Monday, October 25th, 2010 | Author:
Nguyên Tổng Bí Thư Đỗ Mười

Nguyên Tổng Bí Thư Đỗ Mười

BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG – Phần 14

Nỗi thất vọng càng ê chề khi kỳ vọng càng cao

và khả năng đạt mục tiêu càng gần.


Nỗi nhứt nhối vì sự thất bại trong việc thương thảo với Ban Giám hiệu Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHBK) cứ đeo đuổi tôi. Tôi thật sự rất thất vọng về thái độ và lập trường của Ban Giám hiệu nhà trường. Từ năm 1991 cho tới năm nay 1995, tôi đã có gần 5 năm hợp tác với ĐHBK với những thành quả nhất định. Thiện chí của hai bên đã nhiều lần khẳn định qua các chuyến thăm viếng chính thức của đôi bên. Tôi biết rõ sự mong mỏi khẩn thiết của nhà trường về việc nâng cấp trình độ khoa học và công nghệ của các giảng viên. Dự án “du học tại chỗ” chính là buớc phát triển tự nhiên của một quá trình cộng tác nhiều năm. Nay dự án đã được tài trợ, mục đích mở rộng hợp tác coi như đã đạt thế mà việc triển khai lại đi đến bế tắt. Nỗi thất vọng càng ê chề khi kỳ vọng càng cao và khả năng đạt mục tiêu càng gần.

Qua nhiều lần tiếp xúc, không những tại văn phòng ban Giám hiệu mà còn trong những dịp sinh hoạt thân hữu, như đi du ngoạn, thăm viếng qua lại tại nhà, tôi đã đã có cảm nhận rất rõ về sự ân cần thân thiện chân thật của Hiệu trưởng Trương Minh Vệ và các cộng tác viên của ông.

Sau buổi họp cuối cùng, cả đêm tôi thao thức vì tôi vẫn không hiểu lý do của sự đổ vỡ phi lý này. Phải 15 năm sau, qua một một nguồn tin bất chợt từ phía an ninh, tôi có được một thông tin từ bên trong. Ngày tôi lấy hưu trí, họ cho tôi hay tôi đã là nạn nhân của một đơn vu cáo của một nhân vật cao cấp trong giới Việt kiều. Tôi là người đã không còn sinh mệnh chính trị thì chỉ một động tác nhỏ của một người gọi là “đáng tin cậy”, có điều kiện nắm thông tin về tôi, thì nguy cơ tôi sẽ thành kẻ xấu phải vô hiệu hoá là rất cao. Có lẽ đây là lý do của những khó khăn mà tôi đang bắt gặp. Thành quả ban đầu của tôi tại Việt Nam đã không làm cho mọi người trong phe “bạn” vui! Thông tin này giải mã được phần nào sự phi lý của vụ thương thảo thất bại và cũng nói lên tính mong manh dễ vỡ của những thành quả đã qua và sau này.

Để có chút thư giãn tôi bảo vợ tôi:

-“Chiều nay anh xuống phố Sài Gòn mua ít sách mới về đọc để ban tối tìm giấc ngủ. Em ở nhà làm va-li để ngày mai ta đi Hà Nộỉ”.

Sống ở Sài Gòn hay ra Hà Nội, tôi có thóí quen đi dạo phố bằng xe gắn máy. Bạn bè bảo tôi có tuổi rồi, xe cộ lại chật chội làm như thế không hay đâu, nên lấy taxi. Nhưng tôi vẫn không làm khác được. Tại Việt Nam, không có gì tự do hơn đi xe gắn máy. Đường kẹt cách mấy cũng qua, ngừng đâu cũng được, leo lề rồi cũng tới nơi. Cho tới ngày nay, lấy hưu trí đã năm năm rồi, sống ở ngoại ô cách trung tâm hơn 15 cây số mà tôi vẫn tiếp tục đùng xe gắn máy khi cần xuống phố.

Đi tới công trường Con Rùa thì trời chuyển mưa. Đang loay hoay đi tìm chỗ trú mưa tôi chợt gặp PGS.TS Nguyễn Thiện Tống, một đồng nghiệp ở trường ĐHBK. PGS Tống là một trong số hơn 20 người Việt Nam đầu tiên được nhận học bổng toàn phần Colombo của chính phủ Úc tài trợ và sang đây du học năm 1965. PGS Tống tốt nghiệp về ngành hàng không, hồi hương giữa năm 1974 rồi được bổ nhiệm giảng dạy ở Trường Đại học Kỹ thuật Phú Thọ, tiền thân của trường ĐHBK ngày nay. PGS Tống là giáo sư duy nhất của thời Sài Gòn cũ còn ở lại tiếp tục giảng dạy cho tới ngày về hưu đầu năm 2008. Ông là một trong những người khởi xướng và phát triển bộ môn kỷ thuật hàng không ở Việt Nam. PGS Tống cũng đã từng ra ứng cử Đại biểu Quốc hội, Hiệu trưởng ĐHBK, nhưng không lần nào thành công.

