Tài liệu: Bài bút ký thứ hai viết từ Việt Nam, 1989
TẠP GHI CỦA MỘT NHÀ KHOA HỌC VIỆT KIỀU (Tiếp theo bài bút ký)
Lời nói đầu. Bài này viết vài tháng sau bài *** BÚT KÝ CỦA MỘT NHÀ KHOA HỌC VIỆT KIỀU cũng có đăng tải trên trang blog này. Một dạng « thu nhỏ » của bài này đã được đăng tải trên « Tuồi Trẻ Chủ Nhật », ra ngày 25/2/1990 tại Việt Nam. Nay xin công bố nguyên bản, không có cắt xén. Trừ hình đầu tiên, tất cả các hình ảnh dưới đây là do chính tác giả chụp.
Tập ghi 1.

“Sài gòn 30 tháng 4 1975″
Vâng, Sài gòn ngày nay có nhiều đổi thay.
Có người công an đổi ra làm chủ tiệm phở và cũng có người chủ gánh phở trở về làm chuyên gia !
Tôi đã nghe và đọc về thân phận của anh Vũ Đình Cung, người chuyên viên điều khiển không lưu tài ba của phi cảng Tân Sơn Nhất. Câu chuyện về anh rất được các giới sĩ phu trong nước bàn tán trong năm qua. Hãy nghe anh Cung nói về mình :
” … Khi cầm tờ giấy báo cho nghỉ việc, tôi vừa bất ngờ vừa không bất ngờ. Bởi vì là sau giải phóng thời gian hơn năm năm được lưu dụng, tôi đã rất nỗ lực trong công việc, nhưng có lẽ điều này cũng chưa đủ sức để tạo một niềm tin ! Sau gần ba mươi năm làm việc, giờ về nghỉ chưa biết phải làm gì, những tuần lễ đầu để khuây khỏa, tôi thường đạp xe đi thăm những người bạn cũ trước đây cùng đi học ngành không lưu tại Đài Bắc, tại Mỹ và sau này cùng làm việc chung. Cũng chẳng gần được mấy ai vì hầu hết đều đi ra nước ngoài… Một ít còn lại thì sống bằng đủ các nghề và cũng đang chờ ngày xuất cảnh. Họ an ủi và khuyên tôi nên chọn con đường như họ. Với tâm trạng lúc đó, lời khuyên ấy không thể không làm tôi suy nghĩ. Nhưng tôi đã không tính cách ra đi. Phải kiếm cách sống cho gia đình… Cuối cùng một người bà con đang buôn bán ở chợ An Đông gợi ý tôi xuống đó mở một xe phở bán thử. Bỗng dưng trở thành anh bán phở, ngày ngày mang chiếc xe đạp, dề trắng trước ngực, lặt rau, rửa tô, dọn bát tới lui dòn dã chào mời…
Thời gian trôi đi, tưởng đâu đã yên ổn suốt đời với chiếc xe phở thì bỗng một hôm đọc trên báo thấy có một bài viết về chuyện của mình, người viết là một đồng nghiệp trẻ cũ. Tôi ứa nước mắt, hóa ra vẫn còn người nhớ đến mình ! … Sau đó khoảng chừng nữa tháng, một hôm tôi vừa ở chợ An Đông về thì có một vị ở Tổng cục Hàng không đến nhà thăm và ngỏ ý mời tôi vào làm việc trở lại. Tôi hết sức phân vân, một sự e dè lẫn chút tự ái trong tâm trạng… Sau bao đêm trằn trọc, hình ảnh chiếc xe phở thân quen đã giúp gia đình tôi qua những ngày lao đao… cùng bầu trời xanh… những cánh bay màu trắng làm tôi chập chờn trong giấc ngủ. Có một điều gì sâu thâm tự đáy lòng nhắc nhở tôi hãy đừng vì một điều gì cả mà hãy vì quê hương còn nghèo khó của chúng ta. Ngày 15.3.88, mất đi gần mười năm, tôi đã trở lại nơi làm việc cũ. Tôi được biết là trong thời gian qua, Tổng cục Hàng không phải mướn chuyên gia nước ngoài sang huấn luyện, hằng tháng phải trả cho mỗi người từ sáu ngàn đến tám ngàn đô-la !… Tôi tiếp tục công việc tại đài chỉ huy sân bay, hằng ngày huấn luyện nâng cấp cho các kiểm soát viên, dạy nghiệp vụ tại trường Hàng không và viết tài liệu huấn luyện… Lương hàng tháng tám mươi ngàn đồng tất nhiên không thể nào bằng tiền lời của một tháng bán phở, nhưng nó có một giá trị khác… ».
Vâng, đất nước chúng ta ngày nay vẫn còn lại những hình ảnh tiêu biểu mới, lời nói cởi hết tấm lòng, chân thành và cảm động. Nhưng khắc nghiệt thay những tấm lòng ấy, những tài ba ấy chưa có địa vị xứng đáng trên đất nước họ, trong ngành nghề chuyên môn của họ. Họ mới “được phép” hành nghề thế thôi, làm gì so sánh được với các chuyên gia chính trị của nền chuyên chính vô sản !

