
Lời bình của các nhà khoa học Việt Nam
sau ngày Ngô Bá Châu tỏa sáng
Lời dẫn:
Xin chuyển tải về đây những lời bình lời chúc mừng tỉnh táo và chừng mực của các nhà khoa học sau sự kiện lừng lẫy này. Tuy nhiên, niềm vui chung của chúng ta chưa được trọn vẹn vì phải nhìn nhận việc sử dụng chất xám, môi trường khoa học cho mọi người tại Việt Nam vẫn còn là bài toán mà nhà cầm quyền vì những lý do lịch sử và vì chưa thoát ra được tư duy hạn hẹp, quan điểm chủ quan, còn loay hoay chưa giải nổi! Cũng như mọi sự kiện lớn lao khác, việc xác định bối cảnh chính xác của nó sẽ giúp chúng ta, người Việt Nam hôm nay, chiều khoá cần thiết để mở cửa cho tương lai. Mong thay sự kiện Ngô Bảo Châu là dịp để mọi người nhìn lại mình, vì tương lai cao đẹp của dân tộc Việt mà phấn đấu vươn lên.
Nguyễn Đăng Hưng
GS Hoàng Tuỵ: “Nói Ngô Bảo Châu là thiên tài cũng không quá lời”
“Theo tôi, với những gì mà anh đã làm được với toán, nếu nói Ngô Bảo Châu là một thiên tài thì cũng không quá lời. Về việc ra đời của viện nghiên cứu cấp cao về toán, là kế hoạch nằm trong một chương trình phát triển ngành toán Việt Nam đã được đề xuất từ lâu, gần đây mới được Chính phủ xem xét và chấp nhận, rồi phê duyệt. Cũng may là sự kiện Ngô Bảo Châu xảy ra đúng thời điểm có vẻ chín muồi này. Đây là một điều đáng mừng cho cả ngành toán Việt Nam”.
GS Nguyễn Văn Hiệu
“Tôi hết sức vui mừng khi biết tin GS Ngô Bảo Châu chính thức nhận Huy chương Fields, một điều mà tôi đang nóng lòng chờ đợi. Đó là tột đỉnh của sự vinh quang đối với một nhà khoa học ở bất kỳ nước nào. Niềm vinh quang đó lại có ý nghĩa bội phần đối với nước ta, một đất nước đang rất cần nhanh chóng phát triển khoa học. Việc GS Ngô Bảo Châu được nhận Huy chương Fields là sự kiện lớn lao nhất trong đời sống khoa học ở nước ta kể từ khi Việt Nam bắt đầu phát triển khoa học cách đây nửa thế kỷ.
Có rất nhiều nguyên nhân cụ thể, song tất cả các nguyên nhân đó (làm cho các tài năng ít được thăng hoa) lại đều là một hậu quả của nguyên nhân chính: đó là sự sai lầm càng ngày càng nghiêm trọng trong chính sách sử dụng cán bộ khoa học ở nước ta.
Điều mong muốn nhất của tôi là những người có trách nhiệm hãy nhanh chóng thay đổi cơ chế quản lý để tạo điều kiện tốt cho các nhà khoa học ở trong nước phát huy tài năng, lớp trẻ sẽ noi gương và hăng hái dấn thân cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học, nhân tài Việt Nam ở nước ngoài sẽ tin tưởng và sẵn sang về nước đóng góp trực tiếp vào sự xây dựng nền khoa học của nước nhà.”
GS Lê Tuấn Hoa (chủ tịch hội toán học VN):
“Tác động của việc GS Ngô Bảo Châu giành được giải thưởng Fields đến sự phát triển của toán học trong nước là rất lớn nếu chúng ta biết tận dụng thời cơ này. GS Châu sẽ trở thành một cầu nối mời được rất nhiều chuyên gia ở nước ngoài sang Việt Nam làm việc, giúp đỡ chúng ta làm khoa học. Đó là điều không phải ai cũng làm được. Tôi tin rằng, có một hình tượng Ngô Bảo Châu, giới trẻ sẽ có nhiều em dũng cảm đi vào con đường nghiên cứu toán học cơ bản”.
TS Lê Bá Khánh Trình (giảng viên khoa toán – tin, đại học Khoa học tự nhiên, đại học Quốc gia TP.HCM):
“Giống như tất cả những người Việt Nam khác, tôi thực sự vui mừng trước sự kiện Ngô Bảo Châu đã đứng trên đỉnh cao thế giới về toán học. Cùng với Đặng Thái Sơn, đỉnh cao của Việt Nam trong nghệ thuật, sự kiện này cho thấy người Việt Nam có thể đạt được những thành tựu rực rỡ khiến thế giới phải nể trọng. Nó cũng giúp cho thế hệ trẻ tự tin hơn trên con đường chinh phục khoa học.
Chúng ta đang rất thiếu đội ngũ các nhà khoa học trong mọi ngành, nhưng để theo đuổi khoa học tới cùng, cần phải có đam mê lâu dài, và biến nó thành bản chất của mình, biết hy sinh nhiều lợi ích cá nhân khác. Hãy đến với khoa học một cách vô vụ lợi, đừng nghĩ là làm khoa học để đạt được danh lợi nào đó”.
GS. Hà Huy Khoái:
“Sự kiện Ngô Bảo Châu có thể coi là một cú hích, một may mắn lớn cho ngành toán trong nước. Trong khoa học, vai trò cá nhân rất quan trọng. Tôi cho rằng GS Ngô Bảo Châu có vai trò này trong việc thay đổi “vận mệnh” ngành toán nước nhà. Giới trẻ Việt Nam sẽ tự tin hơn để tiếp tục nghiên cứu toán học.
Hơn nữa, tôi hy vọng sau sự kiện này, các cấp lãnh đạo sẽ tin tưởng hơn và có các chính sách phù hợp hơn về đào tạo và đãi ngộ nhân tài. Sự kiện Ngô Bảo Châu cho thấy, nếu chúng ta có chính sách tốt, có đào tạo nền tảng tốt và gửi đi học đúng chỗ thì có thể phát triển cao trên trường quốc tế.”
GS Ngô Việt Trung (Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam ):
“Một giải thưởng thực chất không nói lên sự thành công của một ngành, nhưng nó khẳng định rằng con người Việt Nam có thể vươn tới những đỉnh cao nhất của khoa học. Khi Ngô Bảo Châu nhận giải thưởng này, vinh quang của đất nước Việt Nam sẽ được nhắc đến mãi…
Điều này cũng sẽ giúp cho ngành toán học Việt Nam sẽ có bước ngoặt lớn.”
Tôi cho rằng thành tích của NBChâu cần phải là một cơ hội để chúng ta thu hút sự chú ý và ủng hộ của dư luận và chính phủ cho phát triển lành mạnh của KHVN trong cố gắng chung của chúng ta hiện nay, và tránh để bị lạm dụng thành chiêu thức quảng cáo chính trị một chiều và trục lợi cá nhân hay cục bộ gây phản cảm cho chính cộng đồng khoa học và thái độ nghi kị của người ngòai.
Thông điệp NBChâu cần phải là: người VN chúng ta cũng có khả năng và hòai bão vươn lên trong (mọi lĩnh vực) khoa học, kể cả tới đỉnh cao trong lĩnh vực trừu tượng nhất, và người VN cũng biết đóng góp cho phát triển chung (của nhân lọai) chứ không chỉ biết bắt trước, chộp giật và lo cho cái miệng ăn của mình.
