Tuesday, October 19th, 2010 | Author:
Lãnh sự Bỉ tại Sài Gòn Henri Pìrard và Hiệu trưởng ĐHBK cắt bănh khánh thành văn phòng Cao học Bỉ-Việt

Lãnh sự Bỉ tại Sài Gòn Henri Piérard và Hiệu trưởng ĐHBK Trương Minh Vệ cắt bănh khánh thành văn phòng Cao học Bỉ-Việt

BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG – Phần 13

**********

Tôi về Việt Nam triển khai dự án qui mô đào tạo thạc sỹ

Người đầu tiên được tôi cho hay thông tin về việc “Dự án du học tại chỗ” của tôi được tài trợ là nghiên cứu sinh Việt Nam T., giảng viên Đại học Bách Khoa Sài Gòn được tôi chọn sang Bỉ sửa soạn luận án tiến sỹ trong khuôn khổ dự án nhỏ đã nói đến trước đây do Cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp (CGRI) tài trợ. Tôi sang phòng bên cạnh đưa cho T. một bản sao dự án rồi bảo:

- “ Thầy mới có được tin vui! Dự án này vừa được tài trợ. Em cố gắng kết thúc nhanh luận văn để sớm về Việt Nam giúp thầy triển khai. Đối tác chính tại Việt Nam Đại học Bách Khoa Thàng phố Hồ Chí Minh (ĐHBK), Khoa xây Dựng, nơi em công tác. Em xem cho kỷ rồi bàn với thầy các phương thức cụ thể tại Việt Nam”.

Tôi hy vọng T. sẽ là một cộng tác viên đắc lực vì vừa là người trong cuộc tại Sài Gòn, vừa đang được Đại học Liège đào tạo bài bản. Như tôi đã nhắc trong chương trước, cách đây hai năm T. đã được tôi đem sang Bỉ học cao học và đã tốt nghiệp thạc sỹ tại Bỉ.

Ngày hôm sau T. xin vào hầu chuyện tôi và trả lời:

-“ Thầy ơi không được đâu thầy. Tại Việt Nam khó lắm, thầy sẽ không thể nào triển khai được đâu. Em đề nghị thầy nên xếp lại đi, phát triển đào tạo cao học có trình độ quốc tế tại Việt Nam chỉ sẽ là ảo vọng”.

Thú thật tôi rất ngạc nhiên trước nhận định của T. Tôi biết là khó chứ ảo vọng thì tôi không thể chấp nhận. Tôi bất ngờ về lời bình của T. và tôi hiểu ngay là tôi không thể trông cậy gì ở sự giúp đỡ cộng tác của T. Tôi ôn tồn bảo T.

-“ Thôi em về phòng tiếp tục làm luận văn của em đi. Thầy sẽ triển khai một mình, thầy sẽ không làm phiền em đâu”.

Trong thâm tâm, thái độ của T. làm tôi rất thất vọng. Chẳng những T. nhút nhác, sợ sệt một cách khó hiểu mà còn phản ứng thiếu thần trách nhiệm đối với đơn vị đang công tác tại Việt Nam. Hoàn cảnh xã hội khép kín, chế độ quan liêu bao trùm đã làm người dân mất lòng tin ở chính mình, mất hết khả năng tự vươn lên. Họ không dám có suy nghĩ nhất là có sáng kiến. Những vận hành chủ động đã có người lo hết rồi. Nhưng người nắm trịch đôi khi không đủ tâm, không có tầm, lo nào có xong đâu. Cái tai hại là anh ta không cho phép bất cứ ai khác lấy chủ động thay mình. Tại Việt Nam, người cáng đáng công việc thực sự thì ít nhưng người ngăn cản, choáng chỗ không cho ai khác làm gì thì nhiều… Và vì cơ chế quá cứng nhắc, không có động lực nào có khả năng thay đổi được cục diện. Ba năm sau khi dự án được cho phép triển khai và phát triển tốt, môi trường làm việc đã khá thông thoáng, sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sỹ, T. đã về Việt Nam tham gia làm trợ lý cho tôi gần 2 năm. T. cũng đóng góp tích cực, tham gia viêc giảng dạy cao học sau này, giai đoạn tôi dần dần Việt Nam hoá chương trình cao học.

