Wednesday, May 03rd, 2017 | Author:

Nhà lâm học Hoàng Đình BáNhà lâm học Hoàng Đình Bá


Rừng vẫn chưa xanh lá

HUỲNH KIM SÁNH, Bút ký

1.

Gần đây, bên cạnh những thông tin về “cải tổ” và tình hình hòa hoãn giữa các siêu cường, trên sách báo liên tiếp xuất hiện những thông tin về sự khủng hoảng hệ sinh thái : một khu rừng nào đó bên Nam Mỹ sắp biến thành sa mạc, những đàn hươu ở một vùng nọ tận Sibir đang còm cõi dần, một loạt các giống thú có nguy cơ tuyệt chủng, người ta tính cứ mỗi phút trôi qua lại có một hecta rừng nhiệt đới bị hủy diệt … Dường như con người đã biết điều với nhau hơn, nhưng với thiên nhiên thì con người chưa hề tỏ ra khiêm tốn. Sự trả đũa của hạn hán, của bão lụt, của các nguồn nước cạn kiệt, của môi trường sống ngày càng bị hủy hoại, lẽ nào chưa đủ khốc liệt để khiến cho nhân loại phải thức tỉnh ?

Bao nhiêu vấn đề to lớn tưởng như viễn vông trên đây thực sự trở thành một nỗi ám ảnh trong tâm trí khi tôi được tiếp xúc với HOÀNG ĐÌNH BÁ, nguyên Trưởng ty Lâm nghiệp Quảng Nam – Đà Nẵng. Đó là một nhà khoa học và là người quản lý ngành rừng có tiếng tăm của một tỉnh tám mươi phần trăm đất đai là đồi núi, đã bị kỷ luật cách chức và bị khai trừ ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam cách đây mười hai năm.

Cuộc sống thường trớ trêu. Hồi ấy, trong niềm tin và lòng tự hào của tôi, không bao giờ có một quyết định sai từ một nơi trang nghiêm như cơ quan Tỉnh ủy. Do đó tôi đã đồ chừng rằng cái ông Bá ghê gớm kia hẳn phải mắc những tội lỗi tày đình. Nhưng dần dần, trong suy nghĩ của tôi, tôi lại bị chinh phục bởi những giai thoại lạ lùng về Hoàng Đình Bá, những giai thoại mà mới chỉ nghe không thôi cũng đã khiến ta tin là có thật.

Người ta kể, ông là kẻ chẳng biết chăm lo gì đến vợ con mà thường mất hút trong những cánh rừng, hình như suốt ngày bận tìm kiếm một thứ cây nào đó. Có người thấy ông nhiều bữa có mặt tại núi cấm Sơn Trà từ 4 giờ sáng đến 12 giờ đêm chẳng biết để làm gì, e chỉ làm cái việc đếm người đốn củi. Ai đó bảo, ông đã từng báo trước rằng tỉnh Khánh Hòa năm mươi năm nữa sẽ không còn nước ngọt trong lòng đất nếu ngay bây giờ không chấm dứt việc phá rừng. Kẻ khác nhắc, hồi chiến tranh ông suýt nữa bị cách mạng bắt vì đã cả gan báo trước tình trạng vượt biên sau giải phóng. Nghe nói ông đã đề ra một kế hoạch gì mà kỳ dị đến mức nếu cho thực hiện thì huyện nọ nhiệt độ sẽ giảm xuống một độ C còn kinh tế thì bảy lần tăng trưởng. Thỉnh thoảng trong các cuộc mạn đàm không chính thức, có kẻ lại chậc lưỡi tiếc rằng việc này việc khác nếu trước đây làm theo ông thì nay hẳn đã không phải sửa sai … Tôi không hiểu được tường tận độ chính xác của các tin đồn đó, nhưng chúng vẫn mê hoặc tôi, như những lời tiên tri, rằng con người kỳ dị này chẳng cần một thứ chức vụ nào hết nhưng sẽ không bao giờ lụi tắt như bao người khác khi rời khỏi chiếc ghế quyền hành.

Và không có ai, kể cả những người đã quyết định kỷ luật Hoàng Đình Bá, lại nói về anh dù chỉ một điều xấu.

2.

Nhiều năm sau vụ kỷ luật, tôi mới may mắn gặp anh. Đó là một người bình dị, trong đôi mắt bao giờ cũng ánh lên vẻ tin cậy thiện chí đến mức ngây thơ. Tôi không hiểu vì sao một người đã bị chính đồng chí mình vu oan hắt hủi lại vẫn cứ giữ được ánh mắt ngây thơ dường ấy !

Mười hai tuổi đã đi với cách mạng, tham gia chống Pháp, tập kết ra Bắc, đi học tập và công tác ở nước ngoài, Hoàng Đình Bá trở thành nhà khoa học, thành chuyên gia hàng đầu về lâm nghiệp nước ta, đồng thời có trình độ chuyên sâu về 23 lĩnh vực chuyên môn trên bậc đại học. Cuối những năm 1960, vừa giảng dạy vừa nghiên cứu khoa học, anh là chủ nhiệm công trình điều tra quy hoạch Rừng Quốc gia Cúc Phương và là người chủ trì khoa học của phân viện nghiên cứu rừng nhiệt đới Việt Nam. Rồi vào Nam chiến đấu…

Vào những năm ấy, cuộc chiến tranh chống Mỹ đang vào giai đoạn khốc liệt nhất. Những cánh rừng Khu 5 quê anh, nơi anh biết nó vô cùng phong phú về tài nguyên sinh vật, đang bị chất độc hóa học và bom na-pan quét phá. Vào những năm ấy, khi mà hàng triệu người lo đánh giặc, hầu như chẳng mấy ai để ý đến sự cân bằng của trạng thái môi sinh, thì anh lại đau đáu nghĩ đến nó. Từ biệt thủ đô với tất cả những hứa hẹn công danh, Hoàng Đình Bá xốc ba lô vào chiến trường. Hẳn là trong đoàn quân vượt Trường Sơn năm ấy, người ta thấy một con người thấp bé lẫn giữa bao người khác, ì ạch trên vai chiếc ba lô to quá cỡ, trong đó chứa đầy những tài liệu khoa học và hạt giống cây rừng…

