
Sơn Nam, tranh Phạm Văn Châu
Sơn Nam: Nhà văn miệt vườn
Nguyễn Ngọc Chinh’s Hồi Ức Một Đời Người
Thưở sinh thời, nhà văn Sơn Nam được người đọc gán cho nhiều cai tên nghe rất lạ: Ông Già Đi Bộ, Ông Già Nam Bộ, Ông Già Ba Tri hoặc Nhà Nam Bộ Học, Pho Tự Điển Sống Về Miền Nam… Tuy nhiên, theo tôi, danh hiệu Nhà văn Miệt Vườn là ý nghĩa hơn cả.

Sơn Nam (1926-2008)
Xưa kia người ta đã dùng danh từ Miệt Vườn để chỉ Nam kỳ Lục tỉnh từ thời nhà Nguyễn, tức là khoảng từ năm 1832 (cải cách hành chính của vua Minh Mạng) tới năm 1862 (khi Pháp chiếm 3 tỉnh Miền Đông) và năm 1867 (khi Pháp chiếm nốt 3 tỉnh Miền Tây).
Năm 1832, Vua Minh Mạng đã đổi các Trấn thành Tỉnh, đặt ra Nam Kỳ và chia đất Nam Kỳ, vốn trước là Tổng trấn Gia Định, thành 6 tỉnh nên gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh hay được gọi tắt là Lục tỉnh. Đó là các tỉnh:
(1) Phiên An, năm 1836 đổi thành Gia Định (tỉnh lỵ là tỉnh thành Sài Gòn);
(2) Biên Hòa (tỉnh lỵ là tỉnh thành Biên Hòa);
(3) Định Tường (tỉnh lỵ là tỉnh thành Mỹ Tho) ở miền Đông;
(4) Vĩnh Long (tỉnh lỵ là tỉnh thành Vĩnh Long);
(5) An Giang (tỉnh lỵ là tỉnh thành Châu Đốc);
(6) Hà Tiên (tỉnh lỵ là tỉnh thành Hà Tiên) ở miền Tây.
Nhà Nguyễn đặt tên Lục tỉnh dựa theo 6 từ cuối của một câu thơ cổ:Khoái mã gia biên vĩnh định an hà (Phóng ngựa ra roi giữ yên non nước). Do đó, các tỉnh có tên: Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, AnGiang và Hà Tiên. (Theo Nguyễn Quang Thắng trong Trịnh Hoài Đức, một trong Gia Định tam gia, Nam Bộ xưa và nay, NXB TP. HCM, 2005, tr.147).

Nam kỳ Lục tỉnh
Ngay từ ban đầu thành lập Lục tỉnh, thành phố Sài Gòn trực thuộc tỉnh Gia Định. Trải qua năm tháng, hai tỉnh Biên Hòa và Gia Định tách khỏi nhóm Lục tỉnh, thuật ngữ Lục tỉnh thật sự chỉ còn ‘Tứ tỉnh’ nằm trong khu vục Đồng bằng sông Cửu Long, được gọi chung là Miền Tây hoặc Miệt Vườn. Hãy nghe chính Sơn Nam viết về Miệt Vườn:
“Trước năm 1945 và có lẽ trước năm 1960, người địa phương không gọi ‘Đồng bằng sông Cửu Long’ mà gọi là Miệt Vườn, với câu hát khá phổ biến:
Mẹ mong gả thiếp về vườn,
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh…

Thủ bút của Sơn Nam viết về Miệt Vườn
Đọc những tác phẩm của Nhà văn Miệt vườn Sơn Nam ta có dịp làm quen với rất nhiều địa danh miền Nam. Những tên bắt đầu bằng Cái có đến hơn một chục nơi như Cái Bè, Cái Bé, Cái Côn, Cái Hươu, Cái Mơn, Cái Nai, Cái Nước, Cái Răng, Cái Sắn, Cái Thia, Cái Vồn, Cái Vừng… Những địa danh bắt đầu bằng Giồng có Giồng Ông Tố, Giồng Tháp, Giồng Tượng, Giồng Xe; Gò có Gò Bầu, Gò Găng, Gò Quao, Gò Tre, Gò Xoài; Hòn thì gồm Hòn Chông, Hòn Đất; Vàm có Vàm Cỏ, Vàm Láng, Vàm Nao, Vàm Rầy, Vàm Thuận, Vàm Trư; còn Xẻo thì có những tên ngộ nghĩnh như Xẻo Bần, Xẻo Lá, Xẻo Nước, Xẻo Rô…
Miệt vườn còn có những cái tên ‘sặc mùi’ Nam bộ, mang âm hưởng Cao Miên, như Cà Bây Ngọp, Chắc Cà Đao, Chắc Băng, Láng Thé, Lấp Vò, Man Thít, Mo So, Soài Rạp, Tà Lơn, Thốt Nốt và hàng loạt những địa danh ‘bí hiểm’ như Tắt Ổ Cu, Tắt Ăn Chè, Tắt Quanh Queo hay Trà Ết, Trà Lồng, Trà Niền… Đọc Sơn Nam ta có dịp khám phá những địa danh vừa lạ lẫm, vừa mộc mạc, tưởng chừng như lạc vào một thế giới khác. Hãy nghe Sơn Nam giải thích về cái tên Cà Bây Ngọp trong Tình nghĩa giáo khoa thư:
“Xứ Cà Bây Ngọp, nghĩa là trâu chết. Hồi đó nghe nói trâu “len” tới đây thất bại, phong thổ ẩm thấp, trâu chết nhiều quá. Họ đặt tên kỷ niệm luôn… Bởi vậy dân tình bệnh hoạn, thưa thớt, làng này chưa cất nổi cái trường học…”
Qua câu chuyện về xứ Cà Bây Ngọp, ta có dịp biết đến từ “len” trâu, tên một truyện ngắn của Sơn Nam đã được dựng thành phim Mùa len trâu bởi đạo diễn trẻ Nghiêm Minh. Ông giải thích: “Len ở đây có gốc tiếng Khơme, là tháo ra, cởi ra. “Len Krabey” nghĩa là tháo cho trâu chạy ra. Hồi xưa trâu nhiều, mà người thương trâu như bạn, giăng mùng cho trâu ngủ để khỏi bị muỗi chích, mùa nước nổi phải dắt trâu lên núi tránh nước“.