Trở lại chuyện tại Bỉ, về nhà trong bửa ăn gia đình, tôi nói với vợ tôi:

-“ Hè này về Việt Nam em sẽ là cộng tác viên đắc lực của anh. Anh chưa có ai có thể tin cậy đuợc ngoài em trong việc triển khai dư án đã được tài trợ. Có rất nhiều chuyện phải làm. Một mình anh sợ kham không nỗi”.

Vợ tôi an ủi tôi :

-“Việc văn phòng em có thể lo được khi chưa kiếm được thư ký. Em sẽ ở lại Việt Nam trông nom công việc khi anh phải trở lại Bỉ giảng dạy”.

Sự nhạy bén và sốt sắng của vợ tôi làm tôi an lòng phần nào.

Vì là thư ký của hội đồng giám khảo các kỳ thi cuối năm của Đại học Liège, tôi phải chờ sau ngày tuyên bố kết quả thi cuối năm mới có thể lên đường về Việt Nam cùng gia đình. Tôi dự định sẽ lợi dụng hai tháng hè truớc mắt để giải quyết những công việc hành chính cụ thể với ban Giám hiệu trường Đại học Bách khoa, địa bàn triển khai dự án.


Việc thương thảo triển khai dự án với

trường Đại học Bách khoa không giản dị


Về Sài Gòn nghỉ ngơi một tuần là tôi bắt tay vào việc. Trước hết tôi tìm gặp T2 một nghiên cứu sinh ngành hoá ứng dụng đã từng theo học các buổi thỉnh giảng của tôi tại Việt Nam và tuy không phải là người của ngành cơ xây dựng, T2 đã đạt điểm cao trong những lần thi sát hạch. Sau đó năm 1993, T2 nhận được học bổng một năm sang Bỉ bảo vệ luận văn thạc sỹ thành công. Nay T2 đã trở về công tác tại ngành mình dưới sự chủ trì của Phó Hiệu trưởng thường trực ĐHBK, bí thư đảng bộ. Khác với T., T2 khá năng động và quyết đoán, công tác gần mặt trời có khác. T2 đồng ý giúp tôi lo dịch văn bản ra tiếng Việt, trình riêng cho thầy mình và cũng sẽ gặp riêng ông Hiệu trưởng GSTS Trương Minh Vệ nếu cần. Tiếng nói bên trong của T2 sẽ rất quan trọng vì T2 biết rõ lai lịch của tôi tại Bỉ, vai trò của tôi trong giới đại học cũng như trong cộng đồng người Việt tại Bỉ.

Phần tôi, tôi điện thoại cho Hiệu Trưởng trường ĐHBK để lên lịch bàn thảo, tiến đến thoả thuận về những chi tiết triển khai dự án. Vì bận công việc, Hiệu trưởng Vệ chỉ định cho Phó Hiệu Trưởng PGS.TS Chu Quốc Thắng, nguyên là khoa trưởng Khoa xây dựng đại diện nhà trường mở cuộc hội đàm với đại diện Đại học Liège (ULg) là tôi. Hai tuần sau buổi gặp gỡ đầu tiên mới bắt đầu.

Vì phải thường xuyên báo cáo với Viện trường ULg về diễn tiến cuộc hội đàm, tôi yêu cầu vợ tôi tháp tùng giúp tôi ghi chép những điểm hội ý để tối về ngồi dịch ra tiếng Pháp rồi gởi về Liège.

Tôi trao cho TS Thắng một văn bản dự án và tuần tự giải thích từng điểm nội dung dự án.

Chương trình đào tạo sẽ kéo dài hai năm. Năm đầu là năm có 10 học trình chính thức. Phía Bỉ sẽ gởi 7 giáo sư sang Việt Nam thỉnh giảng, phía Việt Nam chỉ phải tham gia giảng dạy 3 giáo trình chọn lựa trong 7 đề tài được ghi trong dự án.

