Tuesday, October 12th, 2010 | Author:

ndh_vuive

BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG – Phần 11

**********

Đi khắp Nam Bắc Trung tìm nghiên cứu sinh

Bắt đầu từ ngày (1991) rời phòng thẫm vấn của công an là tôi như người bị mọc đuôi. Tôi có cảm giác có người theo dỏi tôi, nhất cử nhất động của tôi là có người đi theo quan sát, lúc ẩn lúc hiện.

Sống ở Sài Gòn, về Đà Nẳng, ra Hà Nội, lúc nào cũng thấy như có người hộ tống, “bảo vệ an ninh cho tôỉ”. Công an họ bảo với tôi như vậy khi tôi có dịp gặp lại họ trong những buổi thẫm vấn khác sau này. Trong quán cà phê toạ lạc ở góc đường nhìn thẳng về ngõ ra vào nhà anh vợ tôi, hình như luôn có người túc trực chỉa mắt tò mò dòm tôi mỗi khi ra vào. Một anh bạn người đồng hương với tôi, một nhà sử học, điện thoại cho tôi hay là công an đã gặp ông và yêu cầu ông không nên tiếp tục đi uống bia với tôi như dạo trước. Tôi buồn thêm năm phút. Giải trí của tôi là lâu lâu gặp các nhà thức giả, trao đổi thông tin, bàn chuyện tào lao để trút bớt “stress”. Chút giải trí lành mạnh như vậy mà tôi cũng bị tước đoạt. Ông anh vợ, nguyên là một bác sỹ quân y trước 75, cho tôi hay là công an khu vực cũng có triệu anh ấy lên làm việc. Họ cho anh ấy biết tôi là thành phần có vấn đề, nên coi lại việc cho tôi tá túc. Cũng may, anh ấy rất khẳng khái và tốt bụng:

- “Nó là chồng em tôi, nó về công việc túi bụi chỉ có đi giảng bài, soạn dự án, ngày đi sớm vào văn phòng tại Đại học Bách khoa, tối về trễ, chẳng có gì là đặc biệt. Còn giao tiếp thì chỉ mấy ông giáo sư các trường đại học, các học trò cao học. Nó không ưa ở khách sạn, thích ở nhà, gần bà con cho vui, chúng tôi cũng thích nó, tôi không thấy cần phải đổi khác”.

Có một ông anh họ vợ tôi ít học, nguyên là dân quân du kích, sau này cũng trong ngành công an, bây giờ nâng cấp đổi ngạch lên làm nội chính, là hơi gay gắt. Vì không quen uống nhiều bia, trong những buổi nhậu, sau hai cốc là tôi xin phép rời bàn tiệc. Ông này có vẻ không vui cho tôi là làm cao, làm phách. Ông biết hồ sơ của tôi và luôn luôn đánh tiếng tôi là thành phần không đáng thân thiện. Ông học rất thuộc bài học đấu tranh giai cấp. Ông ra câu hỏi:

- “Có ai biết tại sao trí thức là thành phần bất hảo không?”

Rồi ông tự trả lời cho mọi người nghe:

- “Vì chúng nó có cái đầu giống con tôm, cái đầu toàn là cứt”.

Nghe vậy tôi hơi bị choáng. Phản phất ở đây, tôi bắt gặp câu nói nỗi tiếng của Mao Trạch Đông, đã được Việt Nam hoá mà có lẽ ngành công an Việt Nam đã dày công học tập. Chỉ có cô bạn cũ của vợ tôi, cũng dính đến ngành công an, trước 75 từng học văn khoa Sài Gòn, là làm tôi yên lòng :

- “Anh Hưng ơi, em biết chuyện anh. Không sao đâu, chưa có gì trầm trọng, anh cứ làm những công việc đã dự định, anh cứ yên tâm”.

