Thanh niên Việt Nam thừa trí tuệ để sánh ngang hàng những dân tộc phát triển nhất
Đã có hơn năm mươi bài báo trong và ngoài nước viết về công việc của Giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Đăng Hưng, một trong mười người nước ngoài làm thay đổi nước Bỉ (do báo “Le Vif” bình chọn. Giáo sư đã nhận huân chương “Grand Officier” do nhà vua Léopold II của vương quốc Bỉ phong tặng. Tuy nhiên, huân chương cao quí nhất mà Giáo sư Hưng rất hãnh diện là thành quả góp phần đào tạo hơn 300 Thạc sĩ và hơn 20 Tiến sĩ trình độ quốc tế do chính những học trò Việt Nam của ông yêu mến dâng tặng.

“Báo Sinh Viên ngày 12 tháng 2 năm 2005″
Tôi quen biết thầy Hưng trong thời gian học tại thành phố Liège, Bỉ (2001-2002). Hầu hết du học sinh VN tại Đại học Liège đều là học trò của thầy. Họ nhắc đến thầy với lòng biết ơn và sự cảm phục chân thành. Quả thật, với chức danh Giáo sư-Tiến sĩ, trưởng khoa Cơ học phá hủy thuộc khoa học kỹ thuật Hàng Không-Không Gian, ĐH Liège, tôi hiểu thầy hẳn phải phấn đấu rất cao và làm việc với cường độ chóng mặt. Thế nhưng lần đầu gặp, tôi ngạc nhiên nhận ra, đó là một người hồn hậu, dễ gần, có tâm hồn nghệ sĩ, yêu thơ ca và đặc biệt biết rất nhiều về cuộc sống ở VN dù đã định cư tại Bỉ hơn bốn mươi năm nay.
Thầy tâm sự, mình cũng như anh em du học sinh trẻ ngày nay, đến Bỉ năm 1960 với nhiều hoài bảo và ước vọng. Thầy khẳng định: Thanh niên Việt Nam thừa trí tuệ để sánh ngang hàng những dân tộc phát triển nhất. Điều chúng ta thiếu, là sự cọ sát, kinh nghiệm và môi trường quốc tế. Ngày đó, thầy là học sinh của trường trung học Pétrus Ký, Sài Gòn. Được tuyển chọn gắt gao, thầy cùng hai bạn nữa đại diện cho ba miền Nam-Trung-Bắc của VN sang Bỉ du học. Năm đầu tiên phải học lại hệ trung học. Khi thầy giáo dạy toán chỉ vừa kịp ghi đề bài lên bảng, ba học sinh VN đồng loạt giơ tay xin giải. Kinh ngạc trước sự thông minh này, thầy giáo đã chân thành nhận xét “Qua trình độ toán của các em, thầy chắc rằng VN sẽ có một tương lai rực rỡ về khoa học-kỹ thuật”. Khi thi tuyển vào trường ĐH Liège, khoa Kỹ thuật, cả ba bạn VN đều đậu xuất sắc, nằm trong “top 5″. Và kể từ lúc bước chân vào ngôi trường ĐH danh tiếng Châu Âu này, thầy Hưng đã gắn bó cho đến nay. Trải qua tất cả các chức danh từ thấp nhất là SV, rồi nghiên cứu sinh, trợ giảng, trợ giảng chính, thạc sĩ phân khoa, giảng viên, phó giáo sư, giáo sư, giáo sư thực thụ… cho đến trưởng khoa, thầy đã vượt qua bao nhiêu là vũ môn khắt khe. Mỗi một lần được nâng chức là phải có công trình nghiên cứu khoa học và trình bày trước hội đồng giám khảo nghiêm khắc.