Vì văn bằng thạc sỹ do Bỉ chính thức cấp, chương trình giảng dạy sẽ dựa trên chương trình hiện hữu đang thực thi tại ULg (trong khuôn khổ một chương trình thạc sỹ liên Châu Âu cũng do tôi đề xuớng và phối hợp). Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nghị định chung là sẽ miễn cho các chương trình đào tạo quốc tế những giáo trình chính trị như lý luận Mác-Lenin hay tư tưởng Hồ Chí Minh. Một ban điều hành hỗn hợp sẽ được thành lập gồm người Chủ Nhiệm đại diện ULg và người Đồng Chủ nhiệm đại diện ĐHBK. Ban điều hành sẽ tổ chức tuyển sinh cho mỗi học kỳ và sau năm đầu sẽ tổ chức thi cho từng giáo trình rồì gởi về Bỉ chấm. Chỉ có thí sinh được điểm trung bình từ 12/20 trở lên mới được vào năm thứ hai và nhận đề tài luận văn thạc sỹ. Phía Việt Nam đề nghị là chỉ tổ chức thi cử cho các kỷ sư ghi danh còn các giảng viên, các trợ giáo đã là thành viên có biên chế trực thuộc ĐHBK thì không cần phải thi, họ chỉ theo học là đủ. Tôi phản ứng ngay là ý kiến này đi ngược với qui chế học trình của ULg cũng như của tất cả các đại học đúng nghĩa trên thế giới. ULg chỉ cấp bằng cho người xứng đáng qua thi cử nghiêm túc. Dự án “du học tại chỗ ” (sẽ có tên là chương trình EMMC, European Master in Mechanics of Constructions) là dự án đào tạo người thầy tương lai cho các trường Đại học. Dự án này không có mục đích đi ban phát bằng cấp mà có chức năng trau dồi kiến thức, đào tạo nhân tài. Tôi nhấn mạnh:

-“Bất cứ ai thi không đạt thì sẽ không được cấp bằng. Tôi thiết nghĩ đây cũng là nguyên tắc được áp dụng tại Việt Nam”.

Trước phản ứng mạnh mẽ và hợp lý của tôi, đại diện ĐHBK đồng ý thông qua nguyên tắc thi cử và tuyển sinh đã đề ra trong dự án. Nhưng người đại diện lại cố tranh thủ đặc quyền đặc lợi. Ông ta đề nghị không nên tổ chức tuyển sinh rộng mở mà nên chỉ dành riêng cho nhân sự phát xuất từ trường ĐHBK tham gia theo học. Tôi bắt buộc phải phân trần:

-“Thưa ông, chúng ta hãy cùng nhau xem vai trò của nhà trường ĐHBK là gì nào ? Có phải là đào tạo kỷ sư cho tuổi trẻ Việt Nam đang sống tại thành phố Hồ Chí Minh và cho tất cả những địa phương khác trên toàn cõi đất nước khi họ có yêu cầu không? Chắc chắn là như thế vì tôi chưa hề thấy văn bản nào cấm sinh viên các nơi ghi danh thi tuyển vào ĐHBK. Vậy tại sao chương trình cao học quốc tế do chính ĐHBK cùng ULg hợp tác đảm nhiệm, một chương đào tạo người thầy cho các trường lại có quyết định ngược lại với vai trò đã khẳn định tư lâu theo luật Việt Nam?”.

Đại diện ĐHBK giải thích rằng đây là một chương trình đào tạo đặc biệt đáp ứng với yêu cầu khá bức thiết của tình hình hiện nay của nhà trường: Các giảng viên có bằng thạc sỹ và tiến sỹ quá ít, ĐHBK muốn nhanh chóng cải tiến lực lượng giảng viên để đạt chỉ tiêu đề ra.

Thấy lập trường khá chặc của mình không có lợi cho việc thương thảo, tôi đưa ra thỏa hiệp như sau. Chương trình du học tại chỗ EMMC sẽ ưu tiên dành cho ĐHBK 50% chỗ với điều kiện là các ứng viên trực thuộc nhà trường phải qua khâu tuyển sinh, phải theo học và tham gia thi cử như mọi học viên khác. Chúng tôi cho rằng tính công bằng, minh bạch là điều kiện tiên quyết cho uy tín, cho sự lớn mạnh của chương trình. Sau này, thoả hiệp trên đây sẽ không bao giờ đặt ra vấn đề khó xử vì không có khoá nào mà ứng viên của ĐHBK đạt được 50%. Hoặc các giảng viên quá bận bịu trong kinh doanh, không có thì giờ theo học, hoặc chương trình đào tạo chẳng những quá mới, quá nặng mà còn có những cửa ải thi cử quá khắc khe, làm họ ngại ngùng. Học viên trẻ dễ chấp nhận thử thách hơn, dễ tiếp thu cái mới hơn. Trên thực tế qua 12 khoá liên tục, EMMC đã đón nhận ứng viên đến từ khắp các miền trên đất nước Việt Nam và tôi phải ghi nhận là khi họ càng ở xa, càng nghèo khó, họ càng ham học.