Tiện đây tôi cũng nói thêm về cái đuôi công an. Sang năm 1998, được mời mọc ân cần, tôi đồng ý mở thêm một văn phòng đào tạo trong khuôn viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội, với sự cộng tác của 5 trường Đại học Hà Nội và 4 trường Đại học Bỉ, chương trình MCMC (Modélisation et Calcul de Milieux Continus). An ninh Hà Nội cũng chẳng để tôi yên. Nguyên tôi hay giao lưu với các nhà thơ, nhà văn Hà Nội nhờ sự giới thiệu của hoạ sỹ Trương Thảo và nhà thơ Hoàng Gia Cương. Tôi đã từng tham gia một tuyển tập thơ in chung với các thành viên của Hội thơ Tràng An. Một hôm, một đồng nghiệp giảng dạy tại trường Bách khoa, có tham gia phụ trách một giáo trình của chương trình cao học quốc tế do tôi đề xướng, bảo tôi là giới anh ninh có thăm viếng và gợi ý cho ban Giám hiệu là tôi nên nghỉ chơi với đám văn nghệ sỹ. Lý do đưa ra là đám này rất phức tạp, không có lợi cho việc hợp tác giáo dục đào tạo mà tôi đang triển khai tại Hà Nội. Sau một đêm suy nghĩ tôi bảo với ông này:

- “Ở Hà Nội tôi không có bà con thân thích. Mỗi năm hai lần về Hà Nội nằm khách sạn mỗi lần ba tuần lễ, tôi chỉ có thú vui là lâu lâu đi gặp các nhà thơ, nhà văn đàm đạo văn chương chữ nghĩa giải buồn. Việc bắt tôi tuyệt giao với họ là đụng chạm đến quyền cá nhân của tôi. Các người phải chọn lựa. Hoặc tôi đóng cửa văn phòng cao học bỏ về Sài Gòn, hoặc các vị để tôi yên, thích ai là tôi giao lưu thoải mái, tôi có làm gì hại cho ai đâu, và chẳng ai có thể lung lạc được tôi”.

Mấy ngày sau ban Giám hiệu trả lời tôi là an ninh không làm phiền nữa đâu, tôi cứ bình thường. Vậy mà lâu lâu một nữ công an vẫn cứ mò lên văn phòng tôi, hỏi thăm sức khoẻ. Tôi thường nói:

- “Tôi tiếp bà nửa tiếng thôi nhé, tôi quá bận, sau giờ giảng lại phải tiếp sinh viên”. Trên thực tế cũng chẳng có việc gì phải khai báo cả, mọi việc tôi làm đều có trong văn bản. Tôi có cảm tưởng công an thường trực ăn luơng mà quá rãnh rỗi, không có việc làm, phải làm linh tinh cho có chuyện. Và trong cái cảnh nhọc nhằn liên tục như vậy mà tôi phải tiếp tục kéo dài triển khai việc giảng dạy đào tạo tại Hà Nội được những mười năm, có cả trăm học viên tốt nghiệp thạc sỹ quốc tế thứ thiệt !