Chính phủ cần phải hiểu rằng để người VN vươn cao và VN hóa rồng chúng ta không cần khẩu hiệu và những lời mỹ miều mà cần có cơ chế chính sách đồng bộ để các nhà khoa học và giới trẻ mọi lĩnh vực có điều kiện học tập phấn đấu phấn đấu phát huy tiềm năng của mình tới chuẩn mực quốc tế. Chúng ta cần nhiều nhà khoa học khá, chứ không chỉ một vài người giỏi, trong mọi lĩnh vực từ lý thuyết tới ứng dụng triển khai – KHVN phải là một cơ thể khỏe hòan chỉnh giúp ích thực sự cho phát triển đất nước, chứ không phải phổi khỏe nhưng ung thư di căn tràn lan ở những chỗ khác.
Chúng ta đừng nên tự hào thái quá rằng VN hơn TQ là đã có được giải thưởng Fields, bên cạnh ngành đóng tầu xuất khẩu lớn của mình, khi mà chúng ta chỉ đảm nhiệm được những phần việc gia công lắp ráp thấp cấp nhất và ô nhiễm môi trường, trong khi từ cái ốt vít cho con tầu cũng phải nhập từ TQ.
Đúng là có sự hẫng hụt trong quan tâm của thế hệ trẻ hiện nay đối với tóan lý thuyết so với mấy mươi năm trước (các học sinh phổ thông giỏi hiện nay có xu hướng chung nhằm vào ĐH ngọai thương – tức là hướng tới lợi ích kinh tế, và họ chẳng cần thêm những lời dậy khôn của các anh Trung Hà hay Ngọc từ FPT ). Nhưng phải nhìn rộng ra đó là vấn đề chung của mọi lĩnh vực của KHVN hiện nay, và ở tầm anh Châu cần phải nhận thức được điều đó. Đừng nên bận tâm quá nhiều vào giải thích ngành tóan có lợi như thế nào.
Cách đây đã lâu, bác NHCẩn có lần bộc lộ với tôi Châu chọn vào cái hướng chuyên môn quá trừu tượng, vấn đề khó quá và đang bế tắc. Khi đó tôi đã nhớ tới NLAnh – một thần đồng có tiếng ở MGU – nghe nói - không quan tâm tới bài tóan do GS hướng dẫn giao vì nó nhỏ mà tự mình lao vào một vấn đề lớn, nhung đã không thành công, và sau này anh cũng không thành công trong tóan học như trông đợi của nhiều người. Tóan học lý thuyết rất khắc nghiệt như thể thao, có khi anh vươn tới gần như giải quyết được vấn đề, nhưng vẫn thiếu một chút gì đó để có thể thành công được và đành bỏ cuộc với bàn tay trắng. Dù bạn Châu có điều kiện thuận lợi thế nào thì ắt hẳn vẫn phải leo dốc đường trường cật lực với sự giúp đỡ của thần may mắn ở những thời điểm quyết định. Tôi vẫn cho rằng khoa học lý thuyết chỉ có chỗ cho những người giỏi, tâm huyết và biết hy sinh, trong khí đó các khoa học càng gần ứng dụng thì rất phong phú và có chỗ cho cả người giỏi và trung bình, và cả những người hám lợi nữa. Khi tôi khoe với bác Cẩn về giải thưởng Clay của Châu trên tờ Notice của Hội tóan Mỹ, bác Cẩn lập tức xin tôi cái số đó.
Thời gian trước mắt với NBChâu – làm thế nào để giúp cho KHVN về tổng thể, chứ không chỉ lên lớp cho một số sinh viên và giúp lập một cái tháp ngà riêng cho ngành tóan – là một khó khăn tiếp theo Bổ để cơ bản. Gia đình anh và các bạn bè đồng nghiệp gần gũi như LTHoa, NVTrung … cũng sẽ phải chia sẻ trách nhiệm này.
(19/8/10)
Nguồn : Diển đàn các nhà khoa học Việt Nam đề tài “ Vui mừng hiện tương Ngô Bảo Châu !!!”
Từ sự kiện Ngô Bảo Châu, người làm giáo dục phải xem lại mình
SGTT.VN - Vinh dự vô cùng to lớn mà GS Ngô Bảo Châu mang lại cho mọi người Việt Nam gây niềm xúc động vô biên, nhất là đối với những ai tâm huyết với nền giáo dục và khoa học nước nhà nhưng gần như tuyệt vọng với một chính sách phát triển giáo dục đại học ngược với tự nhiên và cắt đi mọi tầm nhìn tương lai.
Giấc mơ mà nhiều người Việt Nam trong và ngoài nước đã mơ trong những tháng qua, đặc biệt những ngày qua, đã trở thành sự thật: GS Ngô Bảo Châu đã được đại hội Toán học thế giới họp tại Hyderabad – Ấn Độ vinh danh với huy chương vàng Fields lịch sử.
Với Ngô Bảo Châu và chiếc huy chương Fields, người Việt Nam và dân tộc Việt Nam đã tìm lại được chính mình, tìm lại được niềm tin đã từng khẳng định nhưng rồi tưởng chừng đã mất giữa dòng lịch sử! Rằng dân tộc Việt Nam có thể đóng góp phần trí tuệ của mình vào kho tàng trí tuệ của thế giới, rằng “người Việt Nam cần cù, siêng năng và thông minh”, là những hạt giống của “con rồng cháu tiên”, chỉ cần một miếng đất tốt để phát triển, và có quyền phát triển đầy đủ mà không bị cản trở.
Một con người nhỏ nhắn nhưng có đôi mắt sáng của sự tò mò thiêng liêng và đầy nghị lực, đến từ một đất nước nghèo nàn và lạc hậu, từ một đất nước mà toán học và khoa học là những ngành còn tương đối non trẻ, chỉ chừng 40 năm thôi, một đất nước không có truyền thống toán học hay khoa học tự nhiên, nay làm nên lịch sử trên diễn đàn toán học thế giới.
Đứng trước một tài năng được thế giới công nhận như Ngô Bảo Châu, những ai làm chính sách giáo dục và đại học quốc gia không thể nào không thay đổi thước đo đối với trí thức Việt Nam. Phải xem lại chính mình! Phải xem lại những chính sách đối với trí thức và với những nhà khoa học! Hãy mở cửa và nuôi dưỡng giới trí thức và khoa học Việt Nam như những tài nguyên vô giá của đất nước.
Một chương trình toán học cho giáo dục đáng lẽ phải được khởi động từ lâu ở cấp quốc gia. Humboldt, cha đẻ của nền đại học hiện đại thế giới, 200 năm trước đã biết lấy toán học làm nòng cốt cho giáo dục. Một viện nghiên cứu toán học cao cấp đáng lẽ được thành lập từ lâu. Nhưng, viện toán học ấy chỉ phát huy hiệu quả thực sự khi có những đại học nghiên cứu hiện đại trong quỹ đạo của nền đại học hiện đại thế giới đi kèm, và sau cùng nhưng lại là điều cốt lõi, đó là người làm khoa học phải sống và có đủ điều kiện làm việc tại Việt Nam, điều hãy còn xa vời. Một viện nghiên cứu lẻ loi tuy tốt nhưng vẫn không phát triển được tài năng Việt Nam. Ai sống được để làm toán và khoa học một cách “chân chính”?
Giới trẻ Việt Nam hãy tin vào tài năng và trí tuệ của mình, của dân tộc, hãy nuôi dưỡng ước mơ vươn lên những giá trị khoa học, nghệ thuật cao cả của thế giới đã vun bồi hơn hai ngàn năm, hãy dám đi con đường khó khăn hơn nhưng vinh quang hơn! Một đất nước mà các thế hệ trẻ chỉ biết “sống bằng tay cho ngay vào miệng” là một đất nước không có tương lai!
