Home > Bài phỏng vấn, Bài viết, Giáo dục, Khoa học Công nghệ > Báo Tiếng nói Việt Nam phỏng vấn ngày 8/1/2010

Báo Tiếng nói Việt Nam phỏng vấn ngày 8/1/2010

January 25th, 2010 Leave a comment Go to comments

Học sinh Việt Nam

Về các giải pháp cải tiến tình trạng

GD&ĐT và nghiên cứu khoa học hiện nay tại Việt Nam

*****

Đề dẫn : Nhân dịp tân niên 2010 ngày 8/1/2010 báo Tiếng nói Việt Nam (VOVNIEWS) có phỏng vấn tôi qua e-mail về đề tài trên. Sau đó nhà báo có biên tập lại thành bài “Chuyện một GS Việt kiều” mà tôi vừa đăng tải lại trên blog này ngày 22/1/2010 vừa qua. Nay xin đăng tải nguyên văn bài phỏng vấn gọi là tài liệu cá nhân. NĐH

Nhà báo:

1) GS - TS đã từng học và tham gia giảng dạy tại trường đại học nước ngoài. Theo GS, cách dạy học tại các trường đại học Việt Nam và các trường đại học ở các nước tiên tiến trên thế giới có những điểm khác biệt cơ bản nào?

GS Nguyễn Đăng Hưng

Khác nhau nhiều lắm. Phải nhiều giấy mực mới có thể kể ra hết. Trong khuôn khổ một bài phỏng vấn cho số Tết, tôi xin nói ngắn gọn, chú ý đến những nét quan trọng nhất.

Trước nhất cái khác đầu tiên là quan niệm về triết lý giáo dục. Ở các nước Âu Mỹ người ta quan niệm trường Đại học là cơ sở vì lợi ích toàn dân, là địa bàn để truyền bá tri thức và nghiên cứu khoa học một cách khách quan vô tư, độc lập vớt mọi màu sắc chính trị. Nghiên cứu và quảng bá khoa học chân chính để tri thức được hiện đại hóa liên tục phù hợp với yêu cầu của phát triển của xã hội. Bởi vì vậy việc bổ nhiệm người thầy, việc chọn lựa nội dung giáo trình, việc tổ chức thi cử luôn luôn phải hướng đến mục tiêu ban đầu này: đào tạo một lớp người có trình độ, có nhân cách, có kỷ năng thực sự đáp ứng được yêu cầu thực tiển của xã hội. Còn ta thì rất nhọc nhằn, lẫn lộn giáo dục với tuyên truyền, ta khiên chính trị vào học đường, chương tình giáo khoa thì rườm rà dầy đặt mà nghiên cứu khoa học thì không coi trọng đúng mức, lại đề cao hình thức hơn nội dung, đặt nặng lượng hơn chất, chạy theo thành tích, sính bằng cấp, mê chức danh… Sự khác biệt căn bản này là nguyên do sâu xa nhất của sự tụt hậu trầm trọng của các Đại học Việt Nam. Ta loay hoay mấy chục năm nay mà chưa vực lên được vì ta chưa chấp nhận một cách rốt ráo điểm mấu chốt này. Trên ba bốn thập kỷ qua ta ngoảnh mặt với thực tế, ta chỉ lưu ý đến những trang báo cáo siêu thực đầy rẫy những thành tích ảo. Tình trạng kéo dài qua nhiều thế hệ vì thiếu tri thức phản biện đa chiều, để rồi ta lẫn lộn ảo với thực. Nay hội nhập vào thế giới phẳng khốc liệt của thực tế toàn cầu, thế giới của cạnh tranh kinh tế công nghệ kỷ thuật gay gắt, ta mới giựt mình dần dần mở mắt nhưng có hơi muộn.