Trở lại niên khoá 1991-92, chương trình giảng dạy được triển khai khá suông sẻ. Xong phần lý thuyết, trong lúc phần bài tập được ông de Saxcé phụ trách đang triển khai thì tôi đánh một vòng thăm hỏi các trường tham gia dự án, từ Nam chí Bắc qua Trung. Nhân dịp này tôi cũng được các đồng nghiệp giới thiệu gặp gỡ rồi thực hiện các cuộc phỏng vấn sinh viên. Đây là những ứng viên sẽ được tài trợ nghiên cứu khoa học tại chỗ do chúng tôi hướng dẫn. Vì công nghệ sẽ chuyễn giao là công nghệ tính toán mô hình, mô phỏng liên quan đến máy tính, toán học, cơ học, đến các ngành xây dựng, kiến trúc, thủy lợi, hàng không…, chúng tôi có một mặt bằng giao lưu khá rộng tại Việt Nam. Tại Sài Gòn đó là các trường Bách Khoa (ĐHBK TP HCM), Khoa học Tự Nhiên, Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức, Kiến Trúc, Giao Thông Vận tải, viện cơ học.. Tại Đà Nẳng chỉ có trường ĐH Bách khoa. Tại Hà Nội thì khá đông: Bách Khoa, Xây Dựng, Giao Thông, Kiến Trúc, Thủy Lợi, Viện Cơ học Việt Nam… Đến đâu chúng tôi cũng được tiếp rước ân cần niềm nỡ, từ lãnh đạo nhà trường cho đến các đồng nghiệp… Các trường Đại học Việt Nam đang đói thông tin, đang khát giao lưu quốc tế, nhất là các nước Tây phương có công nghiệp phát triển. Các nghiên cứu sinh, các giảng viên trẻ đang chờ có dịp đi du học. Trường nào cũng khuyến dụ, mời mọc chúng tôi về triển khai các dự án mới. Chính nhờ mối bang giao rộng rãi này mà chúng tôi có một cái thế khá vững, không cho phép các đối tác làm khó dễ chúng tôi. Nếu cần, tôi gián tiếp cho họ hay là chúng tôi sẳn sàng thay đổi đối tác chính nếu xảy ra bất đồng mà không có cách giải quyết thoả đáng. Mà đối với chúng tôi, bất đồng thường chỉ là việc không làm theo như dự án đã đề ra, không cho phép học viên giỏi hưởng học bổng và được xuất ngoại. Chúng tôi chỉ muốn các đối tác Việt Nam cùng chúng tôi tôn trọng những giá trị phổ quát áp dụng ở khắp nơi trên thế giới, những chuẩn mực cần thiết tối thiểu cho một chương trình đào tạo đại học.

Tôi hẹn với các ứng viên là sẽ gặp lại tại Sài Gòn ngày tuyển sinh. Chúng tôi chỉ có 10 học bỗng tại chỗ mà ứng viên lại quá đông. Chỉ có cách tổ chức tuyển sinh công khai mới bảo đảm tính công bình trong việc lưa chọn. Đợt ấy Sài Gòn có 6 nghiên cứu sinh được chọn, Đà Nẳng một, Hà Nội ba.

Chọn người trao học bổng không dễ tại Việt Nam

Còn một việc quan trọng nữa là phải chọn một nghiên cứu sinh sang Bỉ làm luận văn thạc sỹ sau một năm du học. Cái khó nhất là chọn cho được người đầu tiên một cách công bình thoả đáng . Những năm sau thì không thành vấn đề vì đã có 10 nghiên cứu sinh tại chỗ, cuối năm đọc báo cáo khoa học của họ, kiểm tra lại qua một đợt phỏng vấn trực tiếp là sẽ chọn được người thôi. Người đi đầu tiên phải là một giảng viên của trường ĐH Bách Khoa TP HCM vì đây là địa bàn chính cho việc triển khai hợp tác. Nhưng ngay tại đây cũng có nhiều giảng viên trẻ được các đồng nghiệp giới thiệu. PGS Phan Ngọc Châu tạo điều kiện cho chúng tôi gặp một giảng viên tên T., không trẻ lắm, tuổi trên 30, chưa bao giờ được đi đâu trong bộ môn “Sức bền Vật liệu” của ông. Trước đây đã có khá nhiều học bổng đi Liên Xô hay các nuớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Nhưng ứng viên này bị truợt mãi không đi được. PGS Châu cho tôi biết lý do: Giảng viên này có lý lịch không nằm trong chính sách của nhà cầm quyền… Anh ta có người cha trước 75 làm cho Trung tâm Văn hoá Pháp tại Sài Gòn, tổ chức có yếu tố nước ngoài phương Tây. Đối với chúng tôi đây lại là ưu điểm: Được cha dạy dỗ, T. nói và đọc tiếng Pháp khá lưu loát. Sau khi trắc nghiệm chuyên môn lý thuyết và thực hành, tôi bàn với ông de Saxcé và chúng tôi đi đến quyết định chọn T. Cái khó cho chúng tôi là lãnh đạo nhà trường muốn giới thiệu một người khác tên Đ. Tuy nhiên, Đ. không đạt được tiêu chuẩn ngoại ngữ và chuyên môn sau trắc nghiệm. Sau khi lên kế hoạch và viết văn bản chính thức đề nghị với đối tác, chúng tôi chờ mãi không thấy chữ ký của ban Giám hiệu cho phép em T. lên đường đi Bỉ. Đến tháng 11 mà không có quyết định là học bổng sẽ bị hủy. Tôi giải thích với nhà trường nguyên tắc tuyển sinh của chúng tôi là nguyên tắc căn bản tại Châu Âu, dựa trên thực lực của đối tượng, không dựa trên lý do thân nhân hay chính trị. Nếu nhà trường không đồng ý cho em T. đi du học thì Đại học Liège buộc phải thôi không chọn ai cả và học bổng sẽ bị thu hồi. Cuối cùng T. cũng được lên đuờng đi Bỉ. Cũng xin ghi là sau khi đậu thạc sỹ tại Bỉ, T. về Việt Nam công tác một năm rồi trở sang lại Bỉ 3.5 năm bảo vệ thành công luận án tiến sỹ đưới sự hướng dẫn của tôi. Hiện nay T. là khoa trưởng một khoa của ĐHBK TP HCM. Còn Đ. thi được cơ cấu lên làm Phó Ban Hợp tác Quốc tế của trường Đại học Quốc Gia TP HCM, cấp trên của ĐHBK.