Cuộc thương thảo kéo dài cả ngày mà chương trình nghị sự chỉ được giải quyết có 1/3. Chúng tôi chia tay rồi hẹn gặp lại ngày hôm sau.

Về nhà tôi và vợ nghe lại bản ghi âm, chuyển sang Pháp ngữ, lập biên bản in ra để chuẩn bị cho ngày hôm sau.

Phải nói đêm ấy tôi rất mệt và rất khó chợp mắt. Tôi không ngờ cuộc hội đàm triển khai một dự án giúp Việt Nam một cách vô tư (phía Bỉ không đưa ra bất cứ điều kiện nhỏ nào vì lợi ích nước Bỉ hay Đại học Liège) mà việc thương thảo triển khai cụ thể phải căng thẳng như vậy. Chỉ cách đây có mấy tháng, Hiệu trưởng ĐHBK đã cùng tôi, đại diện ULg, ký bản ghi nhớ khẳng định ước mong chung mở rộng hợp tác đào tạo cao học mà. Bản này ghi nhớ này đã có trong tập hồ sơ gởi cho Bộ hợp tác phát triển Bỉ. Nay dự án đã được chính phủ Bỉ chấp nhận tài trợ trên những yêu cầu y chan như phía Việt Nam đề nghị. Tôi không hiểu vì sao trong giai đoạn triển khai nhà trường đã tỏ ra không mấy mặn mà với sự ưu ái đặc biệt mà ULg dành cho ĐHBK? Điểm gây băng khoăng nhất cho tôi là họ lại đề nghị ULg phải ban phát bằng cấp mà không qua thi cử. Té ra chính sách cải tiến trình độ giảng viên của Bộ GD&ĐT đã bị bóp méo thành chính sách đi kiếm tìm bằng cấp quốc tế với mọi giá? Người ta không quan tâm đến việc đào tạo có thực chất mà chỉ muốn hình thức, muốn hư danh. Nghĩ đến hậu quả khôn lường cho nền học thuật nước nhà nếu các ĐH Việt Nam đều có cách hành xử kiểu này, tôi đã thức trắng đêm ấy. Tôi đã bắt đầu ý thức qua thực tiển, sự tác hại của tư duy phi học thuật này. Những năm về sau và cho tới bây giờ, sự xuống cấp của các trường đại học Việt Nam, việc liên kết đào tạo quốc tế dởm, kiếm chác bằng dỏm, chỉ là hậu quả của hướng đi tréo ngoe này. Nguồn gốc của nó rất là thâm hậu, đã khởi sự từ mấy thập kỷ trước. Nó lại xuất phát từ một chính sách ra vẻ rất hợp lý nhưng cấp thừa hành đã đồng loạt “tự chuyển biến” sang hướng tiêu cực vì những lợi ích cục bộ, bất chấp tiền đồ của nền giáo dục quốc dân. Nếu có một cơ chế phản biện nghiêm túc, được nhà nước tổ chức và khuyến khích thì những tệ đoan này sẽ khó có thể xảy ra. Các nuớc Tây phương đã có những cơ chế như vậy, những cơ chế dân sự kết hợp với báo chí. Tại Việt Nam điều này đã không hề có và tụt hậu đã xảy ra ngày càng trầm trọng qua năm tháng, như một cỗ xe tụt dốc mà chẳng có phanh.

Tôi cũng đã đi đến một kết luận cho bản thân sau đêm không ngủ ấy. Tại Việt Nam nếu còn tồn tại, tôi sẽ còn nhiều năm phải phấn đấu. Với bất cứ giá nào tôi sẽ bảo vệ những giá trị cơ bản và phổ quát về chức năng xã hội chính đáng của một cơ sở đào tạo đại học. Thà ngưng không làm, không triển khai, thà đóng cửa văn phòng điều hành, tôi sẽ phải hết mình duy trì, ít ra trong ốc đảo tí hon của những chương trình do tôi đề xướng và điều phối, những giá trị ấy.