Chúng tôi dắt nhau vào một quán cà phê kéo dài câu chuyện cho qua cơn mưa nặng hột.

PGS Tống là người lạc quan, ông luôn luôn giữ vững niềm tin ở tương lai, tuy con đường sự nghiệp của ông tại Việt Nam không phải lúc nào cũng thẳng tắp.

Ông bảo tôi :

-“Nếu tôi đã đắc cử thì dự án của anh sẽ không có số phận như bây giờ đâu. Anh cố gắng kiên nhẫn triển khai tại Việt Nam chứ đi sang Tunisie thì quá uổng”.

Tôi chia sẻ cùng ông :

-“Thật lòng lần này khác với ngày trước cách đây đã 16 năm, tôi không muốn trở lại làm chất xám lưu vong tại Phi Châu lần thứ hai. Dù sao, với xu hướng đổi mới, tôi thấy có hướng đi lên và tôi tự nhận bổn phận góp phần thúc đẩy Việt Nam phát triển về giáo dục đại học, trực tiếp giúp tuổi trẻ Việt Nam vươn lên. Có lẽ sức ỳ quá lớn, những trở lực của tư duy bao cấp vẫn tiềm tàng ở mọi cấp chính quyền. Tuy nhiên, với bất cứ giá nào, tôi sẽ tìm cách triển khai dự án du học tại chỗ tại Việt Nam. Thượng sách là tại trường ĐHBK như đã ghi trong tài liệu chính thức. Trung sách là tại một trường khác, có lẽ tại Hà Nội. Chỉ có hạ sách mới đi nước khác. Điều trước tiên tôi sẽ làm khi về Bỉ là sẽ xin hội kiến cơ quan chức năng Bỉ, xin hoản việc triển khai dự án một năm. Tôi hy vọng Việt Nam sẽ nhanh chóng đổi mới tư duy. Nhưng việc này cũng khó như khi cho ra đời một dự án mới!”.


Tôi ra Hà Nội tham dự Đại Lễ Quốc khánh


TBT Đỗ Mười và Việt Kiều ngày Đại Lễ. Người phụ nữ hàng đầu từ trái sang là bà Điềm Phùng Thị

TBT Đỗ Mười và Việt Kiều ngày Đại Lễ. Người phụ nữ hàng đầu từ trái sang là bà Điềm Phùng Thị

Ra Hà Nội chúng tôi được bố trí ăn ở tại trụ sở Ủy ban người Việt Nam ở nước ngoài, phố Bà Triệu. Hồi ấy GS.TS Nguyễn Ngọc Trân, nguyên là một Việt kiều tại Pháp, còn làm Chủ nhiệm. Ủy ban Trung ương người Việt Nam ở nước ngoài (UBTWNVONN) còn chưa sát nhập vào bộ ngoại giao. Người Phó Chủ nhiệm là ông Phạm Khắc Lãm nay là chủ tịch Hội hữu nghị ViệtMỹ, con trai của ngự tiền đổng lý văn phòng triều đình Bảo Đại Phạm Khắc Hòe. Chúng tôi rất vui nhân ngày đại lễ gặp lại đông đảo anh chị em Việt kiều quen biết khắp năm châu. Ban tổ chức tiếp kiều bào rất chu đáo, hướng dẫn đi tham quan các di tích lịch sử liên quan đến ngày đại lễ. Một cuộc diễn hành long trọng và hoàng tráng được tổ chức tại quảng trường Ba Đình và đoàn Việt kiều chúng tôi được xếp ngồi trên khán đài danh dự. Điều tôi ghi nhớ nhất là buổi tiếp đoàn Việt kiều lại Văn phòng Trung ương Đảng. Hôm ấy có mặt lãnh đạo cao cấp nhất của đảng cng sản Việt Nam: Tổng Bí Thư Đỗ Mười, các thành viên Bộ chính trị, các Ủy viên trung ương, các thành viên chính phủ.

Sau khi đoàn Việt kiều an toại, Chủ nhiệm UBTWNVONN Nguyễn Ngọc Trân giới thiệu từng Việt kiều có mặt hôm đó cho Tổng Bí thư, không quên, không nhầm tên tuổi, ngành nghề và xuất xứ của mỗi người. Điều tôi rất ấn tượng là lúc GSTS Nguyễn Ngọc Trân giới thiệu, có ông Xương Căn, đến từ Hàn quốc, cháu đời thứ 26 của Hoàng tử nhà Lý nước Đại Việt Lý Long Tường, từng tránh nạn sang Cao Ly và trở thành Hoa Sơn Tướng quân ở đây. Tấm liễn mà ông Xương Căn tặng cho nhà lãnh đạo Việt Nam ghi hàng chữ: “Tuy sống nơi xa vạn dặm, Nhưng lòng vẫn hướng về Việt Nam” đã làm tôi rất xúc động.