“TP Hồ Chí Minh Tết Bính Thìn, 1976″
Tạp ghi 2.
Anh Cẩn bạn tôi phải đạp xích lô để kiếm ăn qua ngày, anh Vũ Đình Cung người chuyên viên tài giỏi phải đi bán phở để sống, tôi tự hỏi còn biết bao nhiêu chất xám khác còn ở lại Việt Nam đã bị mai một qua thời gian ? Và ngay cả khi được nhà nước lưu dụng, chắc gì cuộc sống tối thiểu của những vốn quí kia được đảm bảo ? Những ngày ở Sài gòn tôi thường nghe một nghịch lý không mường tượng ra nổi : Cậu bé vá ruột xe đạp trên lề đường ngày nay thu nhập khá hơn lương chính thức của một nhà giải phẫu ruột cho con người !
Nghĩ đến các nhà giải phẫu Việt Nam không thể không nhắc đến “hạnh phúc muộn màng” của những nhà thầy thuốc của ca mổ tách cơ thể hai cháu Việt – Đức, một thành tựu khoa học có tầm mức quốc tế thực hiện tại Sài gòn trong tháng 1
0 năm qua (1988), hạnh phúc muộn màng vì những nhà giải phẫu này được đào tạo trong chế độ cũ đã chờ đợi bao năm mới có được chỗ đứng trong chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hãy để bác sĩ huyết học Nguyễn Văn Bình kể chuyện mình [2] :
“Làm thế nào à… từ lúc đi học tập cải tạo về, để không lạc hậu với thế giới huyết học bên ngoài, tôi phải chèo chống, xoay xở đủ các kiểu. Thí dụ mỗi lần có đồng nghiệp nước ngoài đến trung tâm, tôi bám sát họ, trao đổi vặn vẹo, moi móc xem ngành huyết học của họ đang làm những gì, có giống mình không… Hoặc tìm đến thư viện để đọc tài liệu cho đỡ tủi…”
Hay bác sĩ Ngô Tôn Liên, chỉ huy kíp gây mê gồm mười lăm chuyên viên trẻ :
” (Các chuyên viên trẻ)… tâm sự với tôi : thưa thầy, đâu phải tụi em không biết rằng mỗi bác sĩ phải là sinh viên trong suốt cuộc đời, nhưng tụi em còn biết làm sao đây, tài liệu nước ngoài mắc quá, đồng lương của tụi em lo ngày hai bữa chưa đủ lấy chi mua sách. Nghe các em nói thương mà lòng trào nước mắt”.
Còn bác sĩ Võ Văn Thành phụ trách tách xương làm thơ tặng vợ sau mười lăm năm chung sống :
“Mười lăm năm chung sống
Làm phật ý em nhiều
Lòng băn khoăn tự hỏi
Biết anh còn đáng yêu
. . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Lòng anh thôi đã chọn
Nơi này làm quê hương
Dẫu nhọc nhằn đau khổ
Dẫu nơi này khó khăn
. . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Hương Ngọc Lan vẫn tỏa
Bình dị giữa đêm thanh
Trong tình yêu xứ sở
Có em và có anh…”
Vâng, vẫn còn nhiều, còn đông ở quê hương chúng ta những người tài, những người hiền, những người tử tế. Có vết thương trong lòng họ chỉ có thể có được niềm an ủi của những buổi “hạnh phúc muộn màn”, nhưng thân phận của họ không phải là điều làm cho tôi lạc quan hôm nay. Đây cũng là nỗi lo ngại thấm thía của nhà soạn kịch tài ba vừa quá cố, Lưu Quang Vũ qua trang viết cuối cùng của bản kịch “CHIM SÂM CẦM KHÔNG CHẾT” [3] :
“… Có lẽ cái gì quí thì ngày càng hiếm, càng ít dần như giống lúa Tám thơm, thứ vải làng Quang, không khéo rồi mất hẳn, loài cà cuống không còn, do đồng ruộng bón nhiều thuốc sâu, hoặc do bị bắt đến diệt giống. Cái quí, cái đẹp thường khó sống, hoa Thủy tiên dễ chết, cỏ gấu gà nảy nở khắp nơi. Lẽ đời là thế…”

“Đường phố Sài Gòn, 1976″
Tạp ghi 3.
Không thể được, không thể có phát triển kinh tế, tiến bộ kỹ thuật nâng cao đời sống nếu nhà cầm quyền không trân trọng sử dụng những chuyên gia, thức giả biết việc, biết làm, nếu không đặt để họ ở những vị trí thật sự có trách nhiệm, có quyết đoán. Mà trân trọng sử dụng chất xám phải chăng trước tiên là chất xám sở tại, có mặt tại Việt Nam. Vì rằng hơn ai hết họ nắm rõ môi trường cụ thể của địa bàn Việt Nam. Sử dụng chất xám một cách trân trọng đúng nghĩa là không câu nệ, không thành kiến, không lý lịch phiền hà, không phân biệt quá khứ, thành phần, không hỏi tra từ đâu về, từ đâu đến…
Sử dụng chất xám đúng đắn cần mẫn không nhầm lẫn người có bằng cấp và người biết việc, biết làm. Thật vậy, có thể có trường hợp bằng cấp cao nhưng vào kỹ thuật chưa quen nghề, chưa biết việc. Ngược lại có trường hợp biết làm thực hành nhưng không được theo đuổi học trình nên thiếu bằng cấp cao. Trong một nước chưa có cơ sở kỹ thuật, kỹ nghệ hiện đại, theo thiển ý của tôi, nên ưu tiên cho người biết việc để đáp ứng hiệu năng sản xuất. Chuyên viên quốc tế cũng rất cần thiết nhưng họ không làm gì được nếu không có chuyên viên sở tại điều hành đúng mức, theo dõi thường xuyên, quyết đoán công việc cụ thể.
Recent Comments