Nguồn: http://sgtt.vn/Goc-nhin/128088/Tu-su-kien-Ngo-Bao-Chau-nguoi-lam-giao-duc-phai-xem-lai-minh.html
TS Nguyễn trọng Bình
Tôi xin chân thành chúc mừng anh Ngô Bảo Châu .
Dù rằng công việc anh làm ở Pháp và đoạt giải , nhưng khi anh nhận giải anh vẫn không không quên quê hương (nghèo) Việt nam .
Người Việt ra làm việc ở nước ngoài thành đạt, nhưng luôn không quên quê hương sinh ra mình . Người Việt khi về nước làm việc không đạt được kết qủa mong muốn, ước mơ ấp ủ mang về nước . Tại sao vậy ? VN cần suy nghĩ để gỡ bỏ các rào cản này để có thể người Việt phát huy trí tuệ Việt ngay trên quê hương mình .
GSTS Phạm Xuân Yêm (nguyên Giáo sư Đại học Paris)
Để thư giãn, xin trích báo Libération ở Pháp sáng nay loan tin huy chương Fields vinh tặng anh Ngô Bảo Châu, với tựa đề ”Certains lemmes Chau”, chơi chữ hay như phim “Certains l’aiment chaud (Some like it hot)”, với minh tinh Marylin Monroe.
Xin nối tiếp ý kiến (theo thứ tự thời điểm trao đổi) của quý anh Nguyễn Xuân Xanh, Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Đăng Hưng, Nguyễn Ngọc Giao, Nguyễn Trung, Dã Tượng. Ngoài tài năng xuất chúng về toán học mang lại thơm lây cho cộng đồng người Việt, anh Châu còn thể hiện nhân cách trí thức dấn thân của mình với trách nhiệm trước những vấn nạn của xã hội (boxit, giáo dục).
Tầm cỡ và tiếng vang của giải thưởng này mang lại cho anh Ngô Bảo Châu (dầu muốn dầu không) uy tín đối với dân tộc VN như những giải Nobel Hideki Yukawa (1948) đối với dân Nhật tàn tạ sau đại chiến thứ hai, như Chen Ning Yang và Tsung Dao Lee (1957) đối với dân Trung quốc, như Abdus Salam (1979) đối với dân Pakistan. Những vị này đã đóng góp tích cực vào sự chấn hưng khoa học, giáo dục, văn hoá của quê hương họ.
Ước mong anh, tiếp nối hai vị tiền bối Hoàng Xuân Hãn (Việt hóa khoa học), Tạ Quang Bửu (chuyên trước hồng, lý lịch thành phần), suy tư và hành động góp phần tiêu trừ quốc nạn giả dối trong giáo dục: bán mua bằng cấp và chức quyền, nạn dỏm hoành hành trong đại học (giáo sư tiến sĩ dỏm liên kết với đại học nước ngoài dỏm). Thiếu đạo đức
trong giáo dục là căn nguyên của một xã hội sa đà suy thoái.
Biết bao người trông chờ anh.
Nguyễn Huy Bích (PhD. Candidate MECHANICAL ENGINEERING DEPARTMENT NATIONAL CENTRAL UNIVERSITY, JHONGLY CITY, TAIWAN)
Có lẽ không một người ViệtNam nào không cảm thấy vui mừng xen lẫn tự hào về “sự kiện Ngô Bảo Châu”. Tuy nhiên, vấn đề NBC đã và đang bị lợi dụng và khai thác quá mức bởi giới truyền thông và các vị “chính trị gia” nhằm phục vụ cho vài ý đồ nào đó. Đúng như ý kiến của GS. NT Dũng, GS. NĐ Hưng và GS. PD Chính, thay vì tuyên truyền “quà liều cần thiết” cho sự kiện NBC, nhà nước nên tự hỏi: Nếu NBC không được đào tạo tại Pháp thì kết quả có được như hôm nay không??? Câu trả lời chắc chắn 100% là không. Vậy từ sự kiện NBC, đâu là nguyên nhân để từ đó có quyết sách cần thiết cho sự phát triển không những cho Toán học mà cho nền Khoa học VN. GS Dũng đã chi tiết khá rõ những việc cần làm. Tuy nhiên vấn đề mang tính thâm căn cố đế mà tôi thấy vẩn chưa được thể hiện rõ ràng: Thực sự trong thâm tâm các vị quản lý nhà nước có yêu mến, dành tâm huyết, trăn trở, và đặc biệt thực sự cầu thị, trân trọng, lắng nghe, đánh giá đúng, và sử dụng hiệu quả những người VN làm khoa học (không phải những người đội lốt khoa hoc) không? Hay vấn đề cũng chỉ là hình thức và tuyên truyền? Nhân sự kiện NBC, tôi nghĩ nhà nước hãy mạnh dạn tạo môi trường và cơ chế có tính đột phá để Khoa học VN không í ạch như hiện nay.
Phạm Việt Hưng
Ngô Bảo Châu không chỉ là một tấm gương khoa học sáng ngời, mà còn là tấm gương đạo đức sáng ngời:
-Trong lúc đồng tiền lên ngôi trong xã hội Việt Nam, trở thành thước đo giá trị của không biết bao nhiêu người, dẫn tới sự băng hoại đạo đức, suy đồi luân lý, thối nát xã hội, cái nhà, cái xe trở thành thước đo “thành đạt” và là thứ để cho những kẻ vô đạo thấp hèn về nhân cách đem ra khoe khoang với đời, làm tối mắt và làm hư hỏng nhiều đám thanh thiếu niên,… thì Ngô Bảo Châu đã cảnh tỉnh người đời bằng hành động từ chối một tài sản lớn – một ngôi biệt thự ở đảo Tuần Châu – tương tự như Perelman đã từ chối mọi vinh quang và giải thưởng! Với hành động này, Ngô Bảo Châu không chỉ là một “thiên tài khoa học” như GS Hoàng Tụy đánh giá, mà còn là một anh hùng hảo hán, một tấm gương trọng nghĩa khinh tài giữa chốn đời thường!
-Đối với những người không hiểu được hạnh phúc chân chính của nhà khoa học, những người chỉ nhìn thấy thành tựu của anh hôm nay như một thắng lợi buôn bán thương trường hoặc chính trị, thì hành động từ chối món quà biệt thự Tuần Châu là một lời giảng nghĩa cho họ hiểu hạnh phúc thật trong sáng tạo khoa học là gì – điều cách đây một thế kỷ, Henri Poincaré dường như cũng muốn giảng giải cho người đời rằng “Nhà khoa học không nghiên cứu tự nhiên vì việc đó có lợi; Anh ta nghiên cứu nó vì anh ta thấy thích thú và anh ta thấy thích thú vì nó đẹp. Nếu tự nhiên không đẹp thì nó không đáng để biết, và cuộc sống không đáng để sống”. Liệu bao giờ thì mấy cái ông quan chức và mấy cái anh nhà báo, nhà đài chạy lăng xăng quanh sự kiện Ngô Bảo Châu có thể hiểu được điều đó? Họ tưởng ai cùng thèm khát bả vinh hoa như họ ư? Họ không biết rằng trên đời này vẫn còn những bậc quân tử, những anh hùng hảo hán trọng nghĩa khinh tài ư?