Vào đến căn cứ Khu 5, việc đầu tiên mà Hoàng Đình Bá làm là cùng anh em lập 5 trạm ươm và khảo nghiệm cây quế, bắt đầu bước đi đầu tiên của chương trình nghiên cứu cây rừng miền Trung. Mặc cho bom đạn và chất độc hóa học, mặc cho những cơn sốt và cái đói hành hạ, ngày ngày với nắm cơm vắt mà trong đó ba phần tư là sắn hoặc ngô, anh bước vào cuộc hành trình hàng chục, hàng trăm cây số đến các cánh rừng hiếm hoi còn sót lại… Ngày 26-3-1971, theo đề xuất của anh, toàn Khu 5 tiến hành điều tra cơ bản. Với tư cách trưởng tiểu ban điều tra quy hoạch, anh đã cùng 60 kỹ sư và cán bộ nghiệp vụ lao vào một cuộc khảo sát khoa học gian nan chưa từng thấy. Từng nhóm năm, bảy người rải đi khắp các tỉnh Trung Trung bộ, thọc sâu xuống các vùng bị địch chiếm, vừa thu thập tài liệu, vừa đo đạc, quan sát, sơ thám. Một khối lượng tài liệu khổng lồ đã được xử lý, phân tích, tổng kết giữa bom đạn giặc. Việc phân vùng quy hoạch về tự nhiên, kinh tế và xã hội được hoàn thành, làm cơ sở để đánh giá, dự báo và lập phương án phát triển cho toàn khu cũng như cho từng tỉnh trong và sau chiến tranh.

Anh cho biết, rừng của ta ba phần tư là lâm đặc sản, một phần tư là rừng gỗ. Thế giới thực vật châu Âu chỉ có 250 loài, còn ở đây chỉ tính riêng cây có thể dùng làm thuốc chữa bệnh đã có hàng nghìn loại. Ấy là chưa kể hàng vạn loài cây khác, trong đó có rất nhiều gỗ qúy. Đây cũng là bảo tàng thiên nhiên về các loài chim thú, đặc biệt là các loài qúy hiếm. Rồi khoáng sản, rồi khí hậu nhiệt đới ẩm cũng là tài nguyên thiên nhiên ưu đãi chúng ta. Có thể nói, Khu 5 là rừng và biển. Từ trên không nhìn xuống, rừng núi trông như một mái nhà nghiêng khổng lồ, đồng bằng chỉ là hàng hiên bé nhỏ tiếp giáp với cái sân là biển cả mênh mông. Đó là cái thế, là tiềm lực tự nhiên vô cùng qúy giá.

Nhưng, những trang sử của thiên nhiên diễn biến theo chiều hướng mỗi ngày một thảm hại” – anh nói và chỉ tôi xem diễn biến của các con số trên biểu đồ về tài nguyên được lập lúc đó – “tính từ năm 1900, trong vòng hơn 70 năm, rừng tốt giảm xuống 14 lần, nghĩa là toàn Trung Trung bộ mất đi trên 65.000 cây số vuông. Cũng trong thời gian này, có thêm gần 38.000 cây số vuông đất rừng biến thành đồi trọc, thành hoang mạc sinh học. Lượng nước thấm xuống đất thời điểm này giảm đi 17 tỷ mét khối so với năm đầu thế kỷ, nghĩa là do rừng bị phá mà mỗi năm lượng nước mưa chảy tuột ra biển tăng bình quân trên 10 tỷ khối. Đó là cội nguồn của nạn hồng thủy trong tương lai. Thiên nhiên không tự mình làm cái việc xấu xa ấy. Thủ phạm chính là con người : sự tấn công của nông nghiệp vào rừng rậm, chặt phá, phát rẫy du canh và dĩ nhiên là cả chiến tranh. Chiến tranh ! Ngoài cái việc gây tang tóc cho con người, bom đạn và chất độc hóa học đã hủy diệt hàng chục vạn hecta rừng và đất rừng các loại. Mỹ hủy diệt, đã đành rồi, nhưng còn ta nữa, ta cũng đã phá không ít rừng để tự túc lương thực”.

Anh bảo, hồi ấy anh đau lòng quá khi thấy cả một binh đoàn “773” hồn nhiên thi đua với bom đạn để chặt, đốt hàng ngàn hecta rừng già ở Sa-thầy, ở Plei-me, Plei-cần, Nước Xa, Phước Sơn… để trồng sắn, tỉa bắp. Mà có hiệu quả gì cho cam kia chứ, chỉ mất rừng thôi, còn sản xuất thì không đủ nuôi chính người sản xuất, trong khi từ năm 1973 việc tiếp tế lương thực đã không còn quá khó khăn. Anh đã đề xuất ý kiến không nên làm việc này, nhưng biết làm sao được khi cái cay nghiệt của chiến tranh là vậy !