Tổng Bí Thư Đỗ Mười có bài phát biểu quan trọng liên quan đến ngày đại lễ. Ông nói về những thành quả sau 50 năm cách mạng mùa thu và 10 năm đổi mới… Trong phần cuối ông nhấn mạnh đến chủ trương công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Ông bảo Đảng và Chính phủ mong mỏi và sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho Việt kiều về nước đầu tư kinh tế, chuyển giao công nghệ, phổ biến khoa học văn hoá, phát triển giáo dục, góp phần cụ thể cho sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, công bằng, văn minh. Bài phát biểu của Tổng Bí Thư khá dài và đầy đủ. Ông nói với một phong cách riêng rất đặc biệt. Sau đó ông ôn tồn hỏi chúng tôi ai có ý kiến, muốn phát biểu thì ông rất hoan nghinh và lắng nghe.

Tôi như vớ phải vàng, mạnh dạn đưa cao tay ngay. Một phụ nữ đã đứng tuổi cũng nhanh nhẹn đưa tay lên là bà Điềm Phùng Thị, Việt kiều định cư tại Pháp, một tên tuổi của nền điêu khắc thế giới. Bà Điềm lên tiếng trước tiên, bà đang chuẩn bị hồi hương và muốn nhờ Tổng Bí Thư can thiệp giúp bà xây một ngôi nhà trưng bày nghệ thuật Điềm Phùng Thị và cải tạo khu mộ gia đình tại Huế.

Tổng Bí Thư bảo:

- “Việc này phải nhờ đồng chí Trần Hoàn. Yêu cầu lát nữa đồng chí Trần Hoàn bố trí ngồi gần nhà điêu khắc để giúp bà giải quyết những khúc mắt trong việc này”.

Nhạc sỹ Trần Hoàn tác giả bài “Sơn nữ ca” nỗi tiếng, lúc bấy giờ là Bộ trưởng bộ văn hoá.

Thế là đến phiên tôi. Tôi ngắn gọn tóm tắt dự án du học tại chỗ của tôi rồi nói nhanh:

- “Có công nghệ, có điều kiện, có tài trợ, có dự án chi tiết mà không triển khai được tại thành phố Hồ Chí Minh. Mong muốn của đảng và nhà nước vẫn chỉ là khẩu hiệu, vẫn không thể thực hành trên thực tế”.

Nghe xong, không chút do dự Tổng Bí Thư hỏi:

- “Đồng chí Nguyễn Đình Tứ có đây không?”.

Mọi người hướng mắt nhìn về phía GS.TS Nguyễn Đình Tứ (1932-1996), Bí thư, Trưởng ban Ban Khoa giáo Trung ương Đảng.

Rồi Tổng Bí Thư ra chỉ thị:

- “Lúc ăn trưa yêu cầu đồng chí sắp xếp ngồi gần GS Hưng, tham khảo kỷ lưởng sự việc rồi tìm cách giải quyết việc này”.

Thế là vợ chồng tôi được bố trí ăn trưa chung bàn với GS.TS Nguyễn Đình Tứ cùng mười vị trí thức Việt kiều có mặt hôm ấy. Tôi như cánh diều gặp gió, ngồi kể cho ông và các Việt kiều chung quanh nội dung dự án, nhấn mạnh ở mục đích đáp ứng yêu cầu khẩn thiết của các đại học Việt Nam: đào tạo giảng viên có trình độ quốc tế. Tôi lấy ra trong túi áo một bản sao và trao cho ông. Tôi cũng không quên nhắc đến những khó khăn khi xin tài trợ tại Bỉ, nhất là tình trạng bế tắt hiện nay trong việc triển khai tại ĐHBK. GS Tứ chăm chú nghe, gương mặt điềm đạm, không để lộ bất cứ cảm xúc nào thấy được. Ông không cắt lời tôi lần nào. Nghe xong, ông nhỏ nhẹ bảo tôi:

- “Anh Hưng ăn đi. Tự nảy giờ tôi chưa thấy anh ăn. Ăn đi cho đỡ đói rồi về Sài Gòn mọi việc sẽ xong thôi”.

Thú thật hôm ấy tôi cần nói hơn ăn. Tôi nói :

- “Có phải anh Tứ bảo là anh sẽ ủng hộ tôi triển khai dự án tại Sài Gòn ? Nếu đúng như vậy thì xin các bạn Việt kiều ngồi cùng bàn ở đây làm chứng cho tôi nhé”.