-Tôi cũng vô cùng ngưỡng mộ Ngô Bảo Châu vì anh đã quyết định trao tặng tiền thưởng Giải Fields của anh cho Quỹ Học Bổng Ngô Bảo Châu. Anh không chỉ là con người khoa học, mà còn là con người xã hội tuyệt vời! Cái TÂM của anh còn quý hơn và lớn hơn cái TÀI của anh!
-Ngô Bảo Châu vô cùng tế nhị và sáng suốt trong việc gia nhập quốc tịch Pháp – một động thái thể hiện sự xác nhận công lao to lớn của nước Pháp trong thành công của anh ngày hôm nay, đồng thời cũng là một động thái chân thành tôn vinh nền khoa học Pháp vốn đã dư thừa vinh quang. Giống như Marie Curie được nhà nước Pháp tôn vinh là người phụ nữ có 3 cái phi thường, trong đó có một cái phi thường là “một người nhập cư phi thường đã làm rạng danh nền khoa học Pháp”. Ngô Bảo Châu hôm nay cũng là “một người nhập cư phi thường làm rạng danh nền khoa học Pháp”!
___
______
Thái Nam Thắng
Có thể GS Ngô Bảo Châu vẫn cần đến giải thưởng và sự vinh danh, nhưng “hoà thượng” Thích Học Toán thì chắc chắn luôn là một chiếc thuyền rỗng đáy, đừng chở cái gì theo mình cả, dù là cái huy chương “Fields” lấp lánh ánh vàng. Chỉ có như vậy, một ngày kia thiên tài mới không đi lẫn với bầy cừu.
Không có sự sáng tạo đích thực nào không đi liền hai chữ “tự do”
Mỗi người cần có khát vọng, cả dân tộc dám ước mơ? Liệu đó có thể là những tia lạc quan cho người Việt sau sự kiện Giáo sư Ngô Bảo Châu nhận Giải thưởng Fields? Chắc chắn sẽ còn nhiều câu hỏi và dự cảm hơn thế, nhưng câu trả lời hình như đang bị che khuất đâu đó chung quanh những thông tin quá nhiều về lòng tự hào Việt Nam trong những ngày vừa qua.
Ai cũng hiểu, lòng tự hào như vậy cũng sẽ nhanh chóng đi qua. Nếu nói cho đúng, hiện tượng Ngô Bảo Châu đã đi vào lịch sử toán học thế giới. Ngô Bảo Châu sẽ chẳng còn là niềm tự hào riêng của người Việt, của “nền toán học Việt Nam”, “trí tuệ Việt Nam”.
Nhưng rồi đây có bao nhiêu “trí tuệ Việt Nam”, “trí tuệ của nền toán học Việt Nam” có thể hiểu đầy đủ về “Bổ đề cơ bản” để diễn giải và ứng dụng nó trong tư duy toán học của người Việt hay ở các lĩnh vực khác liên quan đến toán học, đến đời sống thực tiễn?
Sự bí hiểm của một nghi vấn suốt 30 năm, làm đau đầu thế giới toán học, chả lẽ cuối cùng cũng chỉ đọng lại một mớ những mơ mơ hồ hồ trong cái “niềm tự hào” kiểu phong trào kia hay sao? “Của báu” mà không đủ khả năng để dùng, hay thuộc sở hữu của đỉnh cao trí tuệ Việt Nam, nhưng thế giới lại “mượn” để dùng, và dùng rất đúng chỗ, rất hiệu quả?
Sự vượt trội của một cá nhân xuất sắc cuối cùng đã làm lộ ra một sự thật trần trụi, nói như Lão Tử đó là “thiểu thắng đa” của đạo giảm trừ (đạo Trời). Tinh tuý chẳng bao giờ thuộc về số đông. Nếu tinh tuý mà thuộc về số đông thì nó chẳng còn gì là tinh tuý nữa. Đó là con đường độc thiện kỳ thân và cả sự khổ công “tu luyện” của “hoà thượng”
Không có sự sáng tạo đích thực nào mà không đi liền với hai chữ “tự do”. Tại sao mỗi người phải biến mình thành một cá nhân “ăn khớp” với xã hội, ăn khớp với những lề thói mà đôi khi chúng chỉ là một mớ bảo thủ hỗn độn được một ít trí khôn ranh mãnh và một vài dữ liệu không đầy đủ của tri thức nhào nặn ra?
Mỗi người không chỉ có một cơ chế tránh bụi bẩn khi gió cát nổi lên mà chính khi nhìn thấy bụi bẩn họ mới hiểu hết được tính chất ô nhiễm của thế giới và sự cùng tồn tại bất phân ly với thanh tĩnh. Điều khác biệt lớn nhất là làm thế nào để cộng tồn, để sống với bụi bẩn khi sự che lấp, gian dối biến ảo chung quanh đời người luôn làm sai lệch nhận thức thực tế, làm giới hạn sự tự do, để người ta không dám nghĩ, không dám nói, không dám hành động và không dám tự chịu trách nhiệm về những gì mình đã làm?
Câu trả lời chỉ có thể đến từ một con người dám mãnh liệt bảo vệ sự tự do, sống với tự do.
Sự “tự sướng” khôi hài
Thật lạ lùng, có không ít người trong chúng ta hoan hô giải thưởng, hoan hô câu nói đĩnh đạc ấy, trong khi ý chí thì cùn nhụt, nhận thức thì đóng khuôn bởi bao nhiêu những lề luật. Con người nô lệ cho hoàn cảnh trong những điều kiện họ hoàn toàn có quyền chọn lựa sự tự do. Vậy phải chăng có quá nhiều người không muốn tự do, nhưng thích hoà mình vào tập thể để tung hô tự do?
Nếu đúng là như vậy thì đó chính là quy luật gia tăng của “đạo tiểu nhân” mà Lão Tử nói. Khi đạo tiểu nhân gia tăng thì chữ tự do làm gì còn môi trường trong lành đích thực để hít thở. Bởi sự xâm chiếm của cái số lượng, cái mạnh, cái cứng rắn, bạo lực từ bên ngoài sẽ bành trướng và chiến thắng.
Chỉ khi đạo của tự do (tự nhiên nhi nhiên) xuất hiện thì mới có thể “lấy yếu đánh mạnh”, “lấy ít địch nhiều”. Chỉ có như thế mới có thể phát hiện ra hiền tài, đề cao hiền tài, mới có thể hiểu được sức mạnh và công dụng lớn có khi nằm ở những sự giản đơn (đến bất ngờ). Những phức tạp rườm rà, luân hồi lên xuống trong đời sống sở dĩ diễn ra bất tận vì con người có đặc tính “tham sinh uý tử”, không biết đặt mình vào cái chỗ nguy hiểm, cái chỗ mất tự do để khao khát tự do.
Đỉnh cao trí tuệ của dân tộc làm sao có thể đến từ thói quen “khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai”. Cá nhân một khi đã đánh mất tự do của chính mình thì chỉ có thể vỗ ngực tự hào với những thứ tự do vô thưởng vô phạt, mà biểu hiện thường thấy là sự tự mãn hô to lên “tôi tự hào quá, tôi sẽ đặt ngay tên con tôi là Bảo Châu để lớn lên trí tuệ của nó cũng sẽ được ‘nhập dữ liệu’ như thế”.
Đó là sự “tự sướng” khôi hài. Vì sự mất tự do lớn nhất chính ở lúc chúng ta tranh nhau vỗ tay và tung hô sự hùng vĩ của một cá nhân về cho một tập thể, bất chấp diễn trình nhân quả, sự nỗ lực sinh tử và cô đơn tận cùng của cá nhân. “Hoà thượng” Thích Học Toán sẽ mất đi danh hiệu ngộ đạo nếu ông khuyên mọi người hãy ước mơ đến cái tự hào của giải thưởng.