Sơn Nam (1960)
Chủ nhân đất miệt vườn gồm ba dân tộc: người Việt, người Hoa và người Khơme. Qua các tác phẩm của Sơn Nam ta được làm quen với những lễ hội như đua ghe ngo, lễ cúng trăng, ngày bổ tróc của người Khơme. TrongHồi ức Sơn Nam, tác giả kể lại:
“…Khi vào trường làng, tôi học chung với vài cậu bé Việt lai Hoa, Hoa lai Khơme. Học trò không mấy đứa có khai sinh, tên nghe ngộ nghĩnh như thằng Tứng, thằng Khưng, thằng Xa Ðơn. Lắm đứa ở trần mặc quần cụt vào lớp, thỉnh thoảng lén ra ngoài sân rồi trở về nhà…
…Nhưng sôi động nhất là sự hiện diện của người Hoa, phần lớn là Triều Châu, họ mua bán sỉ lẻ, đặc biệt là tổ chức sòng bạc ngày đêm, gần như là công khai. Thanh niên phần đông là lai tạp, chiều chiều đến học võ và trình diễn nào võ Khơme, võ Việt Nam (?), võ Triều Châu, võ Lào, võ Xiêm (nhất là dịp lễ hội ở chùa Phật người Khơme)“.
Người Khơme xuất hiện trong tác phẩm của Sơn Nam với nhiều tình cảm ưu ái. Bút hiệu Sơn Nam của ông cũng gắn với họ một kỷ niệm. Sơn Nam nói, ông là người Kinh, cha mẹ đặt tên là Phạm Minh Tài, (tên trong giấy khai sinh là Phạm Minh Tày, giải thích cái tên này, ông bảo do làng xã ghi lộn chữ “i” thành chữ “y”), sinh ở An Biên, tỉnh Rạch Giá, nay là tỉnh Kiên Giang. Lúc còn nhỏ mẹ ông không đủ sữa cho ông bú, nên ở xóm có một bà mẹ Khơme tốt bụng, đã cho ông bú ‘ké’. Sau này, lớn lên viết văn, để nhớ ơn bà, ông lấy bút hiệu khởi đầu bằng chữ Sơn (biểu thị một họ lớn, trong một số họ phổ biến của người Khơme) còn chữ Nam là ở miềnNam. Bây giờ, nếu ai hiểu bút danh của ông là “một đỉnh núi cao ở miềnNam”, thì theo tôi, cũng rất phù hợp.
Trong Hồi ký Sơn Nam ông đã tự thuật:
Tôi chào đời vào năm 1926 ở vùng U Minh Hạ, thuộc khu vực rừng tràm trầm thủy ven vịnh Xiêm La mà Pháp khoanh vùng để bảo quản và quản lý khá chặt chẽ, tuy nhiên người dân địa phưong có thể đốn cây tươi để bán lẻ tẻ hoặc dùng trong gia đình. Ðây là khu vực thuộc huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, với con rạch Thứ Sáu, hệ thống rạch mà Gia Ðịnh Thành Thông Chí đời Gia Long đã mô tả. Hơn chục con rạch ngắn, cong queo, bắt nguồn từ giữa rừng chảy ra biển, từ Ðông sang Tây, chẳng dính dấp gì đến con sông Hậu Giang. Mùa mưa, nước tràn vùng trũng, chịu ảnh hưởng hải triều, 24 giờ có hai lần lớn ròng, vì vậy, nước dưới rạch như mãi lưu thông.
…Lớn lên, đâu khoảng tôi 6 tuổi, cha tôi là con út trong gia đình bèn rời bỏ quê hương đi khẩn đất, lên phía Bắc, ven vịnh Thái Lan, cách thị xã Rạch Giá chừng 15 kilômét phía Hà Tiên (nay gọi là vùng ven khu Tứ Giác). Bấy giờ con kinh Rạch Giá-Hà Tiên vừa đào xong nhưng chưa được sử dụng vì bên bờ thưa thớt dân cư, nước phèn mặn. Dọc theo mé biển nhiều giồng cát cao ráo đã có người Khơme định cư, co cụm trên cao, ven giồng là đất thấp, úng lụt. Thêm vài ngọn đồi thơ mộng, dính vào đất liền, gọi là vùng Hòn Chông, Ba Hòn với hai cột đá cao, nằm nghiêng một chiều, gọi hòn Phụ Tử rồi lên Hà Tiên gặp nhiều hòn đá vôi (xi măng Hà Tiên). Ăn đến biên giới là những thắng cảnh như Tô Châu, Đông Hồ, Thạch Ðộng, gần xa ngoài biển là hàng chục đảo lớn nhỏ, khi trời quang mây tạnh, nhìn thấy dạng đảo Phú Quốc khá cao và dài. Không khí u buồn nhưng chưa quá ảm đạm. Còn đâu thời Mạc Thiên Tứ với Chiêu Anh Các!”.