Nhìn nhưng cánh rừng biến thành đồi trọc, anh khao khát một ngày kia sẽ trả lại màu xanh cho nó. Anh nghĩ đến một chương trình “nông lâm kết hợp” với phương thức quản lý tiên tiến sao cho rừng có thể vừa nuôi người vừa nảy nở sinh sôi. Lúc đó anh đã trình bày với lãnh đạo khu, rằng trong những năm công tác ở miền Bắc, anh thấy hệ thống quản lý có nhiều điều không ổn. Anh tính, bình quân một sự việc, từ lúc đề ra cho đến khi thực hiện phải qua 6 cấp mới đến người làm, tốn hết 38 đơn vị thời gian nhưng chỉ có 13 đơn vị xem ra là cần thiết và hữu ích, còn lại là thừa. Đó là chưa kể đến tình trạng đáng buồn là chỉ số bình quân về năng lực của người lãnh đạo thấp hơn rất nhiều lần năng lực của người bị lãnh đạo. Hệ thống quản lý đó nói chung không đem lại hiệu quả. Riêng về ngành rừng, từ năm 1964, anh đã có ý kiến với Tổng cục Lâm nghiệp, rằng chúng ta chỉ bóc lột thiên nhiên, rừng khai thác đến đâu mất luôn đến đó. Như tỉnh Quảng Ninh, từ 1956 đến 1964, trong 8 năm số diện tích rừng được trồng theo số liệu cộng lại thì hơn diện tích tỉnh, nhưng thực tế đồi trọc vẫn là đồi trọc, trồng rừng không thành rừng. Tình cảnh người lao động nghề rừng ngày một thêm tồi tệ, con cái người làm rừng chẳng mấy ai muốn tiếp tục nghề bố mẹ. Anh đề xuất với lãnh đạo Khu ủy, rằng sau chiến tranh ta phải làm theo cách khác. Chúng ta đi lên từ cái thế là tài nguyên, từ cái lực là lao động, là vốn và từ tri thức. Ba điều kiện ấy chúng ta đều có đủ. Chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng cho phép phát huy mọi tiềm năng sẵn có trong dân, nhất là vốn, mà vốn thì lớn lắm, gồm tài sản ta thu của địch, tài sản của dân, của tư sản dân tộc… Mặt trận chỉ xem tư sản mại bản là kẻ thù thôi. Giúp kháng chiến đã có nhiều thành phần cùng góp sức, thì xây dựng hòa bình lẽ nào lại ít. Tại Đại hội Đảng bộ Khu năm 1974, trong tham luận về kinh tế-xã hội, anh đã phát biểu về việc làm thế nào để sử dụng hợp lý và bảo vệ “chất xám”. Anh phân tích thẳng thắn một số yếu tố chưa hợp lý trong việc tổ chức “đi B” hồi ấy, chỉ ra những cán bộ khoa học được đào tạo tốn bao nhiêu công phu tiền của rồi vào Nam chỉ để làm cái việc trồng sắn, tỉa bắp. Về lực lượng khoa học-kỹ thuật ở miền Nam, anh cho đây là tiềm lực lớn, phải được xem là tài sản quốc gia, là vốn qúy của đất nước sau giải phóng. Do hoàn cảnh lịch sử, hai phần ba trong số họ đã làm việc trong bộ máy ngụy quyền. Ta phải trước sau như một thực hiện chính sách hòa hợp dân tộc, phải trân trọng phát huy những sản phẩm trí tuệ của họ. Nếu không thì nạn chảy máu não, thì tình trạng vượt biên ra nước ngoài sẽ khó lòng tránh khỏi. Đó là quy luật “nước chảy về chỗ trũng”. Lúc đó, vì điều dự báo này mà suýt nữa anh đã bị bắt nếu không có sự can thiệp của đồng chí Bí thư Khu ủy.

Năm 1975, miền Nam được giải phóng… Không ngờ nghệch lúng túng như bao người khác, anh đem hết tài năng, nhiệt tâm và niềm tin của mình để thực hiện những dự định mà anh nung nấu.

Và anh đã phải trả giá.

3.

Nghị quyết khai trừ Trưởng ty Lâm nghiệp Hoàng Đình Bá khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam ký ngày 2-11-1978 ghi rõ “tội trạng” lớn nhất của anh như sau : “Trong việc ký hợp đồng với chủ thầu khoán để xây dựng hai công trình cho Ty, đồng chí Hoàng Đình Bá thiếu trách nhiệm để cho chủ thầu lấy vật liệu của Nhà nước bán cho Ty một cách phi pháp, khi kiểm tra phát hiện lại tìm cách bày mưu cho chủ thầu dựng chứng từ giả đế thanh toán và lậu thuế, làm thiệt hại cho Nhà nước 60.000 đồng”.

Tôi đã đến gặp người “chủ thầu khoán” ấy. Đó là ông Nguyễn Đăng Thiền, ngụ tại số nhà 150/4 tổ 4 khối phố Tân Ninh B phường Tân Chính thành phố Đà Nẵng. Với thái độ hiếu khách đặc biệt, ông vồn vã tiếp tôi, nhưng khi nghe tôi đề cập đến sự kiện mười hai năm trước, ông trở nên dè dặt, và khuôn mặt chằng chịt nếp nhăn của ông bỗng héo hắt hẳn đi. Ông nói :

– Ngày 25-7-1977,Ty Công an Quảng Nam-Đà Nẵng ra quyết định số 52 khởi tố tôi về tội “lừa đảo để chiếm đọat tài sản xã hội chủ nghĩa”, cái khoản 60.000 đồng mà người ta quy cho ông Bá ấy. Ngày đó tôi bị bắt giam. Đến ngày 9-4-1979, nghĩa là sau 21 tháng ở tù, tôi được tạm tha vì lý do “đã kết thúc cuộc điều tra”. Tạm tha, nên tôi tuy ở nhà nhưng vẫn chưa thoát tù, mỗi tuần phải đi trình diện một lần. Ngày 20-10-1980, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh ra quyết định số 96 miẽn tố tôi vì tôi không can tội chiếm đọat tài sản xã hội chủ nghĩa mà chỉ ghi là can tội trốn thuế 12.300 đồng, buộc tôi phải nộp, nhưng sau đó họ lại ra lệnh miễn thu vì điều tra thấy tôi không can tội trốn thuế. Và mãi đến ngày 25-4-1983 Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh mới ra quyết định số 2 hủy bỏ quyết định trước, công nhận tôi cũng không can tội trốn thuế và phục hồi mọi quyền lợi hợp pháp cho tôi.

Ông đưa cho tôi xem tất cả các văn bản có ký tên đóng dấu. Nó y sì như lời ông nói. Ông đã học thuộc lòng.

– Thế ra ông không có tội gì hết à ?