Tự do sẽ sinh ra tất cả những giải thưởng cao quý nhất của loài người. Giải thưởng ấy tự động để tự do rơi trở về với khái niệm “toàn mỹ” của chính nó, có nghĩa rằng “giải thưởng” ấy phải phục vụ con người, chứ nó không phải là cái tủ trang sức chứa đựng vô số những vàng, bạc, đá quý, kim cương, đô-la, biệt thự, hay phải phục vụ cho một cá nhân, tư tưởng tự xưng là ưu tú nào…
Sự tự do lớn nhất của một dân tộc không phải chỉ biết chấp nhận vinh quang là của chung, còn nhục nhã thì thuộc về chúng nó. Trí tuệ, nhục nhã, sai lầm, khuyết điểm đều phải là của chung, không nhìn vào sự thực ấy, cá nhân không thể khai phóng, không thể tự cởi trói để hướng đến tự do.
Thử hình dung, nếu GS Ngô Bảo Châu không thể chứng minh được “Langlands”? Chuyện gì sẽ diễn ra cho “nền toán học Việt Nam”? Lấy giáo lý nhân quả của Đạo Phật mà soi thì sẽ thấy, một hạt giống (của gien Việt) dù có tốt đến cỡ nào, nhưng nếu gieo vào một mảnh đất cằn cỗi thì nó có muốn trổ cành xanh lá, ra hoa kết quả cũng không bao giờ được.
Ngược lại một hạt giống bình bình dù năng suất không cao nhưng gieo vào một mảnh đất màu mỡ thì nó vẫn sẽ cho ra những kết quả mong muốn. Nói gần, nói xa để những người Việt tự trọng, mến yêu, thần tượng Ngô Bảo Châu nên dành một phút để cảm ơn nước Pháp.
Có thể GS Ngô Bảo Châu vẫn cần đến giải thưởng và sự vinh danh, nhưng “hoà thượng” Thích Học Toán thì chắc chắn luôn là một chiếc thuyền rỗng đáy, đừng chở cái gì theo mình cả, dù là cái huy chương “Fields” lấp lánh ánh vàng. Chỉ có như vậy, một ngày kia thiên tài mới không đi lẫn với bầy cừu
_______________________________
Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy và Thủ tướng Francois Fillon
Ca ngợi hai nhà toán học Ngô Bảo Châu và Cedric Villani vừa nhận được giải thưởng Fields danh giá.
AFP dẫn thông báo từ điện Elysee cho biết tổng thống chúc mừng và “bày tỏ lòng biết ơn và ngưỡng mộ của ông” đối với hai nhà toán học.
Tổng thống cho biết kết quả này khẳng định chất lượng đào tạo hàng đầu về toán học của Pháp giúp năm nào cũng phát hiện ra những nhân tài mới. Tổng thống hy vọng các trường toán học của Pháp có đủ phương tiện cần thiết để phát triển.
Thủ tướng Pháp Francois Fillon cũng gửi lời chúc mừng của ông tới các nhà toán học. Ông cũng nhấn mạnh trình độ vượt bậc của Pháp về toán trên thế giới.
_______________________________________________
Giáo sư Nguyễn Tiến Dũng trả lời phỏng vấn báo Thanh Niên về hiện tượng Ngô bảo Châu
Có anh Đỗ Hùng ở báo Thanh Niên hỏi tôi mấy câu hỏi về khoa học VN nhân dịp Ngô Bảo Châu được giải Fields. Tôi có trả lời nguyên văn dưới đây (hy vọng nếu họ đăng lên sẽ không tự ý sửa đi
)
1. Thưa Giáo sư Nguyễn Tiến Dũng, là một người Việt Nam làm khoa học ở nước ngoài, lại cùng ngành toán, ông đánh giá việc GS Ngô Bảo Châu chứng minh thành công Bổ đề Cơ bản và, như một hệ quả, được trao HC Fields như thế nào?
Giải Fields của Ngô Bảo Châu là một niềm tự hào lớn cho Việt Nam, và cho giới toán học của Pháp. Đối với tôi, việc Ngô Bảo Châu được giải thưởng Fields là hoàn toàn xứng đáng và không đáng ngạc nhiên. Ngay từ khi Ngô Bảo Châu giải quyết xong “Fundamental Lemma” của Langlands cách đây khoảng 2 năm, tôi cũng đã dự đoán GS Châu sẽ được giải Fields. Và khi kết quả của GS Châu được báo Time đánh giá là 1 trong 10 kết quả nổi bật nhất của khoa học thế giới năm 2009 thì điều này càng trở nên rõ ràng.Từ đầu năm nay, giới toán học đã có đồn đại nhiều về những ứng cử viên của giải Fields cho năm nay, trong đó Ngô Bảo Châu có thể coi là ứng cử viên được nhiều người ủng hộ nhất.
Thành tích của GS Châu đạt được tất nhiên là do tài năng xuất chúng và sự đam mê toán học của GS Châu mà ai cũng phải công nhận. Ngoài ra còn cần kể đến những điều kiện hết sức thuận lợi khác của GS Châu, mà nhiều người khác không có được: sinh ra trong một gia đình trí thức cao cấp và khá giả, luôn được học trong những điều kiện tốt nhất, kể cả ở bậc phổ thông (Khối chuyên ĐHTH, và còn được một số nhà toán học tốt nhất của Việt Nam luyện riêng), đại học và sau đại học (Ecole Normale Supérieure ở Paris, cái lò sản sinh các nhà toán học ở Pháp), có người thầy đỡ đầu thuộc loại hàng đầu thế giới và rất quan tâm đến học trò (ông Laumon viện sĩ của Pháp, thầy của 2 giải thưởng Fields), làm việc cũng trong những điều kiện tốt nhất (như ở Paris 11 hay Princeton), không bao giờ phải lo lắng chuyện thiếu tiền (trái với một số thông tin sai lệch, gia đình của Ngô Bảo Châu thuộc loại khá giả tuy không phải triệu phú), luôn có thể yên tâm nghiên cứu toán, có được một bài toán lớn để tập trung làm trong nhiều năm, và tất nhiên là đã tìm được đúng hướng để giải bài toán đó. Để đạt được một thành tích như Ngô Bảo Châu, cần có sự tập trung của rất nhiều yếu tố thuận lợi như vậy, mà ngay cả ở các nước tiên tiến cũng ít người có được, chưa nói đến Việt Nam.
Thành tích của Ngô Bảo Châu một lần nữa chứng tỏ người Việt Nam có khả năng trí tuệ không kém gì thế giới. Nếu chúng ta còn đạt được ít thành qua, đó là do môi trường và điều kiện còn quá thiếu thốn. Nhưng tôi tin rằng, trong tương lai, khi nền kinh tế của Việt Nam mạnh lên, cùng với nền tảng văn hóa chung và khoa học công nghệ mạnh lên, sẽ có không ít người Việt Nam đạt đến đỉnh cao thế giới trong khoa học cũng như trong các lĩnh vực khác.
2. Có thể nói rằng đang có một “cơn sốt Ngô Bảo Châu” ở Việt Nam. Theo ông thì phải làm thế nào để những nguồn cảm hứng như Ngô Bảo Châu có một tác động tích cực và dài lâu tới sự phát triển của khoa học trong nước, chứ không chỉ bùng lên rồi tắt lịm như việc người ta hâm mộ một ngôi sao nhạc pop?