Đây là sự cố khó xử đầu tiên đã xảy ra khi có vấn đề quyền lợi. Cũng may tuy cương quyết, không thoả hiệp nhưng chúng tôi đã cư xử hoà nhã và kiên nhẫn để cuối cùng giải pháp hợp lý và thoả đáng đã có được.

Việc so găng giữa thái độ công bằng minh bạch và thói quen đánh tráo quyền lực – quyền lợi sẽ còn tiếp tục mãi về sau cho đến ngày chương trì hợp tác của chúng tôi chấm dứt.

Bây giờ để có một ý niệm cụ thể về các dự án của tôi, tôi xin giới thiệu một bài tôi đã viết cho báo chí Sài Gòn 12 năm sau những sự cố tôi vừa kể, năm 2004.

Sau giai đoạn đào tạo mỗi năm 1 thạc sỹ cho Việt Nam, chúng tôi mở rộng qui mô, đào tạo mỗi năm trung bình 30 thạc sỹ, bắt đầu tư năm 1995, bằng cách xây dựng các trung tâm đào tạo cao học tại chỗ ở Việt Nam nhưng học viên được cấp bằng chính thức của đại học Liège. Bài này tóm tắc những thành quả đạt được, bốn năm trước lúc các chương trình đào tạo chấm dứt vì tôi lấy hưu trí. Trong phần 12 sắp viết, chúng tôi sẽ kể lại những diễn tiến khá ngoạn mục liên quan đến việc xây dựng và triển khai dự án này.

Liège ngày 11/10/2010

Tổ chức du học tại chỗ,

phát bằng thạc sĩ Châu Âu tại Việt Nam

Cuối tháng 5 đầu tháng 6 năm 2004, 2 buổi phát bằng thạc sĩ sẽ lần lượt được tổ chức tại ĐH Bách khoa Hà Nội (31/5/04) và ĐH Bách khoa Tp HCM trong khuôn khổ hai chương trình đào tạo cao học do EU tài trợ bắt đầu từ năm 2001 : chương trình EU-EMMC (European Master Modedlisation of Continuum) tại trường Đại học Bách TP HCM và chương trình EU-EMMD (European Master in Modelisation and Design in Engineering Sciences).