– Anh này hay thật. Anh chưa đọc hết mấy tờ giấy ấy à ? Tôi không có tội, nhưng người ta nghĩ là tôi có tội, như thế tự nhiên tôi phải ở tù. Sau đó người ta nghĩ lại, tôi thành ra vô tội. Hay thật anh nhỉ, nhưng anh nhớ cho rằng do tôi đã kiện hàng năm trời người ta mới nghĩ ra được như thế đấy !

Nhìn tấm thân bơ phờ sầu não của ông già 73 tuổi này, tôi bỗng thấy đau xót. Số phận hẩm hiu của ông nổi chìm theo năm tháng, theo từng cái quyết định của các cơ quan giám sát và thi hành pháp luật. Hóa ra, cuối cùng ông vẫn chưa hề có tội. Người ta buộc tội cái ông dân thường này chính là để vu khống cho Hoàng Đình Bá. Ông già đáng thương ấy đã vì anh mà phải chịu khổ ải suốt 6 năm trời. Điều đó thật đau lòng, nhưng đau lòng hơn là khi ông đã được minh oan thì cái tội tày đình mà người ta gán cho Hoàng Đình Bá vẫn còn nằm nguyên trên mực đen giấy trắng.

Ông già nhìn tôi bằng cặp mắt mờ đục, như vẫn đang ngơ ngác trước những gì đã xảy ra mà cho đến bây giờ ông chưa kịp hiểu :

– Đáng lẽ ông Bá là người có công, nhưng không hiểu quỷ quái thế nào lại thành ra có tội. Nói thiệt, lúc này người tôi thù nhất là ông Bá nhưng người tôi thương, tôi kính trọng nhất cũng là ông Bá. Ổng đã thuyết phục tôi, ban đầu tôi có chịu đâu, nhưng sau do nể ổng mà tôi đi làm cho cách mạng. Tôi làm chỉ để phục vụ thôi, chứ có lợi lộc gì, rồi khi không lại vào tù ra tội. Anh biết không, tôi đã đóng góp bao nhiêu thứ… nhưng thôi, mà tôi mệt quá, có đòi chắc gì họ đã trả. Tôi cũng định kiện một lần nữa để đòi người ta phục hồi danh dự cho tôi chứ, nhưng anh tính, tôi đã gần đất xa trời rồi, hơn thua nữa để làm gì ! Tội chỉ thương ông Bá, nước mình mà có nhiều ngườiđược như ông thì chắc đã không đến nỗi nào, phải không anh ? Bây giờ nghe đâu lại trần mình ra trồng cây trồng cỏ gì đó bên Sơn Trà. Rồi được cái gì, hay lại mang thêm vạ vào thân ?

Tiễn tôi ra cửa, ông còn nói với theo :

– Này anh, anh có quan hệ rộng, anh hãy nói cho khắp nơi người ta biết, cái nhà mà ông Bá đang ở đó, cũng là của ông già vợ ổng cho đấy nhé, ổng thì có cái cóc khô gì !

Chia tay ông già, tôi cứ nghĩ mãi về cái lý do vì sao ông bị oan ức đến vậy nhưng vẫn thương Hoàng Đình Bá, vẫn thương cái sự nghiệp của anh và chắc hẳn là vẫn tin vào những điều tốt đẹp…

Bản Nghị quyết nói trên còn ghi : “Thậm chí đồng chí Bá còn tự mình ký giấy giới thiệu một tên xấu là cán bộ trung cấp chính trị để được vào bệnh viện C điều trị”. Trước đó, văn bản kết luận của đoàn kiểm tra ngày 26-7-1977 có viết : “Việc theo dõi đôn đốc thực hiện hợp đồng với tổ hợp trong sử dụng kinh tế năm thành phần là khó, nhưng Ty lâm nghiệp(anh Bá) đã sử dụng anh Tuyên, một tư sản lớn phụ trách phần này, thật là khó, vì ví như : khi chưa được thuần hóa, chưa được huấn luyện, nhưng lại hướng dẫn đàn khỉ khác làm trò (!!!)”.

Lục ghi lại những chi tiết này, tôi tự thấy mình thật thiếu tế nhị, nhưng biết làm sao được khi đó là sự thật cần phải làm sáng tỏ, một sự thật đã bị dìm trong quên lãng mười mấy năm nay. Cái “con khỉ chưa được thuần hóa”, tức anh Tuyên, tức “tên xấu” ấy là ai ? Đó là anh Nguyễn Tuyên, một trí thức có trình độ chuyên môn cao, nguyên là tiểu đoàn trưởng bộ đội kháng chiến chống Pháp, sau 1954 là cơ sở cách mạng ở miền Nam, từ Đà Lạt về nhận việc làm tại ty Lâm nghiệp từ tháng 5-1975 theo giấy tiếp nhận của Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Quảng Đà. Cái “tội” của anh Bá là đã ký giấy giới thiệu cho anh Tuyên vào bệnh viện C (nơi dành cho bệnh nhân là cán bộ có mức lương từ 56 đồng trở lên) để nhổ răng vì anh Tuyên bị đau răng cấp tính. Tuy trong giấy giới thiệu anh Bá có thận trọng ghi rõ anh Tuyên “là nhân viên tạm tuyển chưa có lương, chức vụ trước đây là tiểu đoàn trưởng vệ quốc đoàn cách mạng (tương đương cán sự 6)”, nhưng người ta vẫn quy mấy chữ nằm trong cái ngoặc đơn ấy thành “trung cấp chính trị” để kết tội anh, hẳn là do anh khinh suất xem tính mạng con người trọng hơn các thủ tục hành chính. Còn “đàn khỉ làm trò”, tức các tổ hợp tư nhân ấy là gì ? Đó là 500 đơn vị lớn nhỏ gồm 4000 người mà 99% là người lao động, gồm thợ thủ công, nông dân và dân nghèo. Và nhiệm vụ của anh Tuyên là hướng dẫn kỹ thuật làm ván sàn xuất khẩu.