Hiện tượng Ngô Bảo Châu sẽ làm cho Việt Nam phấn chấn và quan tâm hơn đến khoa học, và đây là điều rất đáng mừng. Việc Chính Phủ phê duyệt đầu tư hơn 600 tỷ đồng cho chương trình trọng điểm toán học có lẽ một phần nhờ vào “hiệu ứng Ngô Bảo Châu”, và tất nhiên điều này có lợi cho sự phát triển của toán học Việt Nam.
Tuy nhiên, như người ta nói, “một con én không làm nên mùa xuân”. Để có được một “mùa xuân” cho nền khoa học Việt Nam, thì một vài con én như Ngô Bảo Châu chưa đủ. Cái quan trọng nhất là phải có chiến lược và cơ chế tốt, mới có thể thúc đầy khoa học phát triển. Nếu như nền khoa học của chúng ta còn phát triển quá chậm trong vòng 35 năm qua kể từ ngày thống nhất đất nước, thì là do chúng ta đã có nhiều sai lầm về chiến lược và cơ chế. Theo tôi ước tính, hiện tại các nhà khoa học ở Việt Nam mới chỉ tận dụng được khoảng 30% công suất lao động tiềm năng, tức là để lãng phí khoảng 70% khả năng. Cần cải cách mạnh về cơ chế, thay đổi cách quản lý, minh bạch hơn, năng động hơn, chú trọng chất lượng và hiệu quả hơn, coi trọng những người thực tài hơn là những người “leo quan”, tạo môi trường thích hợp cho khoa học công nghệ phát triển, thì nó mới phát triển mạnh được.
Một điểm tôi muốn nhấn mạnh, là cần đặc biệt chú trọng nâng đỡ thế hệ trẻ, vì tương lai của đất nước. Những người trẻ và có trình độ thực sự và tâm huyết cần được chú trọng hướng vào các vị trí quan trọng càng sớm càng tốt, để có thể “thay máu”, giúp Việt Nam chóng phát triển, không để phí phạm thêm một thế hệ. Điều này đã xảy ra ở một vài nơi, ví dụ như các trưởng phó khoa của Khoa Toán ở ĐHQGHN đều còn trẻ. Tuy nhiên, ở Việt Nam vẫn còn nặng các hủ tục như “lâu lên lão làng”, hoặc đấu đá quyền lực, và nhiều người trẻ và có trình độ cao vẫn cứ “đợi đấy”. Nhưng đợi đến lúc “đủ tuổi” thì cũng cạn sức rồi, còn thay đổi được gì nữa.
3. GS Ngô Bảo Châu khởi đầu con đường học vấn ở trong nước, nhưng phần lớn thời gian trưởng thành khoa học của ông đều ở nước ngoài. Theo ông, với thực trạng giáo dục và khoa học Việt Nam hiện tại, chúng ta có thể tạo ra những nhà khoa học ở tầm quốc tế như thế? Tại sao?
Việc tạo ra các nhà khoa học tầm quốc tế trong hoàn cảnh Việt Nam hiện tại là rất khó (trừ khi có những thay đổi lớn thì cũng cần phải nhiều năm sau mới có một thế hệ đông đảo các nhà khoa học tầm quốc tế). Thực tế hiện tại đã chứng tỏ điều đó.
Không có định nghĩa chính xác thế nào là “tầm quốc tế”, nhưng nếu tính “tầm quốc tế” là có ít nhất 100 nhà khoa học thế giới biết và quan tâm đến công trình của mình, thì số người làm khoa học ở Việt Nam đạt tầm quốc tế còn rất khiêm tốn, có lẽ chưa đầy 100. Ngay ngành toán, có thể coi là ngành mạnh nhất Việt Nam với nhiều công bố quốc tế nhất, cũng có chưa đầy một chục người đạt mức có trên 100 nhà khoa học khác trích dẫn công trình của mình. Trong khi đó, để trở thành một nước mạnh về khoa học, thì cần có hàng nghìn hay hàng vạn người như vậy.
Để đạt được đến tầm quốc tế về khoa học trong điều kiện hiện tại của Việt Nam rất là khó, và những người đạt được có thể phong là “anh hùng”, bởi làm việc trong điều kiện như vậy mà vẫn đạt được, thì phải có tư chất và cố gắng hơn nhiều so với các đồng nghiệp ở nước ngoài đạt kết quả tương tự. Thế nhưng đồng thời đây cũng là sự phí phạm, vì vẫn những “anh hùng” đó, nếu làm việc trong điều kiện tốt hơn, thì họ sẽ không chỉ đạt tầm quốc tế, mà còn có thể lên cao hơn nữa.
Để đạt tẩm quốc tế, tài năng bẩm sinh và sự ham mê khoa học mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa phải điều kiện đủ, mà còn cần thêm các điều kiện tương tự như Ngô Bảo Châu có được, có thể không ở mức mà Ngô Bảo Châu có được, nhưng cũng không thể ở mức quá tồi. Ví dụ như:
- Nền tảng văn hóa và giáo dục chung (ở Việt Nam còn thấp)
- Sống được đàng hoàng bằng nghề làm khoa học, không phải lo nghĩ về cơm áo gạo tiền, có thể tập trung làm khoa học (ở Việt Nam chưa có, trừ những người có nguồn thu nhập khác)
- Có thầy bà tốt (ở Việt Nam cũng khó có được, vì trong số các giáo sư ở Việt Nam cũng mới chỉ có ít người đạt tầm quốc tế)
- Làm việc trong một nhóm nghiên cứu mạnh, có điều kiện thường xuyên trao đổi với các đồng nghiệp giỏi đang cùng mối quan tâm (nhiều người ở Việt Nam làm việc trong điều kiện cô lập thiếu người chia sẻ, nên dễ đi vào ngõ cụt).
- Làm những vấn đề quan trọng, được nhiều người quan tâm. (Chiểu theo các chỉ số trích dẫn của các công trình đăng tạp chí quốc tế của tác giả Việt Nam, thì phần lớn các công trình của Việt Nam thuộc loại có ít người quan tâm)
- Có đầy đủ điều kiện về máy móc dụng cụ để nghiên cứu, v.v.
Để đạt được tất cả những điều kiện đó, cần có các chính sách chiến lược sáng suốt và một quá trình dài phát triển liên tục trong vòng ít ra mấy thập kỷ, chứ không thể nóng vội muốn “đại nhảy vọt”, “đi tắt đón đầu” trong vòng ít năm.
4. Vừa qua, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã tới thăm gia đình Ngô Bảo Châu và có lời mời GS về Việt Nam làm việc. Theo GS Nguyễn Tiến Dũng, thì chính sách trọng dụng nhân tài – đặc biệt là những nhân tài đang làm việc ở nước ngoài – hiện nay của Việt Nam cần phải đi vào những nội dung thiết thực nào để phát huy được hiệu quả cao nhất, chứ không chỉ dừng lại ở một vài hình thức bề ngoài?
Nhiều nước đang phát triển sẵn sàng bỏ ra nhiều tiền để thu hút chuyên gia giỏi từ các nơi đến làm việc. Ví dụ, ở Brasil đang tuyển một một số chân phó giáo sư toán với mức lương đến 8 nghìn USD một tháng, và ứng cử viên có thể mang bất cứ quốc tịch nào. Để có thể cạnh tranh với các nước khác, thu hút được người tài, thì Việt Nam cũng phải có những chính sách hẫp dẫn. Không được đến 8 nghìn USD một tháng, thì cũng phải được ít ra vài nghìn cộng với các phụ cấp nhà cửa đi lại v.v.