Không triển khai được dự án

vì không có thoả thuận ở một điểm mấu chốt


Ngày hôm sau, 9 giờ sáng là chúng tôi lại vào trường tiếp tục các buổi thương thảo.

Ý thức được tầm quan trọng của những điều khoản liên quan đến lợi ích, tôi đúc kết lại những quyết định chung ngày hôm qua có ghi trong biên bản hai thứ tiếng. Tôi còn nhắc lại những thoả thuận đã có qua những cuộc thương thảo đã xảy ra trong giai đoạn thực thi các dự án nhỏ trước đây. Nay tôi chép lại và chính thức hoá trên biên bản:

- Chỉ có học viên thi tuyển đậu cao mới có thề nhận học bổng tại chỗ. Vì muốn hỗ trợ học viên nghèo đến tư vùng sâu, vùng xa, tôi đã không ghi mục mua xe, mướn người lái đưa rước các giáo sư thỉnh giảng như tôi đã thấy ở Congo trong khuôn khổ hợp tác phát triển của chính phủ Bỉ tại đây. Tôi đã chuyển kinh phí của mục này thành 15 học bổng tại chỗ cho mỗi khoá. Nhân tiện xin nói ở đây là sáng kiến này đã giúp rất nhiều học viên, với thu ngập gia đình eo hẹp nhưng vẫn theo học được chương trình EMMC. Các em này sau đó đã trở thành các tiến sỹ giảng viên tại các trường lớn khắp Bắc Nam Trung hay đang tham gia nghiên cứu tại các cơ sở nghiên cứu cao cấp tại Âu-Mỹ. Đây chính là những hạt giống tốt nhất mà chúng tôi đã gieo được cho Việt Nam.

- Chỉ có các học viên đậu đầu năm thứ nhất mới có quyền nhận học bổng đi Bỉ thực tập và làm luận văn trong năm thứ hai. Mọi đề nghị hay khiếu nại không dựa trên thực lực của học viên đều không được cứu xét.

- Chỉ những đồng nghiệp tích cực tham gia công việc nghiên cứu giảng dạy đã tỏ ra có tinh thần cầu tiến muốn đổi mới giáo trình, nghiên cứu khoa học mới được vé máy bay sang Bỉ một tháng tham quan do chương trình tài trợ.

- Về phía Bỉ, điều kiệu tối thiểu của người đi thỉnh giảng là phải có bằng tiến sỹ và đã tiếp tục nghiên cứu khoa học sau đó ít ra ba năm, có công trình nghiên cứu được công bố trên báo quốc tế. Đa số giáo sư thỉnh giảng phải là giáo sư trưởng tại Bỉ (full professor).

Đôi khi trong thảo luận, đại diện ĐHBK, PGS.TS Thắng, không biết vô tình hay hữu ý quay lại những điểm đã bàn và đã được đúc kết. Tôi nhẹ nhàng nhặc nhở là nên xem lại biên bản vì việc ấy có ghi và coi như đã xong. Tôi bắt đầu có cảm giác như người lái xe muốn rồ máy xuất phát nhưng người đồng lái xe bên cạnh lại không chịu buông thắng tay !

Nhưng rồi đôi bên cũng phải cùng đi tiếp.

Hai vấn đề khá tế nhị được đặt ra.

Một việc nhỏ. Phía Bỉ chúng tôi lo ngại về tình trại thiếu vệ sinh của các phòng toilet hiện hữu và yêu cầu ĐHBK tân trang ít nhất một phòng toilet gần văn phòng dành các giáo sư quốc tế ngồi làm việc. Thật vậy, việc này tuy nhỏ nhưng chúng tôi cho rằng nếu không có giải pháp thoả đáng thì có thể gây khó cho dự án. Các giáo sư Bỉ quen với phong cách sống bên Bỉ sẽ có ấn tượng không hay vể Việt Nam và sẽ không mặn mòi cho việc tiếp tục tham gia dự án trong tương lai. Chúng tôi cũng mong mõi là phòng ốc giao cho chúng tôi phải được tân trang cho xứng với đẳng cấp quốc tế. Phía Việt Nam nói sẽ không có kinh phí cho việc này. Cuối cùng chúng tôi phải đưa ra thoả hiệp là lấy kinh phí của văn phòng riêng của chúng tôi tại Bỉ vì khoản chi này nằm ngoài dự án. Trên nguyên tắc đây phải là cống hiến của phía Việt Nam.