Như vậy cái khó khăn hiện nay của giáo dục Việt Nam là do lịch sử để lại, do tư duy chệch hướng của thời bao cấp. Muốn theo kịp các nước tiên tiến, không có cách nào khác ngoài việc triệt để đổi mới tư duy. Căn bệnh trầm kha di căn cần những liều thuốc kịch liệt liên quan đến toàn bộ hệ thống giáo dục, không thể chửa trị bằng thuốc xức ngoài da như hiện nay…

Nhà báo:

GS đã từng nói, việc tổ chức nghiên cứu khoa học tại Việt Nam đã đi chệnh hướng lâu hàng mấy thập kỉ. Theo GS để lái con tàu đi đúng hướng, việc cấp thiết cần làm hiện nay là gì?

GS Nguyễn Đăng Hưng

Thú thật tôi thường dị ứng với các báo cáo kiểu vẽ vời vô thưởng vô phạt: về khoa học ta có những thành tựu nhất định… nhưng ta còn phải phấn đấu nhiều hơn trong những năm tới, vân vân…

Hãy đọc báo cáo của ĐH Harvard về giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học tại Việt Nam: Số bằng sáng chế của VN là 0 trong năm 2006 trong lúc của Mã Lai là 147 Thái Lan là 158, Singapore là 995, Hàn Quốc là 102.663… Người ta khách quan vô tư, người ta nói thẳng, ta phải cảm ơn họ ! Như vậy ta mới ý thức được mức độ trầm trọng của nền khoa học Việt Nam. Các cơ quan hữu hữu trách phải ý thức rõ ràng nỗi đau này may ra mới có cơ may thoát lên cho tương lai. Con người Việt Nam, đặc biệt tuổi trẻ Việt Nam thích ứng rất nhanh với khoa học tiên tiến. Chỉ nhìn con em ta ra nước ngoài, vào được các trường cao cấp quốc tế, xem họ học hành nghiên cứu khoa học thanh tích ra làm sao thì sẽ thấy ngay. Vấn đề mấu chốt là tạo dựng cho được một môi trường mà tinh thần khoa học thực thụ được gieo trồng và dinh dưởng. Vấn đề tiên quyết là có được những cơ sở nghiên cứu khoa học mà người đứng đầu là những đầu tàu có trình độ quốc tế thực thụ, có thâm niên kinh nghiệm nghiên cứu khoa học. Thứ đến là dần dần gầy dựng điều kiện vật chất, phòng thí nghiêm máy móc, phương tiện làm việc. Làm sao tập hợp được loại người này làm sao xử dụng được thứ chất xám quý giá này? Ở đây cần quyết tâm chính trị, trình độ và nghệ thuật lãnh đạo. Ở đây yếu tố Việt kiều là rất cần thiết: ai là người có kinh nghiệm lâu năm cọ xát với nghiên cứu khoa học, cạnh tranh công nghệ quốc tế?

Nhà báo:

Việt Nam có đến 8.000 GS - TS nhưng số bằng sáng chế của VIệt Nam năm 2006 bằng không. Hình như là việc phong tặng GS - TS ở Việt Nam đang có vấn đề có đúng không thưa GS?

GS Nguyễn Đăng Hưng

Chính đó là tình trạng đáng buồn của đội ngủ giáo chức đang giảng dạy tại Việt Nam. Cũng phải nói rõ thêm trong đội ngủ này không phải là không có những cá nhân thật sự giỏi. Nhưng vì nằm trong một môi trường mà thực học không được đề cao, nghiên cứu khoa học không được tổ chức có qui củ, nghiên cứu khoa học còn trong vòng khép kín, lẩn quẫn trong sân nhà không có điều kiện vươn ra bên ngoài thì hậu quả tất yếu là bằng sáng chế không lộ ra được trên bình diện quốc tế! Hiện nay Bộ GD&ĐT phần nào đã thấy những điểm yếu trong việc phong tặng chức danh GS.TS nhưng theo tôi biện pháp cải tiến vẫn còn rụt rè chưa thực sự đột phá dứt khoát! Danh hiệu GSTS vẫn còn là một học hàm chưa gắn liền với chức năng giảng dạy và nghiên cứu khoa học thực sự. Phần lớn các GSTS đi làm chính trị hay làm quản lý, chỉ một thiểu số làm nhiệm vụ đích thực của mình là thường trực có mặt trên bục giảng hay trong phòng thí nghiệm.