Nhân dịp này chúng tôi cũng phối hợp phát bằng cho 3 khoá khác của chương trình thạc sĩ châu Âu về Cơ học xây dựng (EMMC) đã khởi sự từ 1995 tại trường Đại học Bách TP HCM và 2 khoá chương trình tính toán cơ học ứng dụng (MCMC), bắt đầu từ năm 1998 trong khuôn khổ hợp tác liên đại học của 5 trường công nghệ tại Hà Nội (Quốc gia, Bách khoa, Xây dựng, Kiến trúc, Thuỷ lợi) và 4 trường ĐH nói tiếng Pháp tại Bỉ (Liège, Bruxelles, Louvain và Mons)…

Như vậy cùng một lúc trên 100 học viên các chương trình cao học Bỉ&Việt từ Bắc chí Nam sẽ được trường Đại học Liège cấp bằng. Cũng cần nói rõ đây là văn bằng chính thức có hiệu lực tại châu Âu, không khác văn bằng của người Bỉ theo học cao học tại Bỉ.

Điểm chung của các lớp đào tạo này là việc xữ dụng các phương tiện hiện đại của tin học trong việc tính toán và thiết kế các công trình xây dựng và cơ khí phức tạp, một khía cạnh quan trọng của công nghệ thông tin.

Nên chăng nhân dịp này nhìn lại những nét chính của bước đường dài, bắt đầu đã hơn 15 năm.

Thật vậy chương trình EMMC (European Master in Mechanic of Construction) đã khơi nguồn từ năm 1989, tức là 3 năm sau chính sách đổi mới ở VN. Chính sách này đã tạo điều kiện cho chúng tôi triển khai những hoạt động hợp tác với Việt Nam.

Chúng tôi còn nhớ lại lòng ưu ái của các nhà lãng đạo trường Bách khoa trong những buổi đầu (1990) khi chúng tôi mang từ Bỉ về chiếc máy tính 386 đầu tiên tặng bộ môn Sức bền vật liệu của trường Đại học Bách khoa. Chúng tôi còn những hình ảnh của ngày ấy. Chính PGS.TS Đào văn Lượng lúc ấy là Trưởng ban hợp tác quốc tế cùng ông Hiệu trưởng trường Đại học Bách Khoa TP HCM (ĐHBK), GSTS Trương Minh Vệ đã đích thân tham dự buổi bàn giao chính thức…

Những kết quả đầu tiên của chúng tôi rất là khiêm tốn. Trong một thời gian 5 năm, với ba đự án được Quỹ Hợp tác đại học được các nước nói tiếng Pháp (FICU) tài trợ, hai dự án được Cộng đồng nói tiếng Pháp ở Bỉ tài trợ (CGRI), chúng tôi đã chỉ có thể đào tạo được bốn thạc sỹ và một tiến sĩ cho ngành Cơ học ứng dụng. Bốn giáo sư VN đã được thực tập tại Bỉ, khoảng ba mươi học bổng tại chỗ đã được phát tại VN cho các nghiên cứu sinh ở Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng.

Với những dự án tầm cỡ nhỏ và ngắn hạn như đã nói, chúng tôi không thể làm hơn những chuyến công tác riêng lẻ, những trao đổi định kỳ, đào tạo thạc sỹ hoặc tiến sĩ cho một vài người.

Việc thành lập của Trung tâm đào tạo Liên Đại học về Cao học được đặt tại ĐHBK-TP.HCM, trong khuôn khổ đề án được Bộ Hợp tác phát triển Bỉ tài trợ vào tháng 7/1995, đã cho phép chúng tôi giúp Đại học Quốc gia TP. HCM đào tạo hàng loạt cán bộ đại học, cấp khoảng mười lăm học bổng mỗi năm tại chỗ cho sinh viên VN, cấp gần trên mười lăm bằng thạc sĩ mỗi năm một cách chính thức, có hệ thống và đều đặn.

Để có điều kiện làm việc tương đương ở Châu Âu, chúng tôi đã cung cấp cho ĐHBK các thiết bị thí nghiệm, máy tính và phầm mềm tin học, sách khoa học cần thiết cho công việc thực tập và chuẩn bị luận văn tốt nghiệp của sinh viên.