Sơn Nam (1990)
Người đọc những tác phẩm của Sơn Nam cảm thấy thích thú qua ‘ngôn ngữ kể chuyện’ và qua những đối thoại của các nhân vật ‘miệt vườn’. Ngôn ngữ miền Nam này bao gồm cả ngữ âm, ngữ pháp lẫn từ vựng. Cũng phải nói thêm, không phải chỉ mình Sơn Nam mới có loại ngôn ngữ đó. Đọc Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Lê Ngọc Trụ, Vương Hồng Sển, Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Bình Nguyên Lộc… người ta thấy ngay nét đặc trưng của miền Nam thời tiền chiến nhưng phải đợi đến thời của Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và sau này là Nguyễn Ngọc Tư người đọc mới cảm nhận hết được cái mộc mạc, chân chất của những người uống nước sông Cửu Long.
Với tư cách là người đi trước, Sơn Nam nhận xét về nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư nổi tiếng với Cánh đồng bất tận đã được dựng thành phim: ”Cô Tư viết hay nhưng hỗn. Văn phong của cổ hơi cà rỡn. Cái nhìn trong “Cánh đồng bất tận” không rộng, nông dân ở đó không nhìn hẹp như thế mà mỗi cái họ đều có lý của họ. Ngọc Tư thông minh, sẽ còn phát triển nữa nhưng cần người chỉ dẫn sau vụ lùm xùm về “Cánh đồng bất tận”.
Sơn Nam đôi lúc còn làm công việc giải nghĩa từ vựng của nhà ngữ học. Kho từ điển của ông thật phong phú: cũng một chữ Ghe ta còn biết thêm Ghe bè, Ghe cui, Ghe diệu, Ghe giản, Ghe hát, Ghe hầu; Nước còn có Nước rặc, Nước rằm… Các công tử người miền Nam lúc nào cũng ‘xính xái’, có khi ‘xổ nho’ mặc dù ăn diện rất ‘bảnh’, ‘xài’ tiền toàn ‘giấy bộ lư’, ‘giấy con công’, ‘giấy năm trăm’… Dân miền Nam đi ‘mần’ ở tận ‘miệt dưới’, có khi lại lên đến ‘miệt trên’…
Nhà văn Nguyễn Trọng Tín, vốn là bạn văn của Sơn Nam, nhận xét: “Nhà văn Sơn Nam là một trong rất ít người còn lại hiểu biết nhiều về Nam bộ. Ông có nhiều cống hiến cho văn chương và là người đứng đầu trong số các nhà văn Nam bộ. Bên cạnh sự nghiệp sáng tác, ông còn rất nhiều công trình khảo cứu và sưu tập về văn hoá Nam bộ. Ðặc biệt, ông là người hiểu biết quá trình hình thành dải đất Nam bộ. Từ hiểu biết uyên bác đó ông lại thể hiện bằng những trang viết rất giản dị khiến nhiều tầng lớp độc giả đều đọc và dễ hiểu tác phẩm của ông“.

Sơn Nam (1999)
Sơn Nam bắt đầu nổi danh trên văn đàn với tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau, xuất bản tại Sài Gòn năm 1962. Ngoài truyện ngắn, ông còn thành công với những công trình biên khảo như Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Văn minh miệt vườn Gia Ðịnh xưa, Bến Nghé xưa… Nhà văn SơnNam tâm sự:
“Lịch sử Nam bộ Việt Nam là lịch sử của công cuộc khẩn hoang trường kỳ và tự lực. Ý thức khẩn hoang mở đất ăn sâu vào máu thịt tôi. Ðời ông nội rồi đời cha tôi lo khẩn hoang, mở đất. Nên những trang viết của tôi dành cho việc khẩn hoang mở đất và thế là viết về khẩn hoang trở thành sở trường của tôi. Hơn nữa, đây cũng là đề tài mà người dân Nam bộ rất quan tâm, bởi trong ký ức của những người Sài Gòn cũ, người Nam bộ cũ, vẫn còn lưu giữ nhiều ấn tượng trong việc vật lộn với thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên trong những ngày đầu mở đất, mở nước.
…Nam bộ nói chung, Sài Gòn nói riêng nào phải là ‘địa đàng’. Xưa kia, nước Phù Nam với trình độ cao đã sa lầy và bị tiêu diệt tại đây. Người Khơme bản địa sống co cụm trên những giồng cao ráo, làm ruộng thâm canh, không thích triển khai diện tích vào nơi đầm lầy đầy rắn, cọp và bệnh sốt rét. Người Hoa vẫn giữ tập quán thâm canh, ở đất cao, làm rẫy rau cải, khoai lang, không xông xáo ‘phá sơn lâm, đâm hà bá’ như dân Việt.
Dân ta đã định cư ở nơi đất thấp, nước phèn, đốn củi, phá rừng. Ở rạch Thị Nghè, ăn sâu vào phía Bà Chiểu (Cầu Bông ngày nay) dân miền Trung vào, sống với nghề chài lưới: bán cá để mua gạo, mua trầu cau từ nơi khác sản xuất. Cảng Sài Gòn lần hồi thành hình, dần dần đem lại phồn vinh cho một vùng đất trù phú và lý tưởng. Vùng đất Nam bộ, vùng đất Sài Gòn – Gia Định ngày nay. Công ơn của tổ tiên thật là to lớn“.