Ngược lại tôi rất vui khi nghe PGS.TS Thắng báo cho tôi hay là nhà trường đang bố trí trong khuôn viên ĐHBK hai phòng tạm trú dùng cho các giáo sư thỉnh giảng quốc tế, đẳng cấp tương đương với khách sạn 2 sao. Dự án cao học Bỉ-Việt có thể dùng phương tiện này trong tương lai.

Thứ đến là một việc lớn, vấn đề quản lý tài chính.

Khoản tiền tài trợ dùng cho dự án là ngân sách của Bộ hợp tác phát triển chính phủ Bỉ cấp cho ULg để trực giúp Việt Nam trong lĩnh vực đào tạo cao học. Ngân sách này không nằm trên khoản viện trợ chính thức ký kết giữa chính phủ Bỉ và Việt Nam. Trong khuôn khổ dự án, phía Bỉ sẽ chi toàn bộ cho việc thỉnh giảng của các giáo sư Bỉ tại Việt Nam, những chuyến đi của giáo sư Việt Nam sang Bỉ tham quan và trau dồi nghiệp vụ, những học bổng du học ngắn hạn 3 tháng của học viên Việt Nam sang Bỉ làm luận văn thạc sỹ. Phía Bỉ cũng sẽ cung cấp thiết bị phòng thí nghiệm, sách khoa học và giáo trình, thiết bị máy tính, phần mền, phần cứng, thiết bị văn phòng… Theo thông lệ, tài chính sẽ được chuyển từng đợt về cho một tài khoản chính thức của Đại học Liège và ban quản lý tài chính sẽ có nhiệm vụ kiểm tra tất cả những chi tiêu hợp lệ đã ghi trong dự án với tất cả những chi tiết cần thiết. Người chịu trách nhiệm chi tiêu là giáo sư điều phối dự án. Người này phải tuyệt đối tôn trọng chế độ sử dụng ngân sách rất nghiêm ngặt đã được thành qui chế. Mọi chi tiêu trên 3000 USD phải có đấu thầu hay có ít nhất ba đề nghị giá cả từ các nhà cung cấp. Người quản lý phải chịu trách nhiệm nếu chi tiêu sai lạc trên 10% giới hạn đã ghi trong dư án. Ban tài chính ULg chỉ chi trả theo hoá đơn có chữ ký xác nhận của GS quản lý. Nếu có đổi hướng chi tiêu, người có trách nhiệm quản lý phải vào đơn xin phép, giải thích lý do và chỉ hành động dựa theo văn bản bổ túc dự án đưọc cơ quan chức năng đồng ý theo yêu cầu. Đại bộ phận ngân sách sẽ không chuyển vể Việt Nam ngoài một phần nhỏ dùng cho học bổng tại chỗ, chi tiêu văn phòng và những thiết bị nhẹ có thể mua tại Việt Nam để khỏi phải tốn tiền chuyên chở.

Tôi giải thích tường tận như vậy nhưng phía ĐHBK cứ yêu cần tôi can thiệp để gởi toàn bộ ngân sách về nhà trường. Điều này thực tình ra ngoài khả năng của tôi. Họ lý giải làm như vậy sẽ đơn giản hơn cho tôi, khỏi phải lo nghĩ về chi tiêu quản lý tài chính mà chỉ dồn sức cho việc học thuật và du lịch. Tôi cố giải thích là tôi không thể ký giấy chuyển tiền mà không có hoá đơn chi tiêu vì làm như vậy tôi bị coi là chiếm đoạt ngân sách, vị phạm luật tài chính với tất cả những hệ lụy không hay cho mình.

Đến gần hết tuần mà phía Việt Nam vẫn không rút lại yêu sách này.

