tay cầm lấy khẩu súng và cái vật nhỏ đen ngòm xấu xí lạnh ngắt bỗng trở thành một bông hoa súng vàng nở tung hết 16 cánh. Cô lấy bông hoa ra khỏi tay anh ta một cách nhẹ nhàng như anh ta đang đưa tặng cho cô. Mặt tái mét vì hoảng hốt, người công an rút máy bộ đàm trong túi áo khoác ra để gọi chi viện. Cái máy bộ đàm lại trở thành một bông hoa súng đỏ vừa hé nở. Cô gái mỉm cười rất tươi: “Thôi tặng cho anh luôn hai bông hoa. Anh hãy đem về cắm trong nhà. Hãy nhớ rằng cái đẹp không bao giơ bị tiêu diệt bởi bạo lực”. Cô đưa trả lại cho người công an bông hoa màu vàng. Anh ta ngẩn ngơ cầm lấy và đứng sững nhìn chúng tôi quay đi không một phản ứng.
Gần đến cổng nhà, tôi đã thấy Đan Tâm đứng đợi, mặc chiếc áo khoác màu nâu và đội chiếc mũ len vàng nhạt. Đan Tâm chạy lại cầm tay tôi, mặt nhợt nhạt, hỏi thảng thốt: “Anh đi đâu? Em cứ tưởng anh đã bị bắt rồi. Em đang định lên công an hỏi thăm đây”. Đan Tâm quay sang ngạc nhiên nhìn cô gái: “Còn cô này là ai? Sao lại đi với anh?” Cô gái nhìn Đan Tâm trìu mến : “Chị không nhận ra em ư? Cả anh cũng vậy.Thật tệ quá. Em là em của chị mà cũng chính là chị đấy thôi. Hãy theo em xuống đây anh chị sẽ rõ”.
Cô gái hai tay cầm lấy tay tôi và Đan Tâm, như một đứa trẻ nhỏ kéo chúng tôi đi xuống phía chiếc ao dưới vườn. “Thôi tạm biệt”, chưa dứt câu chào cô đã buông tay chúng tôi đi thẳng xuống ao, mờ dần và tan đi như một hơi sương. Chúng tôi chỉ thấy những cây hoa súng vàng đang yên ngủ trên mặt ao hình như có chút lay động.
Tôi dìu Đan Tâm ngồi xuống phiến đá tôi vẫn ngồi mỗi ngày. Ánh trăng mờ mờ. Bàn tay Đan Tâm lạnh buốt. Tôi ấp hai tay mình vào tay Đan Tâm và ủ vào lòng để sưởi ấm cho em. Chúng tôi tựa vào nhau, truyền hơi ấm cho nhau, im lặng ngắm mảnh trời đêm phản chiếu trên mặt ao có những bông hoa súng đang yên ngủ dưới làn nước.
Viết tại Động Hoa Vàng
trong thời gian bị quản chế.
[1997-1998 ]
TDBC
___
Nguồn: http://www.diendantheky.net/2012/07/tieu-dao-bao-cu-manh-troi-xanh-tren_21.html


Recent Comments