Ông còn bước sang ‘âm nhạc miệt vườn’ hay còn gọi là ‘Đờn ca tài tử’ vốn gắn bó với người miệt vườn từ bao thế hệ. Sơn Nam khảo cứu về cội nguồn của vọng cổ như sau: “Bản Dạ cổ hoài lang xuất hiện và phát triển hàng đôi chục năm mới tạm định hình. Thoạt tiên, người chưa hội nhập với khung cảnh đặc thù của đồng bằng Nam Bộ thấy như lạ tai, ngoại lai, nhưng lần hồi nhiều người nhìn nhận nó. Có lẽ hơi hướm đầu tiên của nó là bản Hành Vân ngắn gọn, từ Huế đưa vào một khu vực có cổ nhạc thịnh hành ở Long An. Rồi nhạc sĩ Cao Văn Lầu gặp hoàn cảnh buồn bực của gia đình, vì nghèo túng phải tha phương xuống tận mũi Cà Mau, với tay nghề, với tâm hồn mở rộng, ông hội nhập dễ dàng với người Hoa (triều Châu) đang chiếm tỷ lệ đáng kể tại Bạc Liêu. Nhờ học thêm nhạc lễ với ông Nhạc Khị (Khởi), ông hoà đàn cùng bạn bè, hành nghề nhạc lễ để mưu sinh. Nhớ đến người vợ mà cha mẹ không hài lòng vì không sinh con nối dõi, ông đau khổ vô cùng thử soạn ra bản Dạ cổ hoài lang để giải sầu“.

Nhà văn Sơn Nam (trái) và nhà thơ Kiên Giang
(1960)
Thời cuộc đổi thay, chúng ta bắt gặp một Sơn Nam ”đổi đời” sau ngày Sài Gòn sụp đổ. Ông viết trong Cầu xin hai chữ bình an kể lại những ngày đầu khi Sài Gòn thất thủ:
“… Hai ngày qua, nhiều sự việc xảy ra. Ở phường vài cậu đến, kẻ ăn nói cộc lốc, kẻ rất nhã nhặn. Nhưng nói chung, ai cũng bảo tôi nên ‘kiếm cơ sở’ xác nhận. Tôi hiểu ngầm rằng mình đã dính líu tới cách mạng tới mức độ nào. Quả thật, tôi không phải là đảng viên cộng sản, là người có dính líu với cơ sở nào cả. Họa chăng tôi là người trong ban chấp hành của Hội Văn Bút [Pen Club], một tổ chức nghe ra thì ‘quốc tế’ nhưng chắc là không được ta ưa thích. Còn chuyện ở tù sau chót này thì chẳng có giấy tờ gì cả. Tôi ra tù vì ‘công an quốc gia’ bỏ khám, rồi chúng trốn mất tích.
Vài người bạn hiền lành thủ thỉ với tôi chuyện ‘vượt biên’ nhưng tôi chẳng cần nghe. Tôi chẳng biết tiếng Anh, nghĩ rằng hồi xưa biết chút ít chữ Pháp là đủ rồi. Chẳng có bà con, anh em nào ở nước ngoài cả, dòng họ bà con xa gần của tôi, tất cả đều còn ở U Minh… Quan điểm của tôi là cứ quê hương ‘là đủ rồi’.
Đoàn Nam Sinh viết Nhớ Sơn Nam trên Tuổi Trẻ nhân ngày giỗ đầu củaÔng già đi bộ (13/8/2009):
“…Tôi nhớ bữa đưa tang Bùi Giáng ở Gò Dưa, sau bài ai điếu của Cung Văn là điếu văn của Hội nhà văn thành phố. Chú [Sơn Nam] moi bài viết trên túi áo vét xanh nhàu nhĩ, sửa lại đôi kính cũng rầu rĩ như ông chủ và run run nói:
‘Anh Giáng ơi! Sáng nay anh Nguyễn Quang Sáng nói với tui: anh là lớp trước, lại ở trong này, anh đại diện cho hội đọc dùm điếu văn này. Dzậy đây là phần của hội nghe anh Giáng…
‘…Tui đọc dzậy là xong rồi, còn đây là của tui. Anh Giáng ơi! Sinh thời anh ăn mặc xốc xếch, áo trong dài hơn áo ngoài… nhưng văn thơ của anh ngay ngắn đường hoàng. Anh có nề gì cháo chợ cơm hàng, cả cơm thừa canh cặn, nhưng câu chữ anh xài sạch sẽ, ý tứ sáng trong. Cả đời anh lang thang khi chùa khi chợ có cố định đâu đâu, mà bữa nay anh đi có quân canh lính gác, có vòng hoa của thành ủy-ủy ban, có Hội nhà văn, vậy là anh có hộ khẩu Sài Gòn rồi đó nghe anh Giáng…”

Văn Lang trong Nhớ về nhà văn Sơn Nam:
“…Bây giờ mọi sự đã lâu quá rồi, ngày đó chuyện trò với bác những gì, tôi chỉ nhớ được rất ít. Chuyện về cụ Phan Chu Trinh, bác nói: “Căn nhà ở Chợ Cũ (Sài Gòn), nơi cụ Phan mất và làm đám tang ở đó, bác có đề nghị nên bảo tồn để làm di tích lịch sử mà “nói hoài không ai nghe”.