Những chi tiết phi lý như trên còn nhiều nữa, nhưng tôi thấy không cần thiết phải kể thêm vì bài viết này không nhằm mục đích tìm chứng cứ minh oan cho Hoàng Đình Bá. Bản thân các sự việc đã đủ sức mạnh để chứng minh lòng ngay thật của anh.

Bây giờ, những ai biết Hoàng Đình Bá đều hiểu rằng, cái gốc dẫn đến vụ kỷ luật là ở chỗ, ý chí của nhà quản lý và tư duy của nhà khoa học quyện chặt trong con người anh, đưa anh đến những cố gắng thiết lập cho bằng được một hệ thống quản lý tối ưu sao cho những tài nguyên của rừng phải được kinh doanh và bảo vệ có hiệu quả nhất. Những cố gắng của anh đã được người lãnh đạo Đảng cao nhất của tỉnh lúc đó kết luận : “Anh Bá, đây là tù binh của giai cấp tư sản”. Thế là bao nhiêu dự tính tưởng có thể thực hiện được bỗng chốc tan thành mây khói.


Ngay sau giải phóng anh đã từ chối không nhận chức Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp với ý nghĩ sở trường và nhiệt tâm của mình có thể được phát huy cao nhất tại tỉnh này, tỉnh quê hương ruột thịt.

Với cái thế thuận lợi của rừng lâm đặc sản vùng nhiệt đới ẩm cộng với vật tư vốn liếng cùng sức dân có được sau ngày chiến thắng, anh tin rằng ta thừa sức làm nên chuyện. Việc trước hết là xây dựng cơ sở hạ tầng. Anh đề xuất kế hoạch làm một hệ thống giao thông gồm các tuyến đường nhựa nối từ các trục chính qua vùng cát xuyên trung du lên các huyện miền núi phía tây và tuyến đường sắt lâm nghiệp từ Hòa Cầm lên Phước Sơn qua Trà My chạy xuống Tam Kỳ. Công việc lúc ấy nằm trong tầm tay vì vốn và vật tư không thiếu. Nhưng lãnh đạo không chấp nhận. Để lỡ cơ nên bây giờ giao thông khó khăn không khắc phục nổi. Mật độ đường bình quân cả tỉnh nay chỉ mới có một ki-lô-mét rưỡi trên nghìn hecta mà nhu cầu bình quân tối thiểu phải là sáu ki-lô-mét. Đường đã ít, lại quá xấu, chủ yếu là đường đất, sức chịu lực của cầu đường nhỏ hơn trọng tải xe chở gỗ, nên chi phí vận chuyển lớn gấp bảy lần so với đường nhựa, làm cho giá thành lâm sản quá cao. Hàng hóa nhân dân làm ra không lưu thông được, kinh tế miền núi cứ đứng chân tại chỗ. Nay lãnh đạo hiểu ra thì đã quá muộn màng.

Anh cũng tính kỹ các phương án kinh tế lâm nghiệp trên cơ sở tận dụng khả năng tối đa của các thành phần. Theo đó, cái gì cần thiết phải quốc doanh, cái gì cần tập thể hóa, cần hợp doanh liên kết, còn cái gì phải để cho tư nhân, cá thể làm, tất cả đều dựa trên hiệu quả kinh tế. Từ phương án đó, đã xuất hiện ở Quảng Nam – Đà Nẵng lúc bấy giờ 374 đơn vị tư doanh về vườn ươm và trồng rừng, 40 cơ sở tư doanh về khai thác, vận chuyển và chế biến gỗ bên cạnh 26 đơn vị quốc doanh. Các tổ chức này hoàn toàn đủ khả năng phủ xanh toàn bộ vùng cát và đồi bãi hoang trọc trong một thời gian ngắn. Đồng thời, anh đã cùng tập thể cán bộ ngành bắt tay xây dựng các chương trình khôi phục và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Đó là các dự án về vườn quốc gia Quảng Nam – Đà Nẵng, dự án khôi phụ và bảo vệ đầu nguồn sông Thu Bồn, xây dựng khu Dược liệu Trà Linh, chương trình nông lâm kết hợp, chương trình phát triển 4 huyện miền núi, chương trình chống sa mạc hóa vùng Trảng Chuổi Quế Sơn, chương trình hợp tác với nước ngoài, việc xác lập cơ sở khoa học về môn kinh tế sinh thái học… Anh cho biết, công việc của trưởng ty nếu được tổ chức theo phương pháp khoa học, mỗi ngày chỉ mất hai tiếng đồng hồ, thì giờ còn lại sẽ dành cho công tác nghiên cứu.

Nhưng mọi thứ làm đến đâu vướng đến đó. Anh tổ chức lại bộ máy quản lý của Ty theo hướng điều khiển trực tuyến và dựa trên năng lực cán bộ. Theo đó, Ty Lâm nghiệp chỉ cần tối đa là 32 người, thay vì 120 người như quy định. Tưởng dễ, hóa ra lại khó. Anh mang phương án này ra đến Ban Tổ chức và Ban Nông nghiệp Trung ương Đảng. Trung ương cho là hay nhưng không chấp nhận vì vệc này sai thể lệ. Thể lệ đã quy định 120 thì cứ 120 mà làm, làm khác chỉ sinh rắc rối. Riêng anh Hoàng Văn Kiểu, bộ trưởng Lâm nghiệp bảo : “Tuy người ta không tán thành nhưng vì nó đúng, nên anh về cứ làm đi !”. Cứ làm đi sao được, phải xin ý kiến lại tỉnh. Trái thể lệ, tỉnh vẫn không cho. Thật ngán ngẫm. Cái thể lệ ấy không phải anh không biết nó, anh đã chờn nó từ khi còn ở miền Bắc kia, về đây tưởng thoát, nhưng không thoát được. Nó lại níu chân anh.