Hiện tại tôi chưa thấy Việt Nam có chế độ đãi ngộ hấp dẫn với các chuyên gia Việt Kiều (trừ một vài trường hợp đặc biệt mang tính tuyên truyền). Những người như tôi khi đi công tác các nước khác thường được trả thù lao đàng hoàng, nhưng khi về Việt Nam giúp đỡ các sinh viên và đồng nghiệp thì là làm không công và thậm chí phải chi thêm tiền túi, vì đối tác ở Việt Nam dù là những nơi uy tín nhất về khoa học cũng chỉ trả được một ít tiền tượng trưng không đủ trang trải chi phí. Tôi nghĩ cần thay đổi điều này, có chính sách tốt hơn cho việc thu hút chuyên gia Việt Kiều cũng như chuyên gia người nước ngoài đến Việt Nam làm việc.
Vấn đề tiếp theo là, mang người tài vào Việt Nam rồi thì làm gì ? Theo như tôi ước tính, công suất tiềm năng của giới khoa học Việt Nam mới chỉ được sử dụng ở mức 30%, tức là ngay cả những người tài có sẵn trong nước còn chưa được sử dụng thích đáng, vậy mang thêm người về có thừa không ? Theo tôi thì không thừa. Sử dụng công suất 30% không phải là vì Việt Nam thiếu việc để làm, mà là vì môi trường dẫn đến hiệu quả làm việc kém, chứ các vấn đề cần nghiên cứu ở Việt Nam không thiếu, trái lại rất nhiều không đủ người mà nghiên cứu. Bởi vậy song song với việc nâng cao hiệu quả lao động của người trong nước, việc có thêm chuyên gia Việt Kiều hay người nước ngoài về nước cũng là yếu tố cần thiết cho Việt Nam phát triển.
Các chuyên gia Việt Kiều hay nước ngoài có thể đem lại những thứ quí báu như:
- Cung cách làm việc mới, quản lý mới
- Các giải pháp mới cho những vấn đề tồn đọng ở Việt Nam
- Giúp Việt Nam xây dựng chiến lược phát triển
- Các hướng nghiên cứu mới, thiết thực hơn, hay được thế giới quan tâm hơn
- Nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu ở Việt Nam
- Thiết lập các quan hệ quốc tế
Để phát huy được những điều trên, các chuyên gia từ nước ngoài cần được tạo điều kiện để có thể tự do phát huy khả năng của họ, chứ nếu họ cũng bị “trói chân trói tay” theo những cơ chế bất hợp lý của Việt Nam, thì sự hiện diện của họ ở Việt Nam cũng sẽ bị rất lãng phí, kém hiệu quả.
Trung Quốc có chiến lược mời các nhà khoa học Hoa Kiều ở nước ngoài đang độ tuổi sung sức (trên dưới 40) về Trung Quốc để làm lãnh đạo các viện hay các nhóm nghiên cứu, với các chính sách rất hấp dẫn (ví dụ trả lương cao ít ra tương đương phương Tây và thưởng ngay 100 nghìn USD hoặc hơn cho những ai đồng ý về Trung Quốc). Trong điểm này và nhiều điểm khác, Việt Nam cần học tập Trung Quốc. Không phải vô cớ mà họ luôn phát triển nhanh hơn Việt Nam về kinh tế mỗi năm vài phần trăm trong mấy thập kỷ qua.
5. Thông tin việc Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tới thăm và có lời mời đối với GS Châu – người đang rất nổi tiếng với công trình chứng minh Bổ đề Cơ bản và (lúc đó) hầu như chắc chắn được trao huy chương Fields – được báo chí đăng tải rộng rãi. Còn nhiều nhà khoa học tài danh khác ở nước ngoài, họ có nhận được những sự quan tâm như vậy không?
Đây là lần đầu tiên có người Việt Nam được giải thưởng lớn như vậy, nên sự quan tâm đặc biệt của chính phủ là dễ hiểu. Theo tôi biết, ở các nước đã từng được nhiều giải thưởng lớn, các nhà khoa học cũng được chính phủ gửi lời chúc mừng, nhưng không đến mức “đình đám” như ở Việt Nam.
6. Một trong những bất cập lớn nhất hiện nay là chế độ đãi ngộ – hay nói cụ thể là đồng lương cho các nhà khoa học. Một giáo sư tài danh của Việt Nam ở nước ngoài chắc chắn không thể về nước làm việc với mức lương vài triệu đồng, một nhà khoa học trong nước cũng không thể tập trung 100% tâm lực cho công tác nghiên cứu với mức lương ấy, vậy thì chúng ta phải giải quyết bất cập này như thế nào?
Tôi đã có viết một bài dài, về vấn đề tài chính trong đại học và nghiên cứu khoa học, đăng báo Tia Sáng đầu năm nay. Như người ta nói, “tiền nào của đấy”, lương vài triệu một tháng mà đòi đạt tầm cỡ quốc tế, thì còn khó tin hơn chuyện viễn tưởng. Một số cải cách mà tôi đề nghị đưa ra là:
- Cải cách (hay xây dựng lại) một cách cơ bản cơ chế quản lý tài chính trong đại học & nghiên cứu khoa học, đầu tư thêm tiền và cho thêm các đơn vị quyền tự chủ cao hơn, xóa bỏ các luật lệ cổ hủ từ thời bao cấp.
- Tính lại công suất lao động của giới đại học và khoa học, giá trị của các giờ lên lớp, giá trị của công việc đào tạo từng sinh viên, và giá trị của công việc nghiên cứu, qua đó trả lương xứng đáng với công suất lao động của giới đại học và khoa học. Theo các tính toán của tôi, công việc đào tạo một sinh viên trung bình phải được tính là có giá trị về kinh tế khoảng hơn 2 nghìn USD một năm (mới chỉ là 1/10 so với thế giới), chứ không chỉ có vài trăm USD một năm như đang được tính hiện nay. Vì chúng ta đang tính giá trị đào tạo sinh viên quá thấp so với thực tế, nên hệ quả là các trường đại học được đầu tư quá ít và trả lương cho giảng viên quá thấp (trừ một vài đại học tư). Trung bình một giảng viên đại học ở Việt Nam hiện tại có công suất lao động gần 30 nghìn USD một năm, và phải được hưởng thu nhập trung bình 10 nghìn USD một năm mới xứng đáng với công suất lao động đó, thay vì không đến 3 nghìn USD một năm kể cả phụ cấp như hiện nay.
- Để tránh chuyện ghen tị giữa các ngành, ngành đại học và khoa học không nhất thiết cần đòi tăng lương cơ bản (mà lương chính thức nay đã thấp ở mức chỉ còn là “tượng trưng”), mà thay vào cần tăng mạnh các phụ cấp: như phụ cấp giảng dạy và phụ cấp nghiên cứu, để đảm bảo thu nhập của người trong ngành, đặc biệt là những người tích cực làm việc và có hiệu quả thì cần đãi ngộ cho họ thật tốt dưới các hình thức phụ cấp và tiền thưởng. Ngoài việc cần có cải cách chung và mạnh mẽ về chính sách lương bổng cho toàn đất nước, từng ngành cần tìm những giải pháp cho mình.
- Đẩy mạnh sự kết nối giữa nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng, giữa các trường các viện và các doanh nghiệp, qua đó giới khoa học có được các đề tài thiết thực cho sự phát triển của nền kinh tế và đồng thời tăng thu nhập cho người làm khoa học, v.v.