Nhà báo:

Xin giáo sư đánh giá về những tồn tại trong các cơ sở nghiên cứu khoa học ở Việt Nam hiện nay?

GS Nguyễn Đăng Hưng

Ngoài tình trạng tụt hậu chung, tại Việt Nam vẫn còn tồn tại một điểm yếu qua trọng nữa là việc ta còn tách rời các viện, các trung tâm nghiên cứu khoa học và các trường đại học. Người đi dạy tất bật chạy sô, không có thì giờ dành cho nghiên cứu, người có điều kiện nghiên cứu thì không phải đi dạy. Kết quả là giáo trình giảng dạy không được hiện đại hóa kịp thời nhờ ở những kết quả nghiên cứu khoa học và những kết quả này nếu có lại không được phổ biến để có sự tiếp nối của lớp trẻ. Đây là lảng phí khó có thể chấp nhận cho một nước còn nghèo như nước ta.

Nhá báo:

Theo giáo sư, đội ngũ Việt kiều trí thức có vai trò như thế nào trong việc chuyển giao khoa học công nghệ?

GS Nguyễn Đăng Hưng

Như đã nói ở trên để thay đổi cục diện ta cần những đầu tàu có thực chất, có tẩm cỡ quốc tế. Theo muốn có đột phá cần phải rà soát hiện trạng, thay thế nhân sự. Đây là hướng giải quyết đòi hỏi quyết tâm chính trị cao. Anh không thể là đầu tàu nếu qua quá trình có kỳ hạn, anh không thể hiện được khả năng qua những báo cáo khoa học, những công trình được công bố trên những tạp chí quốc tế, những bằng phát minh được giới khoa học thừa nhận, những hướng dẫn nghiên cứu thành công. Anh phải nhường chỗ cho người khác, cho lớp trẻ được đào tạo từ các nước tiên tiến. Một người trẻ làm đầu tàu không những phải có bằng tiến sỹ, có công trình khoa học mà còn phải có kinh nghiệm cọ xác với môi trường khoa học công nghệ quốc tế qua thời gian dài nghiên cứu hậu tiến sỹ. Thành phần này hiện nay còn hiếm ở Việt Nam và đào tạo thành phần này cần ít ra chung quanh mười năm sau đại học.

Muốn đi nhanh, muốn đi tắt, nhất là những lĩnh vực mủi nhọn ta phải dựa vào chất xám Việt kiều.

Chiến tranh gây bao nhiêu ly tan cho người Việt và người Việt đã phải lưu lạc khắp năm châu bốn biển. Hiện nay trên thế giới có đến trên 300 000 người Việt được đào tạo bài bản đang làm việc tại các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu, các phân xưởng, các nhà máy tiên tiến trên thế giới. Họ thường xuyên cọ xát với môi trường khoa học công nghệ có cạnh tranh gay gắt nhất. Đây là cơ may cho dân tộc khi yêu cầu công nghệ hóa và hiện đại hóa đất nước được đưa lên là mục tiêu phấn đấu cho những thập niên sắp đến. Vấn đề là phải thu hút được họ, vấn đề là tạo điều kiện để họ tự giác tự nguyện tham gia công cuộc phát triển đất nước, không phài vài cá nhân rời rạc mà hàng loạt. Làm được việc này chính là đi tắt đón đầu… Đã gần 6 năm rồi nghị quyết 36 ra đời với nhiều kỳ vọng ban đầu. Nhưng cho đến hôm nay việc triển khai thực hiện vẫn chung quanh mấy chữ chưa có gì ngoài những khẩu hiệu thường bắt gặp!

Nhưng đây là một vấn đề khác, tế nhị, phức tạp và gay cấn vì có yếu tố chính trị. Tôi mong sẽ được đề cập vào một bài phỏng vấn khác dài hơi hơn…

TP. HCM ngày 08/01/2010

  1. No comments yet.
  1. No trackbacks yet.