Như vậy, từ năm 1995 đến nay đã có 10 khóa cao học về Cơ học trong Xây dựng tại TP HCM (EMMC), 6 khoá cao học về Mô hình tính toán các môi trường liên tục tại Hà Nội (MCMC) với trên 350 sinh viên theo học đều đặn. Hơn phân nửa lớp của 12 khóa đầu đã được trường đại học Lìege của chúng tôi cấp bằng. Căn cứ theo kết quả xuất sắc, gần 20 sinh viên giỏi nhất trong số họ đã được nhận học bổng ngoài đề án để đi thực tập tại Châu Âu hoặc Canada để chuẩn bị Luận án Tiến sĩ. Các thủ khoa của khoá I đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ (Vũ Đức Khôi, Lê Đình Tuân tại Bỉ, Hồ Hữu Chỉnh tại Canada).

Chúng tôi nghĩ rằng cách thức du học tại chỗ này có nhiều ưu tiên không thể chối cải. Về kinh tế, nó ít tốn kém hơn. Về phương diện xã hội, nó cho phép chúng ta tránh được việc làm chảy chất xám sang các nước phát triển. Về thực tế, nó làm cho hiệu quả hơn sự tham gia của nghiên cứu khoa học ở các trường đại học về những đề tài kỹ thuật gắn liền vớiá thực tế ở các nước đang phát triển.

Các chuyến công tác qua lại của hai bên đã làm cho chương trình này trở thành điểm hẹn đặc ưu của tri thức Bỉ về kỹ thuật Xây dựng và Cơ học toán tính. Cũng từ đây những thông tin về nhu cầu kỹ thuật cụ thể ở Việt Nam, nhất là vấn đề nghiên cứu tính toán sức bền của những kết cấu phức tạp (máy bay, tàu, cầu, lò phản ứng hạt nhân, kết cấu giàn khoan, đập, nền móng,…) được có những biện pháp cụ thể giải quyết thông qua các chương trình tính toán vạn năng, đặc biệt là chương trình SAMCEF do Đai học Liège chúng tôi thiết kể và thực hiện từ gần ba thập niên nay.

Chúng tôi nghĩ rằng bằng những sinh hoạt như thế, tức là bằng cách thực hiện chuyển giao công nghệ có hiệu quả, chúng tôi đã mang lại một sự đóng góp khiêm tốn nhưng bổ ích vào việc xây dựng những cơ sở lâu dài và vững chắc cho nền kinh tế của VN, đặc biệt là công nghệ tính toán thiết kế.

BƯỚC PHÁT TRỂN MỚI

Sau hơn 10 năm hoạt động, những thành quả trên đã thuyết phục được các chức trách Cộng đồng Âu châu quyết định năm 2001, qua sinh hoạt của chúng tôi tài trợ giúp Việt Nam phát triển công nghệ thông tin đặc biệt la giúp chúng tôi nâng cao chất lượng nghiên cứu và giảng dạy qua hai chương trình mới, chương trình EU-EMMC tại TP HCM với sự tham gia của các trường Đại học Bách Khoa TP HCM, Liège (Bỉ, Điều phối viên) Delft (Hà Lan) và Montpellier II (Pháp). Chương trình thứ hai có tên EU-EMMD đang triển khai tại Hà Nội có được sự tham gia của các Đại học Châu Âu như sau : Liège (Bỉ, Điều phối viên), Aix-Marseille II (Pháp) và Lulea (Thụy Điển). Phía Việt Nam chúng tôi liên kết được với các 5 trường Đại học như sau : Bách khoa, Quốc gia, Xây dựng, Kiến trúc, Thủy lợi…