Việc thành lập quĩ NAFOSTED, qua đó những người làm khoa học có kết quả tốt có thể có phụ cấp nghiên cứu khá lớn, là một hướng phát triển tốt. Tuy nhiên chỉ có NAFOSTED thôi thì chưa đủ, cần đẩy mạnh cải cách về quản lý tài chính trong khoa học hơn nhiều nữa.
7. Ông là một người rất quan tâm tới giáo dục trong nước, cũng như quan tâm tới các tài năng Việt ở khắp thế giới. Cách đây ít lâu, ông đã lập một “cơ sở dữ liệu” về các nhà toán học Việt Nam ở nước ngoài, dường như ông muốn có một sự kết nối Việt nào đó ở tầm toàn cầu?
Việt Nam muốn phát triển thì phải hội nhập thế giới. Mục tiêu quan trọng nhất mà Việt Nam cần đặt ra cho mình, không phải là được bao nhiêu giải này hay giải nọ, đứng thứ mấy về môn này hay môn nọ, mà là bắt nhịp được với sự phát triển của thế giới, hòa đồng vào với thế giới, trở thành một nước văn minh lịch sự và có thu nhập ngang bằng nhiều nước tiên tiến, như Đài Loan hay Hàn Quốc, những nước mà cách đây nửa thế kỷ không hơn gì Việt Nam, đã đạt được. Sự phát triển khoa học công nghệ nằm trong mục tiêu đó, và sự kết nối giữa nền khoa học Việt Nam với toàn cầu cũng nằm trong mục tiêu đó.
Nói riêng về toán học, thì lực lượng người gốc Việt làm toán ở nước ngoài khá lớn, tính về số người thì có khoảng trên 100 người nhưng nếu tính về số kết quả đạt được thì lớn hơn tổng cộng ở trong nước. Họ có thể trở thành động lực lớn cho sự phát triển nền toán học Việt Nam, và giúp Việt Nam thiết lập nhiều quan hệ với thế giới, nếu Việt Nam có được các chính sách hấp dẫn để lôi kéo họ. Đó là điều mà không chỉ riêng tôi, mà rất nhiều đồng nghiệp người Việt ở trong và ngoài nước mong muốn. Có nhiều nhà toán học Việt Kiều có tiếng, như Lê Dũng Tráng, Lê Tự Quốc Thắng, Vũ Hà Văn, Phạm Hữu Tiệp, Đinh Tiến Cường, Vũ Kim Tuấn, Đinh Thế Lục, v.v. cũng đang cố gắng kết nối Việt Nam với toàn cầu về toán học.
8. Vừa qua có một số chuyển động khá quan trọng đối với nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, chẳng hạn như sự ra đời của quỹ Nafosted, hay dự án thành lập Viện nghiên cứu và đào tạo cao cấp về toán, ông có cho rằng đó là những chuyển động tích cực? Và là một nhà khoa học đang làm việc tại nước ngoài, ông sẽ tham gia vào những chuyển động ấy ở tầm mức nào?
Quĩ NAFOSTED là một bước đi đúng đắn trong chính sách phát triển khoa học của Việt Nam. Đặc biệt là sự minh bạch của quĩ, là điều “chưa từng có” ở Việt Nam. Hiện tại quĩ mới chỉ quản một phần khá nhỏ (không quá 5% ?) đầu tư của nhà nước cho nghiên cứu khoa học ở Việt Nam. Theo tôi nên tăng tỷ lệ tài chính cho quĩ quản lý lên, vì đây là cách quản lý hiệu quả và có trách nhiệm.
Việc thành lập Viện nghiên cứu đào tạo cao cấp về toán là một thuận lợi cho nền toán học Việt Nam. Nó đóng góp được đến đâu, còn phụ thuộc vào chiến lược và cách quản lý của viện. Nền toán học Việt Nam có một số điểm mạnh, nhưng cũng còn nhiều điểm rất yếu, đặc biệt là trong việc ứng dụng toán học, và các ngành cần thiết nhiều cho ứng dụng tại thời điểm hiện tại, và chưa có một Viện Toán Ứng Dụng nào xứng đáng tầm cỡ quốc gia. Tôi hy vọng rằng sẽ có một viện toán ứng dụng mạnh ở Việt Nam, hoặc ít ra “Viện nghiên cứu đào tạo cao cấp về toán” sẽ chú trọng nhiều hơn đến các ứng dụng của toán học.
Việc tôi tham gia vào các chuyển động ở Việt Nam đến tầm nào còn phụ thuộc vào việc phía Việt Nam có thấy cần tôi hay không, có mời tôi tham gia hay không. Bản thân tôi, nếu được mời tham gia làm những gì mà tôi thấy thực sự có nhiều ý nghĩa cho đất nước thì tôi luôn sẵn sàng tham gia. Gần đây tôi có tham gia vào ban điều hành của chương trình hợp tác Pháp-Việt về toán. Việc tôi đang cố gắng làm tại thời điểm hiện tại là giúp Việt Nam xây dựng các chiến lược và chính sách, cơ chế tiến bộ, thích hợp, thuận lợi cho việc phát triển khoa học cũng như ứng dụng khoa học công nghệ vào các vấn đề thiết thực của đất nước. Ví dụ, tôi đã vận động để các chuyên ngành xác suất thống kê và toán kinh tế tài chính trở thành những trọng điểm trong chiến lược phát triển toán học Việt Nam trong giai đoạn tới, vì đây là những chuyên ngành toán ứng dụng đang rất cần thiết cho Việt Nam nhưng lại đang có quá ít chuyên gia Việt Nam, tuy rằng bản thân tôi xuất phát điểm là làm toán lý thuyết chứ không phải là làm về những chuyên ngành này.
Nguồn: http://zung.zetamu.com/?p=1872

Monday, 23. August 2010
Cũng giống như việc khai thông bế tắc của khoa học và giáo dục nước nhà bấy lâu, Giáo sư Baỏ Châu đã thổi luồng sinh khí mới cho thế hệ trẻ vững tin cho con đường khoa học, con đường nhiều khó khăn nhưng sẽ có thành quả xứng đáng với những nỗ lực và tâm huyết , Gs Châu đã đưa đất nước đến với đỉnh cao khoa học thế giới , nhưng công ấy , thành quả ấy cũng là đóng góp âm thầm của các nhà giáo ,Giáo sư tâm huyết ,của người vợ và gia đình. Hy vọng rằng tới đây Viện toán học sẽ lại có những tài năng kế tiếp, Việt Nam sẽ có nền khoa học cơ bản phát triển .
Trân trọng cảm ơn tiếng nói của các Ts, Gs luôn dành tâm sức cho dân ,cho nước cho khoa học.
Tuesday, 31. August 2010
Chúc mừng và cảm ơn giáo sư Ngô Bảo Châu.
Bên cạnh đó, tôi cũng hơi lo cho sắp tới: nếu người người học toán, nhà nhà học toán thì còn có cái để mà tính toán không! Cầu cho chỉ là lo bò trắng răng.
Wednesday, 1. September 2010
Xin giáo sư đổi lại tên Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam tên là Lê Tuấn Hoa ạ. Kính chúc giáo sư sức khỏe, niềm vui.
Wednesday, 10. November 2010
Việc Ngô Bảo Châu đạt giải Field thì khỏi bàn rồi. Anh dành tiền thưởng cho quỹ khuyến học mang tên anh (15000$ canada) nhưng khi được tặng căn nhà 12 tỷ đồng (600.000 USD) thì anh lại nhận luôn. Vậy bạn đọc nghĩ sao về hai mặt của một vấn đề.