Khoảng một tuần sau đó, tôi ra thăm Viện Sử học, có kể chuyện mà bác Sơn Nam nói về căn nhà ở Chợ Cũ cho một nhà nghiên cứu về lịch sử cận đại Việt Nam nghe, vị này nói nho nhỏ: “Anh biết không, ở Huế dân chúng có đúc một tượng đồng của cụ Phan Bội Châu to lắm, thế mà nó không được dựng lên, cứ để nằm dài dưới đất. Người ta bảo là nếu tượng to thì phải là tượng của người khác, bây giờ chưa có tượng nào to cả, dựng cụ Phan lên thì cụ to nhất nước còn gì! Tượng cụ Phan đã đúc sẵn rồi mà còn thế, huống gì căn nhà mà anh vừa nói!”
Về “Bến Nhà Rồng” – lúc đó mới được trùng tu xong để làm chỗ kỷ niệm nơi Nguyễn Ái Quốc rời Việt Nam đi Pháp lúc trước – bác bảo: “Chỗ đó có phải đâu! Tại nó có vị trí tốt nên mới được chọn đó thôi. Hồi đó có hai hãng tàu thủy khác nhau, hãng tàu mà cụ Nguyễn làm thì bến của nó nằm ở chỗ khuất tuốt phía trên (của sông Sài Gòn), khó thấy, còn cái “Nhà Rồng” là nhà của ông chủ hãng tàu kia, nằm ở chỗ ngon lành…”

Hotel des Messageries Maritimes (ngày nay là Bến Nhà Rồng)
Nhà văn Miệt vườn Sơn Nam qua đời lúc 13g chiều ngày 13/8/2008 tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, thọ 83 tuổi. Vợ của nhà văn, bà Đào Thị Phán, hiện sống cùng vợ chồng ông Trần Văn Nghị – bà Đào Thúy Hằng (con gái cả của nhà văn Sơn Nam) tại một vùng quê ở Mỹ Tho.
Tháng 8/2011, gia đình ông xin rút tên Sơn Nam khỏi Giải thưởng Nhà nước với lý do “Sinh thời ông cụ không màng giải thưởng, danh vọng, chỉ muốn viết để kiếm sống và để đi vào lòng người đọc“.
Thay mặt gia đình, ông Trần Đức Nghị, con rể của nhà văn Sơn Nam, cho biết: “Trước khi qua đời năm 2008, ông cụ cũng nghe phong thanh chuyện giải thưởng nhưng ông gạt đi. Ông cụ thường nói, người viết văn sống trong lòng người đọc là chính và ông viết cũng để kiếm sống, không mong được giải thưởng gì. Giờ đây ông cụ đã mất, gia đình chúng tôi không muốn đưa tên ông ra bình xét giải thưởng mà chỉ muốn cho người quá cố được yên nghỉ. Cả má tôi và vợ chồng tôi đều nhất trí như vậy”.
Gia đình nhà văn Sơn Nam là người mới nhất muốn rút khỏi danh sách đề cử hai giải thưởng văn học trong nước năm nay, là giải Nhà Nước và giải Hồ Chí Minh. Các nhà văn, nhà thơ Nguyễn Khoa Ðiềm, Nguyên Ngọc, Sơn Tùng, cũng xin rút ra khỏi danh sách dự giải.

Mộ Sơn Nam
***
Trong gần 60 tác phẩm của Sơn Nam, đáng chú ý có:
- Chuyện xưa tình cũ (1958)
- Tìm hiểu đất Hậu Giang (nghiên cứu, 1959)
- Hương rừng Cà Mau (1962)
- Chim quyên xuống đất (1963)
- Hình bóng cũ (1964)
- Vạch một chân trời (1968)
- Gốc cây – Cục đá & Ngôi sao (1969)
- Lịch sử khẩn hoang miền Nam
- Đình miếu & lễ hội dân gian miền Nam
- Danh thắng Miền Nam
- Theo chân người tình & một mãnh tình riêng
- Từ U Minh đến Cần Thơ – Ở chiến khu 9 – 20 năm giữa lòng đô thị – Bình An
- Tìm hiểu đất Hậu Giang & lịch sử đất An Giang
- Xóm Bàu Láng
- Hồi ký Sơn Nam (Nhà xuất bản Trẻ, tổng hợp từ 4 tập hồi ký: “Từ U Minh đến Cần Thơ“; “Ở Chiến Khu 9“; ”20 năm giữa lòng đô thị” và “Bình An” đã được xuất bản từ năm 2000 đến năm 2005).
(Trích Hồi Ức Một Đời Người, Chương 10 - Thời xuống lỗ)
Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:
1. Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
2. Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
3. Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
4. Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
5. Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
6. Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
7. Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
8. Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
9. Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ)
Tác giả còn dự tính viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!
___
Nguồn: http://nguyenngocchinh.multiply.com/journal/item/79/79
Sơn Nam, Việt Nam
Đặng Tiến
**
Sơn Nam nhà văn, tác gia hàng đầu trong nền văn học Việt Nam đương đại, vừa qua đời trưa xế ngày 13 tháng 8, 2008, hưởng thọ 82 tuổi. Báo chí loan tin thường gọi ông là nhà văn Nam Bộ, vô hình trung, giới hạn tầm cỡ của một tác gia lớn ; cách gọi như vậy, là ưu ái, vô hình trung khoanh vùng văn hóa, tạo nên một thứ văn học da beo da báo, trên một đất nước đã hao xương tổn máu nhiều để đi đến thống nhất.
Sơn Nam sinh ngày 11.12.1926, tại làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá, nay là Kiên Giang. Tên thật là Phạm minh Tài, nhiều tài liệu ghi Tày, có lẽ vì trên khai sinh ghi Phạm Anh Tày. Chữ Tài đúng hơn vì ông có người em tên Trí. Bút hiệu Sơn Nam là do kỷ niệm người vú nuôi gốc Miên, họ Sơn. Còn là một địa danh lịch sử, có từ đời Trần.