Phủ xanh 30 vạn hecta đất trọc là việc cấp bách. Nhất thiết phải có sức mạnh toàn dân. Được sự tài trợ lớn của quốc tế. Lãnh đạo khu, lãnh đạo tỉnh nhất trí phương châm dân làm dân hưởng, phong trào phát triển rầm rộ. Nhưng phong trào bị cơ chế bóp nghẹt, đứng khựng lại. Một thời gian dài rừng như không chủ. Dân làm dân hưởng nhưng dân có phải là chủ rừng không, không ai trả lời rành mạch, sinh ra lắm thứ nhiêu khê. Những vườn rừng bạt ngàn phủ trên cát trắng ở Bình Dương, Duy Nghĩa, Duy Hải… đã bị chặt phá tan tành vì không rõ quyền sở hữu, không rõ quyền sử dụng, đến bây giờ việc tranh chấp đã giải quyết xong đâu. Còn điều này nữa : trồng rừng, khai thác, chế biến … ai làm ? Người lao động làm. Đã làm thì phải hưởng xứng đáng với công sức bỏ ra chứ. Ty Lâm nghiệp chủ trương khoán sản phẩm, khoán khối lượng và trả công theo giá trị lao động. Và Trưởng ty đã bị quy kết là “lập trường giai cấp mơ hồ”, là “đã vận dụng quy luật giá trị của chủ nghĩa tư bản”, là “vi phạm nguyên tắc quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa”.

Anh bị đình chỉ công tác, bị kỷ luật giữa lúc cả tỉnh ráo riết tiến hành cải tạo công thương nghiệp và hợp tác hóa nông nghiệp. Tất cả mọi thứ mới nghĩ suy, mới chuẩn bị, mới bắt tay làm thì tai họa ập đến. Các đơn vị kinh tế lâm nghiệp suy thoái, hệ thống tổ chức sản xuất tư doanh tan rã, và điều cay nghiệt là có 27 triệu cây bạch đàn đã ươm, đã trồng phải nhận quyết định hủy diệt (vì cho trồng bạch đàn là mắc mưu của bành trướng Trung Quốc). Một đội ngũ kỹ sư và cán bộ kỹ thuật có tầm cỡ ở nhiều nơi trong nước đã hội tụ về đây làm việc với anh, phải rời khỏi tỉnh này ra đi.

Nhìn lại rừng mà đau. 30 vạn hecta đất trọc, trồng mãi bao nhiêu năm, nay lại trọc lên 40 vạn hecta. Kinh tế rừng thì hái lượm. Đáng lẽ trồng mười mới chặt một, thì chỉcó khai thác và quét sạch luôn, vô tội vạ. Rừng không được bảo vệ nên mỗi năm mất thêm một phần mười diện tích.

Giữa những ngày cuối tháng tư năm nay tôi lại đến thăm Hoàng Đình Bá. Mời tôi một cốc nước chè pha bằng thứ nước máy bị nhiễm mặn, anh chậm rãi nói :

– Đồng chí có biết vì sao chỉ mới bước vào mùa hè mà thành phố Đà Nẵng phải uống thứ nước mặn này không ? Đó là do lượng nước sông Thu Bồn chảy trong mùa khô giảm đến mức khủng khiếp. Lượng nước sông giảm thì nước biển tràn lên. Nước máy cho thành phố lấy tại Cầu Đỏ. Nước biển lên đến Cầu Đỏ thì chúng ta uống nước mặn. Điều này ai cũng biết. Nhưng trước đây không có thế, vậy mới đặt nhà máy nước tại Cầu Đỏ. Cách đây chỉ hai mươi năm, tại vị trí Nông Sơn, sông Thu Bồn chảy trong mùa khô gần 50 mét khối trên một giây, mấy năm nay chỉ còn không đến 15 mét khối. Tác hại của việc phá rừng thật không lường hết được. Nước sông khô cạn, hàng chục trạm bơm không còn tác dụng, lòng sông thuyền bè không đi được. Sông Hương An chết, sông Bà Rén chết, Cửa Đại Chiêm chết kéo theo cái điêu tàn của phố cổ Hội An…

Tôi hỏi :

– Theo anh thì vấn đề nước ngọt cho thành phố phải giải quyết thế nào, chẳng lẽ mùa hè cứ phải dùng nước mặn ?

– Nước cho thành phố có thể có nhiều giải pháp, nhưng cơ bản và lâu dài là phải phục hồi rừng đầu nguồn.

– Còn nước ngọt ở Suối Đá Sơn Trà ?

– Sơn Trà có cả thảy 16 suối nước ngọt với trữ lượng nước mưa 80 triệu m3/năm, nếu sử dụng hết có thể thừa cung cấp cho thành phố và cho cả tàu cập cảng. Nhưng cũng phải phục hồi rừng. Sơn Trà là rừng cấm quốc gia nhưng đã bị phá mất tám mươi phần trăm rồi. Riêng lượng nước chảy ở Suối Đá trong mùa kiệt năm 1975 đo được 250m3/giờ, nay chỉ còn không tới 80 m3. Với cái đà này, không bao nhiêu năm nữa Sơn Trà sẽ chỉ còn đất trọc và chắc chắn những con suối cũng sẽ chết. Khôi phục lại bốn trăm hecta rừng ở khu vực Suối Đá phải mất hàng chục năm, tốn hàng chục tỷ đồng, phải trồng những loại cây có bộ rễ sâu, nhất là phải chọn nhập những loại cây có bộ rễ đặc biệt sâu 30 mét, mới mong giữ được lượng nước như hồi sau giải phóng.

Anh nói tiếp :

– Từ trên máy bay nhìn xuống thân hình quê hương mới thấy đau lòng. Toàn bộ đồng bằng không còn rừng, trung du hoang trọc, miền núi điêu tàn. Cả một thảm thực vật rừng đã và đang bị con người thi nhau cắn xé. Hệ sinh thái bị phá vỡ, môi trường sống trên đà bị hủy diệt. Đó là sự thật. Và thiên nhiên đã trả đũa, bằng tần suất lũ lụt ngày một tăng, bằng hạn hán kéo dài, bằng sự khô kiệt của những dòng chảy, bằng sự bào mòn xói lở làm cho đất đai ong hóa, bạc màu, bằng những cơn gió lốc nóng thiêu cháy…

Tôi bỗng nhớ đến con sông Bà Rén mà cách đây hơn 14 năm chúng tôi đã từng hăm hở tham gia trong đoàn quân đi đào lại. Tôi hỏi anh :

– Anh nghĩ gì về việc đào lại con sông Bà Rén khi ấy ?