Mới đây thôi, cuối năm 2003 một thoả thuận đã được ĐH Liège và ĐH Xậy dựng ký trong khuông khổ kết hợp đào tạo tiến sĩ bằng ngân sách nhà nước Việt Nam. Đây là một án cộng tác liên ĐH bao gồm hầu hết các trường công nghệ kỷ thuật chánh tại Việt Nam và 10 trường ĐH tăm tiếng của Châu Âu… Chương trình này có nhiệm vụ đào tạo cho Việt Nam 50 tiến sĩ về các hướng mủi nhọn của các ngàng xây dụng, cơ khí, hàng không, thuỷ lợi, công trình biển, công trình đất…

Đào tạo tiến sĩ chính là bước đi cần thiết cho việc Việt Nam hoá các chương trình cao học hoạt động bằng ngân sách tài trợ trực tiếp từ Bỉ và Châu Âu. Thật vậy nguồn tài trợ bao giờ cũng giớ cũng sẽ bị giới hạn qua thời gian. Chúng tôi đang chuẩn bi một lộ trình khởi sự từ niên khoá sắp đến (2004-2005) sao cho trong vòng 3 năm chương trình Cao học do chúng tôi khởi xướng sẽ dần dần biến thành một chương trình Việt Nam của người Việt Nam học và do người Việt Nam dạy. Trong giai đoạn chuyển tiếp, ĐH Liège chúng tôi sẽ tiếp tục phát bằng và bảo đảm chất lượng.

Một thoản thuận mới xác định lộ trình này sẽ được đưa ra bàn thảo và ký kết tại Liège Bỉ trong đầu tháng sắp đến…

Những sinh viên tốt nghiệp đã làm gì sau các khoá học ?

Theo con số điều tra sơ bộ của Câu lạc bộ các cựu học viên chương trình cao học Bỉ&việt tại thành phố HCM, hầu hết các học viên tốt nghiệp đềo có vị trí đáng kể trong giới đại học, xí nghiệp, kinh doanh cả nước…

Xin đơn cử vài ví dụ : 7 em cựu hoc viên EMMC tạI TP HCM đã dược nhận làm giảng viên tại trưởng ĐH sư phạm kỹ thuật Thủ Đức, 6 em tại trường ĐH Giao thông Vận tải, 9 em tại trường ĐH Kiến trúc, 4 em tại trường ĐH Bán công Tôn Đức Thắng, 21 em tại trường ĐH Bách khoa… Ngoài ra cũng phải nói các trường ĐH xa hơn như Đồng Nai, Tiền Giang, An Giang, Nha trang (Thuỷ sản), Đà Nẳng, Hà Nội.. đều có bóng dáng của cựu học viên cao học Bỉ&Việt…

Một số khác (30 người) đã được bỗng du học cấp bậc tiến sĩ tại những ĐH tăm tiếng trên thế giới (Mỹ, Anh Pháp, Nhật, Úc, Canada, Hà Lan, Đức, Bỉ…) trong đó 18 người đã nhận học bổng do văn phòng Cao học Bỉ&Việt cấp hay giới thiệu, 22 người đã thi đỗ và đoạt bổng các khoá thi tuyển quốc gia hay quốc tế…

Tìm được chỗ đứng trong xã hội, có được tương lai, phải chăng đây chính là ý nghĩa thiết thực của một chương trình đào tạo công nghệ…

TP Hồ Chí Minh ngày 26/5/2004

You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. Both comments and pings are currently closed.

7 Responses

  1. 1
    Myself 

    Có một ông anh họ vợ tôi ít học, nguyên là dân quân du kích, sau này cũng trong ngành công an, bây giờ nâng cấp đổi ngạch lên làm nội chính, là hơi gay gắt. Vì không quen uống nhiều bia, trong những buổi nhậu, sau hai cốc là tôi xin phép rời bàn tiệc. Ông này có vẻ không vui cho tôi là làm cao, làm phách. Ông biết hồ sơ của tôi và luôn luôn đánh tiếng tôi là thành phần không đáng thân thiện. Ông học rất thuộc bài học đấu tranh giai cấp. Ông ra câu hỏi:
    - “Có ai biết tại sao trí thức là thành phần bất hảo không?”
    Rồi ông tự trả lời cho mọi người nghe:
    - “Vì chúng nó có cái đầu giống con tôm, cái đầu toàn là cứt”.