Ông học tiểu học tại quê, đến trung học lên Cần Thơ. Gia đình là nghiệp chủ khá giả, ông sống tuổi trẻ thong dong ; giàu óc quan sát và trí nhớ, ông đã ghi tạc nhiều nếp sống thổ ngơi : hình ảnh nông thôn Nam Bộ trong truyện ngắn Mùa len Trâu, nổi tiếng vì được dựng thành phim, là những kỷ niệm ấu thời trong tâm cảnh Sơn Nam.
Tham gia kháng chiến Nam Bộ suốt chín năm chống Pháp, ông di chuyển nhiều, có thêm cơ hội thâm nhập sâu vào thiên nhiên và đời sống nông thôn, nhất là Miền Tây, như Miệt U Minh. Ông giữ nhiều chức vụ từ cấp tỉnh, đển quân khu và xứ ủy. Làm báo, viết văn, ông được giải thưởng của Ủy Ban kháng chiến Nam Bộ 1951-1952, với truyện Bên rừng cù lao Dung, nay thất lạc, và ký sự Tây đầu đỏ được giải nhì 1953-1954.
Sau hiệp đình Genève 1954, Sơn Nam tự ý ở lại Miền Nam, rời quê Rạch Giá lên sinh hoạt tại Sài Gòn. Tại đây ông sống vất vả bằng ngòi bút, viết cho bốn nhật báo, và viết truyện, phần nhiều đăng trên tuần báo Nhân Loại, thân kháng chiến, tồn tại được hai năm 1956-1958. Sơn Nam xuất hiện như là một nhà văn mới, và được chú ý ngay, như tập truyện Chuyện xưa tích cũ, 1957. Cùng năm đó nhà Trùng Dương của những người kháng chiến cũ có in mấy tập truyện mỏng, Chiếc ghe Ngo, Đóng gông ông thầy Quít, trong loại truyện tin yêu đất nước, ngoài bìa không ghi tên tác giả, nên giới biên khảo không để ý và trích dẫn.
Ông bị chính quyền Sài gòn bắt giam tại Phú Lợi trong non hai năm, 1960-1961. Ông rất sợ chuyện chính trị và thường né tránh. Ra tù ông tập hợp 18 truyện thành tập Hương Rừng Cà Mau, đưa in ở nhà Phù Sa, 1962, là cơ sở xuất bản do ông và Ngọc Linh chủ trương. Thời đó, các tác giả thường có nhà xuất bản.
Tập truyện được nhiệt liệt hoan nghênh. Tạp chí Bách Khoa số 130, ngày 1.6.1962, có bài giới thiệu nồng hậu :
« giọng kể chuyện của tác giả thường khi rất giản dị, không có chút gì trau chuốt (…) nhưng chỗ tài tình của Sơn Nam là sau cái bề ngoài giản dị như vậy, ông vẫn tỏ ra là người hóm hỉnh, và sắc bén, diễn tả được sự thực tâm lý tế nhị ».
Tác giả lời bình này là… Võ Phiến, nhất định không phải là « đồng chí » với Sơn Nam – nếu quả là ông này nằm vùng.
Đến 1975, vấn đề lại được nêu ra : Sơn Nam được đề cao, hay phê phán vì cái huy chương hai mặt này. Riêng Võ Phiến thì trước sau vẫn công bằng và chung thủy. Năm 1993, ông còn viết :
« Nói gọn thì chính trị Việt Nam chỉ có hai phía, mà đời ông lại chia làm ba phần : đoạn đầu và đoạn chót thuộc phía cộng sản, đoạn giữa thuộc phía quốc gia (…). Tính ra thời gian ông ở bên quốc gia ngắn, mà thành tích thời ấy chiếm phần quan trọng hơn cả trong đời văn của ông » [1]
Nói cho có đầu có đũa tách bạch, chứ trong chuyện văn chương không ai tranh cờ tranh quạt làm gì. Ngoài ra, định mệnh viên mãn của một trái cây, là lúc chín muồi, ngon ngọt chớ không phải lúc đơm hoa kết nụ hay số phận về sau.
*
Sơn Nam là nhà văn điệu nghệ. Trong Văn Minh Miệt Vườn, 1970, ông có nói ở chương cuối : điệu nghệ là do chữ đạo nghĩa. Ở Sơn Nam hai chữ này đồng hóa.
Đạo nghĩa là nhân ái, thủy chung. Nhân ái không những với đồng hương Miệt Vườn, đồng bào Việt tộc, đồng loại nhân sinh, mà còn nhân ái với cảnh vật, kể cả con cá sấu khó thương.
Truyện Sông Gành hào kể việc chú Tư Đức phải gian nguy mới triệt hạ được con cá sấu vô cùng hung hiểm, tu luyện hằng trăm năm ; nhưng triệt nó rồi thì Tư Đức tha cho con thứ hai đi đôi, vì giết một con đủ rồi, giết hết mình có tội với Trời Đất.
Ông Năm Hên có tài Bắt sấu rừng U Minh hạ : bắt hằng năm mươi con, lấy dây cóc kèn trói thúc ké hai chân sau, chừa hai chân trước để nó bơi tiếp với mình … Con này buộc nối con kia, đen ngòm như khúc cây khô…
Năm Hên vừa bơi xuồng vừa hát, giọng nghe ảo não, rùng rợn :
Hồn ở đâu đây
Hồn ơi ! hồn hỡi…
(…) U Minh đỏ ngòm
Rừng tràm xanh biếc !