– Sông Bà Rén chết, như đồng chí biết, là do không giữ rừng đầu nguồn. Lũ tràn xuống nhiều năm kéo theo bùn cát lấp sông. Đáng lẽ phải giải quyết từ gốc thì người ta chỉ làm cái ngọn. Toàn dân được huy động đi đào sông. Kết quả là chỉ sau một mùa lũ sông bị lấp lại. Bao nhiêu công sức, tiền của đem đổ biển. Hồi ấy giới khoa học đề nghị không nên làm cách đó, nhưng lãnh đạo không nghe.

– Còn cái dự án về đầu nguồn sông Thu Bồn ?

– Không riêng gì cái dự án ấy mà nhiều việc khác nữa cũng không thực hiện được. Vì sao thì đồng chí biết rồi. Tôi bị cho nghỉ việc, nhiều đồng chí chuyển đi nơi khác, đó chỉ là một phần của lý do. Anh em có tâm huyết còn lại cũng bó tay. Tất thảy bị nhốt vào cái rọ của cơ chế quan liêu.

– Giả dụ như ngay từ sau ngày giải phóng ta có cơ chế quản lý tốt, tận dụng được mọi điều kiện có sẵn lúc đó thì rừng có được bảo vệ tốt không ? Tôi hỏi tiếp.

Anh trả lời một cách tin tưởng, không suy tính :

– Hoàn toàn được. Và có thể kinh doanh để làm giàu nữa.

– Không cần có sự đầu tư của nước ngoài ?

– Đó là vấn đề khác. Hợp tác liên kết với nước ngoài là xu thế tất yếu mà lúc đó chúng tôi cũng đã tính. Nhưng có một thực tế như thế này : số tài sản, vốn liếng vật chất mà ta đã phung phí do sai lầm trong cải tạo, do quản lý không tốt để phá hủy, để hư hỏng, đem tiêu xài… cộng lại chắc chắn lớn hơn rất nhiều lần số vốn mà nước ngoài sẽ đầu tư trong nhiều năm tới. Tôi xin nêu một dẫn chứng nhỏ thôi, để có thể suy ra nhiều thứ. Cái xí nghiệp lâm nghiệp Quế Sơn trước kia là một tổ hợp có sáu chiếc xe bò vàng. Sáu chiếc ấy chỉ chiếm một phần ba tài sản của tổ hợp. Tổ hợp được cải tạo, biến thành xí nghiệp quốc doanh. Bây giờ nếu bán hết tài sản của xí nghiệp này để mua lại xe bò vàng cũng không mua nổi ba chiếc… Đó là thực tế chung của nền kinh tế, không riêng gì lâm nghiệp.

Vâng, điều đó hẳn nhiều người cũng đã biết. Và còn điều này nữa : não bị chảy máu, chất xám bị phung phí, trí tuệ bị khinh rẻ. Đó là tai họa thực sự của đất nước. Hoàng Đình Bá, một nhà khoa học, một trí thức xã hội chủ nghĩa thực sự có tầm cỡ, người được đánh giá là một trong những con chim đầu đàn về lâm nghiệp không chỉ của Việt Nam mà của cả Đông Nam Á, chỉ là một trong những nạn nhân.

5.

Hoàng Đình Bá đã phải kêu lên vô cùng đau đớn trong bản trình bày gửi Đảng và Nhà nước ngày 4-1-1979 : “Tôi rất sốt ruột và chờ đợi mãi, tôi phải tự động đi tìm việc để làm… Kính thưa Đảng ! Tôi không thể chịu đựng được nữa, mà từng phút từng giây chờ đón nhiệm vụ, vị trí chiến đấu của mình”. Anh kêu lên như vậy để xin được làm việc ! Còn về những điều người ta kết tội mình thì anh không phản ứng ồn ào mà chỉ trình bày lại bằng những lời lẽ hết sức nhã nhặn, đủ để cho các cấp có trách nhiệm hiểu rằng, dựa vào tất cả hồ sơ và nhân chứng, trước sau anh chẳng làm điều gì nên tội.

Cuối cùng, sau gần hai năm bị đình chỉ công tác anh mới được đi làm lại, với tư cách là một chuyên viên của Ủy ban Khoa học-kỹ thuật tỉnh. Dĩ nhiên anh không còn được ở trong Đảng. Nhưng anh đã làm mọi thứ có thể làm, không nề hà, không nghỉ ngơi. Anh tiếp tục lao vào nghiên cứu lâm sinh, nghiên cứu kinh tế, làm khoa học xã hội, xây dựng các chương trình dự báo dài hạn ứng dụng khoa học-kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, làm tiếp dự án Vườn Quốc gia, làm thông tin khoa học, tham gia giảng dạy… Giờ đây, anh đang chuẩn bị đề án xây dựng một ngôi nhà chất xám, mà theo anh đó sẽ là “ngân hàng trí tuệ” của Đà Nẵng và khu vực miền Trung.