Tôi đành phải xin ngừng công việc thương thảo và kết luận như sau:

-“Chúng tôi rất tiếc là phía Việt Nam chưa thấu triệt tư duy hợp tác quốc tế với một nước phát triển như nước Bỉ đã có sẳn những qui chế minh bạch cho việc hành xử. Phía Việt Nam cần thêm thời gian để rút kinh nhgiệm. Chúng ta nên ngừng thương thảo hôm nay. Việc triển khai dự án tại Việt Nam coi như bất thành. Chúng tôi sẽ triển khai dự án du học tại chỗ này tại một nước Phi Châu nói tiếng Pháp, nước Tunisie. Một trường Đại học lớn ở thủ đô nuớc này mong chờ tôi lập dư án giúp họ đã ba năm nay nhưng vì ưu tiên cho Việt Nam tôi đã chưa làm gì được cho họ. Lần này họ sẽ là người thụ hưởng sự ưu ái này của Đại học Liège. Chúng tôi sẽ trở lại mở mang hợp tác với Việt Nam sau này khi điều kiện chín mùi hơn”.

Tuy có lập trường như vậy nhưng sau này, khi dự án được phép triển khai, PGS.TS Chu Quốc Thắng sẽ là người Đồng Chủ nhiệm hữu hiệu của tôi trong khoản thời gian dài gần 8 năm. Với tư cách là Phó Hiệu trưởng trường ĐHBK ông là cầu nối giữa chúng tôi và ban Giám hiệu, đóng góp tích cực cho sự thành công của dự án.

Tôi định nói lời từ giả thì ông bảo tôi chờ một vài phút vì ông Hiệu trường cũng muốn gặp tôi trước khi chia tay. Năm phút sau thì GSTS Trương Minh Vệ xuất hiện và đề nghị gặp lại tôi tuần tới nếu tôi còn ở Việt Nam. Tôi bảo chủ nhật này tôi phải ra Hà Nội một tuần để tham gia ngày Quốc khánh kỷ niệm 50 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tiền thân của chế độ xã hội chủ nghĩa hiện hữu. Vợ chồng tôi đã nhận được giấy mời của ban Việt kiều Trung ương đã có vé máy bay và một ngày nữa là chúng tôi phải vắng mặt ít nhất một tuần. Còn việc gặp lại thì tôi cho là không cần thiết nữa nếu nhà trường không thay đổi lập trường về những vấn đề tài chính.

Hiệu trường Trương Minh Vệ tiển chân tôi ra cầu thang. Vợ chồng tôi lủi thủi lấy Honda chở nhau ra về. Tôi bảo vợ tôi:

-“Hay ta thẳng ra quận nhất đi dạo giải trí”.

Vào buổi chiều khi mặt trời sắp lặn, Sài Gòn thường có gió hiu hiu, mát lành dễ chịu. Vợ tôi đề nghị đi ăn nhà hàng một bửa cho lấy lại sức. Đây là lần đầu tiên sau một tuần làm việc cật lực, chúng tôi có được những giây phút thư giản, hưởng thụ cái chất Sài Gòn rất đặc biệt mà người xa Sài Gòn ai cũng thấy nhớ. Biết tôi đang buồn lòng vì thất vọng, cả buổi tối hôm ấy, vợ tôi không nói thêm lời nào về việc triển khai dư án.

Liège ngày 18/10/2010

You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. Both comments and pings are currently closed.

5 Responses

  1. 1
    Tin 19-10-2010 « BA SÀM (via Pingback)

    [...] – Tiếp phần 13 Bút ký của GS Nguyễn Đăng Hưng: Chưa triển khai được dự án hợp tác đào tạo bậc cao học vì không có thoả th… [...]

  2. [...] 12:00 – Tiếp phần 13 Bút ký của GS Nguyễn Đăng Hưng: Chưa triển khai được dự án hợp tác đào tạo bậc cao học vì không có thoả th… [...]

  3. [...] Chưa triển khai được dự án hợp tác đào tạo bậc cao học vì không có thoả th… [...]

  4. [...] 12:00 – Tiếp phần 13 Bút ký của GS Nguyễn Đăng Hưng: Chưa triển khai được dự án hợp tác đào tạo bậc cao học vì không có thoả th… [...]

  5. [...] 12:00 – Tiếp phần 13 Bút ký của GS Nguyễn Đăng Hưng: Chưa triển khai được dự án hợp tác đào tạo bậc cao học vì không có thoả th… [...]