Ta thương ta tiếc
Lập đàn giải oan
Loài cá sấu cũng là chúng sinh, giết nó rồi thì giải oan, thờ cúng. Nhưng đến chiếc xe đò cũ, cà tàng cà rịch cà tang, cũng được ưu ái, người lái xe già nua than vãn : con ngựa này già quá rồi. Vài năm nữa cho nó vô nhị tì xe hơi của Chệt ve chai. Còn tôi thì về vườn xuống lỗ (…) nhưng khách bộ hiền sẽ về đâu ? Họ cúi đầu nhìn xuống, hình dung cái lúc mà xác chiếc xe này hóa ra quỉ vô thường, từng bộ phận của nó sẽ trở thành những mảnh sắt vụn, cái đục, con dao yếm, như khi con trâu chết thì phân thây ra làm con cờ, lược chải đầu, mặt trống… Sanh kế sẽ đưa đẩy họ về đâu ? (…) Hoặc họ lê gót khắp đô thành, ăn gởi nằm chờ, nhìn lá me rụng bên vệ đường, nhìn bóng mát cây trứng cá nhà ai, rồi hững hờ dang tay hái trộm thử một trái để tự an ủi
Truyện Đường về quê này, Sơn Nam viết, và Võ Phiến đọc, vào năm1955, khi cả hai mới từ kháng chiến về thành. Bốn mươi năm sau, 1993, Võ Phiến từ Los Angeles còn vọng về quê cũ : « chao ôi, bùi ngùi thương cảm biết chừng nào cái hình ảnh bàn tay dang ra hững hờ hái thử một trái trứng cá « nhà ai ». Xin thú thực là ngót bốn chục năm xa làng xóm quê nhà, tôi vẫn bị hình ảnh nọ ám ảnh dai dẳng » (sđd, tr. 1353).
Trong văn chương, độc giả tri kỹ và lý tưởng là người đồng cảnh, đồng thời, đồng tuổi, cũng viết văn gần nhau.
(Ngoài đề, và chủ quan : nếu Sơn Nam nằm vùng, ắt Võ Phiến biết, và sẽ khó viết một lời cảm khái như vậy, vào 1993)
Tinh thần đạo nghĩa ở Sơn Nam vượt địa giới Nam Bộ rất xa. Nội dung chính trị trong Hương Rừng Cà Mau, những chuyện xảy ra khoảng 1930-1940, chủ yếu là tinh thần chống thực dân Pháp. Nhưng người Pháp, trên tư cách cá nhân, không phải ai ai cũng xấu. Thậm chí có người thật tốt, nhân hậu như ông Tây kiểm lâm tên Rốp trong Sông Gành Hào.
Ca ngợi phong cảnh, phong tục quê hương, dĩ nhiên là hoài cổ. Quê hương, nơi nào cũng vậy, là cái đang tàn phai. Nhưng đặc điểm của Sơn Nam là, trong mộng tưởng và hồi tưởng, ông không níu kéo dĩ vãng. Chống Pháp, không thể múa roi đi quờn như chúa Đảng Cánh buồm đen. Ông tin vào khoa học, lịch sử, cộng đồng và hướng về tương lai.
Sơn Nam kết luận Văn Minh Miệt Vườn : văn hóa là sức sống luôn luôn hiện đại hóa (tr. 218). Về mặt này, ông khác với Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Tuân, Võ Phiến, Tô Hoài. Trên cơ bản, sự khác biệt nằm ở bản chất : bốn tác giả kể trên có tinh thần hoài nghi, chất hoài nghi này không có, hoặc ít có hơn nơi Sơn Nam. Nhưng kết với Sơn Nam, họ họp thành Ngũ Nhạc trong địa đồ văn học Việt Nam.
Sơn Nam là nhà văn Việt Nam, không riêng cho Nam Bộ. Dù cả đời ông mới nhích từ Cà Mau lên tới Sài Gòn, phong cảnh và tâm cảnh của ông chỉ xê dịch trên sông nước Miệt Vườn. Trong Người Việt có dân tộc tính hay không (1969) Sơn Nam « khẳng định »: không có người Việt Miền Nam mà chỉ có người Việt Nam.
Sơn Nam dung dị, từ tốn. Ông có viết : Thái độ ôn hòa khiến nhiều người lầm tưởng rằng dân Miệt Vườn quá bở, không sâu sắc. Bất cứ đạo nào, triết lý nào đem phổ biến thì cũng có người theo. Nhưng người Miệt Vườn chỉ theo với thái độ « ba phải » cầu vui.
Nhìn dưới một góc độ nào đó, nhất là bề ngoài, thì Sơn Nam cũng thuộc dạng ba phải cầu vui. Điều này khiến ông không dấn thân vào một cuộc đấu tranh chính trị dài hạn. Trên dòng lịch sử ông như một mảng lục bình bập bềnh bấp bênh vào cơn nước lũ, nhưng trước sau vẫn thủy chung, sống chết với một lòng sông. Đọc lại, đọc kỹ văn ông suốt nửa thế kỷ, ta sẽ gặp niềm chung thủy đó. Mà thương cho những oan khiên.
Thoạt kỳ thủy, dường như dòng đời đẩy đưa ông trôi dạt đến văn chương, chứ ông không cao vọng. Bút hiệu Sơn Nam dựa trên tên họ người vú nuôi gốc Khmer, họ Sơn. Bút hiệu từ tốn, không tham lam như Phú Đức, không cao đạo như Biểu Chánh, không bay bổng như Phi Vân, không thâm thúy như Bình Nguyên Lộc. Nhưng ông vẫn là khách tài hoa bậc nhất.