    Thế nên giáo dục, khoa học nước ta bây giờ thuộc hàng cao nhất từ dưới lên. Họ có xem trọng nhân tài đâu, nhân tài chỉ là feces thôi. Quá tàn nhẫn.

  2. 2
    Quy 

    Mot tam long vang da duoc thu lua. Vang cang sang. Giao su cung vay. Nguoi quan tu va lai bao dung thi khong co gi co the quat do. Xin cam on tam long giao su doi voi nuoc nha. Nhung cau chuyen cua giao su co y nghia rat nhieu doi voi the he tre nhu chung em.

  3. Ba lời bình về bài này trên Blog Nguyễn Xuân Diện
    http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/10/but-ky-cua-gs-nguyen-ang-hung-phan-11.html
    ____
    Nguyễn Hữu Quý nói…

    GS thật là bền bỉ, em rất cảm phục; mặt trái của dân tộc VN là thế, lòng yêu nước có khi lại bị xem là tộ phạm; như là thế hệ trẻ hôm nay nói về HS-TS-VN vậy.
    Vì thế mà, khi Đất nước bị xâm lăng, phải dựa vào hạt lúa của nông dân, may đồ gia công… để mà mua những vũ khí đánh giặc.
    Nếu biết trân trọng những người như GS, thì nay đâu để cho giặc Tàu nó uy hiếp đến như vậy.
    Bao giờ Dân tộc ta mới thức tỉnh đây?
    19:06 Ngày 12 tháng 10 năm 2010
    _____
    Nặc danh nói…

    Sự thành công của chương trình đào tạo liên kết với nước ngoài em nghĩ chủ yếu là do uy tín chuyên môn và trách nhiệm của người sáng lập như thầy Nguyễn Đăng Hưng. Em có học một chương trình dạng liên kết giữa VN và Pháp (thạc sỹ Quản trị chất lương MQM của đại học Nam Toulon Var) mà thất vọng vô cùng, một ông TS người Pháp đồng sáng lập với TS người VN, nhưng quyết đinh tất cả chương trình giảng dạy, môn học…bên VN ko có tiếng nói hay quyết định gì nhiều, các môn học dược giảng dạy phần lớn ko phải gs đại học, và ko nói được tiếng Anh…
    19:37 Ngày 12 tháng 10 năm 2010
    ___
    bui cong tu nói…

    xin da ta giao su nguyen dang hung da hoi am y kien cua toi /doc hoi ky cua giao su va qua mot so bai bao viet ve giao su ,chung toi kinh trong tam long cua ong doi voi dat nuoc va the he tre /dat nuoc cua chung ta vi nhieu nguyen nhan ma den nay linh vuc nao cung bat cap / cho nen su dong gop cua cac tri thuc viet kieu nhu giao su la vo cung quy bau / ca nhan toi mong co mot ngay co cac giao su dang lam viec o nuoc ngoai ve nuoc dam nhiem cac chuc danh bo truong giao duc ,y te ,khoa hoc cong nghe v v/ mot lan nua cam on gs va ts nguyen xuan dien /
    21:52 Ngày 12 tháng 10 năm 2010

  4. Tuyet voi. Thanks!

  1. 5
    Tin 12-10-2010 « BA SÀM (via Pingback)

    [...] – BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG – Phần 11 – Tôi bị công an theo dõi. [...]

  2. 6
    Tin 16-10-2010 « BA SÀM (via Pingback)

    [...] Tiếp theo phần 11 -Tôi bị công an theo dõi – là phần 12 bút ký của GS Nguyễn Đăng Hưng, Việt kiều Bỉ, cựu (tự) ứng cử [...]

  3. [...] Tôi bị công an theo dỏi [...]