Cuộc sống của Hoàng Đình Bá chính là công việc. Anh yêu thiên nhiên và hiểu thiên nhiên tường tận đến mức làm nhiều người kinh ngạc, như thể núi rừng sông suối tỉnh này là vườn nhà của anh. Trước khi đê xuất dự án về Vườn Quốc gia, ngoài việc phải có trong tay tất cả các tài liệu liên quan, anh còn tự mình khảo sát hết sức kỹ lưỡng những khu rừng. Chính anh đã tìm ra 16 con suối và 27 con đường mà người ta lên để chặt phá rừng cấm Sơn Trà. Và anh đã kiên nhẫn hàng ngày ngồi đếm người đốn củi ở mỗi tuyến đường, kiên nhẫn đo dòng chảy của từng con suối. Bằng việc làm đó, anh biết được diễn thế rừng và tính được số phận tương lai của nó. Anh bảo, đây là việc làm bình thường của người làm khoa học, ai mà chẳng thế. Tuy đã gần 60 tuổi, nhưng dù bận đến bao nhiêu, mỗi ngày anh vẫn dành ít nhất 4 giờ để đọc sách, để tiếp cận những thông tin khoa học mới nhất. Vợ anh kể, rất nhiều đêm, mãi đến gần sáng chị dậy nấu cơm vẫn thấy anh còn ngồi trên bàn viết. Thư viện cá nhân của anh có hàng chục ngàn đầu sách và vô số tài liệu khoa học qúy giá. Đó là tất cả những gì anh dành dụm tích góp mấy chục năm để phục vụ cho công tác nghiên cứu.

*

* *

Thời gian trôi qua và cuộc sống cứ căng mình trong sự lo toan nghìn nỗi. Có lẽ người ta phải quên đi những gì cần quên như phải nhớ những gì cần nhớ. Hoàng Đình Bá như muốn quên đi những tội danh bị vu cáo và bản kỷ luật thất đức bị gán cho mình. Nhưng chúng vẫn còn đó, trơ trên giấy trắng, thách thức với lương tri.

Mới đây, tôi được anh dẫn lên thăm rừng cấm Sơn Trà. Chúng tôi ở lại đêm chỗ vườn cây của anh, nơi anh dành tất cả thì giờ rảnh rỗi để trồng tỉa, chăm sóc, khảo nghiệm. Vùng này mười năm trước còn là rừng già, nay chung quanh chỉ có trồi trống xương xẩu, lác đác những bụi cây chen trong đá xám. Nằm giữa trời nói chuyện đến gần sáng, trong không khí se lạnh, nhìn lên vầng trăng muộn đang rúc vào mây, anh tâm sự :

– Tôi già rồi, nhưng cần phải sống thêm ít ra là mười bốn năm nữa. Có những việc tôi đang khảo nghiệm, đến mười bốn năm sau mới biết kết quả…

Tiếng suối reo lảnh lót. Tôi nằm im lặng nghe anh nói, trong đầu xốn xang bao nhiêu ý nghĩ. Mỗi năm có hai muơi triệu hecta rừng nhiệt đới trên hành tinh bị tuyệt diệt. Ở cái tỉnh miền Trung của nước Việt Nam nhỏ bé này rồi cũng sẽ không còn rừng. Còn anh, còn những người như anh, đang phải âm thầm và đơn độc chống chọi lại sự ngông cuồng ngạo mạn của số đông, để giữ cho cây rừng xanh lá.

H.K.S

(bài đăng trên Đất Quảng, 1989)

_____________________________________________________

Mấy thông tin cần nói thêm :

1- Chuyện về Hoàng Đình Bá ở Quảng Nam, Đà Nẵng và trong giới khoa học cả nước có nhiều người biết, nhưng trên phương tiện thông tin đại chúng hình như chỉ có bài viết này. Rất tiếc tạp chí văn nghệ Đất Quảng hồi đó phát hành số lượng ít và chưa có internet, nên rốt cuộc câu chuyện này vẫn rơi vào quên lãng.

2- Theo tui biết, ông Võ Chí Công khi còn đương chức nhiều lần có nhắc lãnh đạo Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng “khôi phục lại toàn bộ vị trí cho anh Bá” (theo lời cô Phương Hiền, con nuôi ông Võ Chí Công kể lại với tui), nhưng lãnh đạo Tỉnh ủy hồi đó thấy không tiện, có lẽ không muốn lật lại chuyện của những người tiền nhiệm.

3- Sau khi Đất Quảng đăng bài này, tui đã gặp người nói “Anh Bá, đây là tù binh của giai cấp tư sản”. Ông ấy là nhân vật tôi rất kính trọng, sau này là một trong những người Đổi Mới kiên quyết nhất. Tui nói chuyện ông Bá, ông ấy chỉ hỏi một câu : “Anh Bá bây giờ có khỏe không ?”.

4- Mấy năm sau khi ra Hà Nội, tui có gặp ông Đỗ Quang Thắng, lúc đó là Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng. Tui có hỏi ông Thắng vấn đề ông Bá, ông Thắng nói : “Không thấy khiếu nại”.

5- Ông Bá không chỉ sống thêm được 14 năm, mà vẫn sống đến bây giờ. Năm nay ông đã 79 tuổi, vẫn hăm hở bảo vệ rừng và đang theo đuổi một số dự án về môi sinh-kinh tế, vẫn tin tưởng vào những điều tốt đẹp. Không chỉ bây giờ ông mới quên hẳn chuyện cũ, mà đã quên từ 20 năm trước. Khi còn tuổi làm việc ông đã không cần khôi phục chức vụ, huống hồ bây giờ ông đã quá già. Nhưng vấn đề là không ai khôi phục danh dự cho ông.

6- Hoàng Đình Bá vẫn là câu chuyện thời sự. Cứ mỗi trận lũ lụt lớn ở miền Trung, miền Bắc, và mới đây nhất là trận lụt chết nhiều người ngay tại thủ đô, tui lại nhớ đến ông và nhớ câu thơ của ai đó mà ông thường đọc : “Hồn Tổ Quốc nằm trong rừng xanh thẳm/Rừng điêu tàn là Tổ Quốc điêu linh“.

__________________________

Nguồn: http://www.hoanghaivan.com/2008/11/rng-vn-cha-xanh-l.html

HÌNH ẢNH

H.D.Ba 4-1 hdb2 HDB3 HDB4 HDB5 HDB6 HDB7 HDB8

You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. Both comments and pings are currently closed.

Comments are closed.