Đạo nghĩa, Sơn Nam là tay điệu nghệ. Có những đoạn văn ông viết thật hay. Như trong Gia Định Xưa, 1984, sách nghiên cứu, nghiêm túc, uyên bác, viết đều tay, văn nghị luận xen vào hình ảnh thi vị :
Mùa lụt, cá nước ngọt trôi theo nước ra khá xa vàm biển. Ngược lại, tới mùa khô, cá biển và cá nước lợ lại theo thủy triều mà vào sâu trong lòng sông. Cá rô với vảy cứng có thể lóc đi trên bùn đất khô. Cá trê, rùa, lươn có thể sống trong bùn mà không ăn uống trong vài ba tháng nắng. Cá sặt đẻ trứng trên khô, mùa nắng trứng bay tung theo gió rồi đáp xuống như hạt bụi để nở ra trong vùng nước đầu tiên của cơn mưa đầu mùa. Con cò quắm, nhan sen, trích ré, trích cồ là chim trời nhưng đậu và ngủ trên bùn. Chim bồ nông, già sói ở mũi Cà Mau quen bay từng đàn đến tận Biển Hồ đất Campuchia để ăn cá mùa lụt rồi trở về rừng cũ (tr. 11).
Sơn Nam đã sống thấm thía ý văn rồi mới viết ra được một câu súc tích như vậy. Rung cảm phải sâu lắng lắm, câu văn – tình cờ – mới đưa đến chữ cuối cùng : rừng cũ. Lời văn dài tả cảnh, đọng lại hai chữ cuối cùng, trìu trĩu tâm tư. Tấm lòng Sơn Nam, đâu đó, là rừng đợi chim về như đâu đó, trong thơ Nguyễn Trãi.
Sơn Nam ưa nhắc những món ăn quê kiểng, cá dứa nấu với trái bần chín : vùng nước lợ, gần cửa sông, cá dứa lớn lên nhờ ăn trái bần chín rụng xuống, rồi khi làm canh chua người ta lại hái trái bần chín mà nấu trở lại (tr. 83).
Không biết món canh bần cá dứa này ngon đến mực nào, nhưng nó chứng tỏ cấu trúc thi pháp trong Sơn Nam, cái ngôn ngữ thơ tiềm ẩn trong tư duy. Không có tư duy thi nhân thì không viết được Hương Rừng Cà Mau, ví dụ như truyện Con Bảy đò đưa.
Balzac (1799-1850) là nhà văn Pháp, lừng danh về sự nghiệp tiểu thuyết đồ sộ. Gần đây, các nhà dân tộc học còn nhận ra nơi ông một đồng nghiệp đi tiên phong. Bậc thầy của ngành dân tộc học thế giới, Claude Levi-Strauss đã tham chiếu Balzac để dẫn nhập cuốn La Pensée Sauvage, Tư duy hoang dã (1962) kinh điển. Giới dân tộc học lắp ráp những dữ kiện rời rạc – những văn liệu rải rác – đưa đến kiến thức tổng quát và hữu cơ về xã hội, về văn hóa một dân tộc, chủng tộc, như Sơn Nam mong ước khi viết khảo luận về phong tục, nếp sống trong Văn minh Miệt Vườn ,
Nghiên cứu về xã hội, về văn hóa, đòi hỏi một tinh thần rộng rãi, khách quan, gạt ra ngoài những thành kiến chánh trị vụn vặt .(tr99)
Khổ nỗi, cái anh chàng thành kiến chánh trị, đã là thành kiến, đã là chánh trị, thì mấy khi chàng tự biết mình là…vụn vặt !
Ở Việt Nam, Tô Hoài từng được một nhà phê bình Nga đề cao những đóng góp vào dân tộc học.
Mai kia mốt nọ, sẽ có người khai thác được giá trị xã hội, văn hóa mà Sơn Nam lưu trữ qua khoảng 300 tác phẩm và hằng vạn trang bản thảo chưa được in ấn.
Một nhân vật của Sơn Nam , ông Từ Thông, sống một mình trên hoang đảo, hòn Cổ Tron, trong vịnh Xiêm La ; một hôm nhớ cảnh nhớ người, ông về đất liền, bị bắt giam vì không có giấy tùy thân ; được thả, ông trở về đảo. Người lục địa thỉnh thoảng nhớ ông già quái dị – như người hôm nay, và mai sau dù có bao giờ, biết đâu sẽ có người còn nhớ Sơn Nam :
Chiều khi ra bờ biển câu cua, đẩy xịp, người ta nhớ ông Từ Thông như nhớ một cái vỏ ốc xa cừ ngũ sắc tấp vào bãi bùn. Như nhớ vài trang sách Phong Thần tình cờ lượm được trong ngăn tủ bỏ quên, những trang sách rách nát hơi khó hiểu vì thiếu hồi thứ nhứt và không có hồi sau phân giải.
Câu văn này, Sơn Nam viết năm mươi năm trước, tiên tri cho một văn nghiệp.
Và một kiếp người.
Đặng Tiến
20-8-2008
Phụ chú : Giữa người Việt với nhau, nói chuyện gì cũng khó.
Nói chuyện gì rồi, rồi cũng buồn.
[1] Võ Phiến, Văn Học Miền Nam, Truyện 2, tr. 1344, nxb Văn Nghệ, 1999, California.
_____________

Recent Comments