Việc nghiên cứu khoa học không làm thầy Hưng quên đi nỗi buồn đất nước đang chiến tranh. Là người nước ngoài học tập tại Bỉ, thầy luôn không ngừng phấn đấu và chứng minh người VN có khả năng về mặt trí lực ngang với bất cứ dân tộc nào. Và thầy còn sáng lập các hội nhóm Việt kiều, SV Quốc tế chống chiến tranh và ủng hộ hòa bình cho VN. Năm 1976, đất nước vừa giải phóng, thầy Hưng nằm trong tốp Việt kiều yêu nước đầu tiên được chính phủ VN mời về cố vấn phát triển đất nước. Thầy không chọn con đường về hẳn vì biết rằng ở lại Bỉ thầy có nhiều điều kiện đóng góp cho đất nước hơn. Quả thật, thầy không ngừng vận động các tổ chứa bằng chính uy tín cá nhân mình để đem về cho VN nhiều chương trình viện trợ. Năm 1989 với chính sách mở cửa, thầy thường xuyên về nước giảng dạy và kiên trì thành lập chương trình đào tạo Thạc sĩ VN liên ĐH. Từ năm 1995, chương trình đào tạo Cao học Việt-Bỉ tại hai trường lớn ở VN là ĐH Kỹ thuật TP.HCM và ĐH Bách Khoa Hà Nội đã giúp các trí thức trẻ có cơ hội tiếp cận nền giáo dục quốc tế.
Tôi không nhắc lại những gì báo chí đã nói quá nhiều về thành quả tuyệt vời từ chương trình đào tạo Cao học này. Tôi chỉ viết về những gì chưa nhà báo nào có điều kiện chứng kiến. Trong thời gian SV của thầy Hưng thực tập hay nghiên cứu khoa học tại Bỉ, thầy đã lo lắng, quan tâm chăm sóc từ chỗ ăn ở cho đến các loại giấy tờ cần thiết. Không chỉ cá nhân mình, thầy còn vận động gia đình cùng giúp đỡ các du học sinh. Nếu có vấn đề về sức khỏe, cô con gái làm bác sĩ của thầy sẽ cố vấn. Nếu muốn mua sắm, tham gia các hoạt động văn hóa hay các nhu cầu đa dạng khác, cô Mai, “nội tướng” của thầy rất nhiệt tình hướng dẫn. Ngôi nhà của thầy luôn là nơi để du học sinh tụ họp vào các ngày lễ quan trọng như Giáng Sinh, Giao Thừa tết truyền thống…Và dù không phải là SV ngành kỹ thuật, không phải là học trò thầy, tôi vẫn được thầy cô kết nạp vào gia đình mình với chức danh “học trò nuôi”. Nhân dịp tết năm 2002, thầy dẫn phái đoàn du học sinh VN tại Liège đến thủ đô Bruxelles dự lễ do sứ quán VN tổ chức. Trước đó, thầy đã động viên chúng tôi cùng tập văn nghệ để có điều kiện xuất hiện trước những vị khách ngoại giao quốc tế. Sự nhiệt tình tập luyện ca hát của thầy cao đến mức chúng tôi khản cả giọng vì hát, đau cả tay vì đàn. Thậm chí, lúc ngủ có anh còn nói mê, hát nghêu ngao “J’ai oublíe de vivre…”. Và dù dàn đồng ca của chúng tôi không được đánh giá cao về “chuyên môn” nhưng sự nhiệt tình được các vị khách trong và ngoài nước ghi nhận. Sau khi xuống sân khấu, đã có nhiều nhà đầu tư muốn hỏi thêm thông tin về những trí thức trẻ VN được đào tạo tại Bỉ theo trình độ chung Châu Âu. Họ mong muốn khi sang VN lập doanh nghiệp, những trí thức này sẽ là nguồn nhân lực tuyệt vời giúp công ty họ phát triển.

“Sinh hoạt văn nghệ ngày Tết của học viên EMMC và MCMC tại Bruxelles”
Tại văn phòng nằm trong khuôn viên ĐH Kỹ thuật TP.HCM, t
ôi lại vừa gặp thầy Hưng giữa những chuyến đi-về tất bật Bỉ-VN. Vẫn dáng vẻ bận vộn, thầy vui mừng kể với tôi về những thành quả và dự định cho khóa Cao học sắp tới. Nhìn chỗ làm việc của thầy không mấy khang trang và tiện nghi như văn phòng trưởng khoa tại ĐH Liège, Bỉ, tôi cảm nhận tấm lòng của thầy dành cho giới trí thức trẻ và cho sự phát triển của đất nước. Thầy lập lại “Người VN mình có trí lực sánh ngang với các dân tộc khác. Tôi đã chứng minh và mong muốn giúp những bạn trẻ khác cũng chứng minh được điều này…”
Phương Khanh

Lời bình luận mới đến