Tôi đưa mắt nhìn về các bạn trí thức Việt kiều đến từ nhiều nước có mặt hôm ấy: Pháp, Mỹ, Canada, Nhật…

Như để khẳng định ý chí của mình, GSTS Tứ nói thêm rõ hơn cho mọi người nghe:

- “Anh Hưng ăn đi rồi hãy yên lòng. Về đến Sài Gòn là mọi việc sẽ đâu vào đấy. Và tôi khuyên anh chị nên nán ở lại Hà Nội thêm vài ngày tham quan thư giãn. Ban Khoa giáo Trung Ương sẽ chính thức cấp xe và tài xế cho anh chị dùng trong những ngày còn lại”.

Được lời như cởi tấm lòng, tôi chỉ ăn thêm tí cơm mà bụng như đã no nê từ bao giờ.

Hôm sau, ngày đại lễ chấm dứt, ai nấy ra về. Một chiếc xe con của khoa giáo trung ương, có tài xế được điều động đến phòng trọ đúng như lời hứa. Chúng tôi chỉ dùng trong 3 ngày, đi tham quan Tam Cốc, Bích Động, và các đình chùa ven thành Hà Nội.. Tôi phải sớm về Sài Gòn cho kịp lấy máy bay trở sang Bỉ đúng ngày tựu trường 15 tháng 9.

Tôi cũng tranh thủ những ngày ở Hà Nội để gặp các trường đã đồng ý gởi học viên tham gia dự án du học tại chỗ: các đại học Bách khoa, Xây dựng, Giao thông Vận tải, Viện cơ học Việt Nam… Qua sự giới thiệu GSTS Phạm Khắc Hùng, Chủ nhiệm Viện công trình biển trường ĐH Xây dựng, một thân hữu tôi hằng cộng tác từ nhiều năm nay, tôi cũng được quen biết với GSTS Phạm Sỹ Tiến lúc ấy là Vụ trưởng vụ sau đại học của Bộ GD&ĐT. Ông Tiến cũng là nhà cơ học chuyên về động lực học nên rất hoan nghinh khi nghe thông báo về dự án du học tại chỗ. Ông Tiến cũng cho tôi hay là tháng 10 sắp đến sẽ qua Bỉ công tác và cũng hẹn với tôi sẽ ghé về Liège thăm tôi. Đúng là cái may không đến một lần. Trong những ngày tháng tới, ông Tiến chính là người sẽ dự phần quan trọng trong việc thúc đẩy hồ sơ của chúng tôi tại Bộ.

Tôi đang phát biểu trong phòng họp có TBT Đỗ Mười và các nhà lãnh đạo

Tôi đang phát biểu trong phòng họp có TBT Đỗ Mười và các nhà lãnh đạo

Giây phút bắt đầu của hơn 12 năm hợp tác


Về Sài Gòn, vừa đến nhà tôi đang tạm trú là tôi được cho hay có thư của Hiệu trưởng Trương Minh Vệ mời tôi đi họp lúc 9 giờ sáng hôm sau.

Buổi họp đã diễn ra rất ngắn ngủi. Vừa bắt tay tôi xong, Hiệu trưởng Trương Minh Vệ đích thân cho tôi hay là ban Giám hiệu trường ĐHBK đã chấp nhận nguyên văn dự án và sẽ ủng hộ triển khai trong niên khoá 1995-1996. Ông nói :

- “Anh chỉ cần triển khai trên tinh thần đã thảo luận và trên những chương mục đã ghi trong dự án”.

Nói xong ông định từ giả tôi vì có việc gấp. Tôi yêu cầu ông nán lại một phút cho tôi nói lời cuối cùng:

- “Xin anh an tâm. Chúng tôi sẽ không làm gì khác ngoài những gi đã ghi nhận và cam kết. Văn phòng EMMC nằm trong khuôn viên ĐHBK, sẽ đặt dưới sự kiểm soát của nhà trường. Nếu trong tương lai có những động tác mà nhà trường cho là sai trái, xin anh cứ thành thật cho chúng tôi hay bằng văn bản chính thức. Như vậy, chúng tôi có lý do ngừng hoạt động, giao lại toàn bộ thiết bị tài sản cho nhà trường vì đây là món quà riêng của ĐH Liège cho ĐHBK”.

Ông Hiệu trưởng Vệ gật đầu đồng ý rồi bắt tay từ giả tôi. Lần gật đầu này là giây phút bắt đầu của hơn 12 năm hợp tác liên tục giữa ĐH Liège và ĐHBK, hợp ta’c đào tạo bậc thạc sỹ và tiến sỹ với những thành quả mà tại Việt Nam, giới đại học Nam Trung Bắc đều biết đến.

Liège ngày 25/10/2010

Tags: Category: Bài viết, Bút ký
You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. Both comments and pings are currently closed.

3 Responses

  1. 1
    trung hieu 

    Chào thầy!

    Em là Trung Hiếu (báo Pháp Luật TP.HCM) đây ạ! Hôm nay mới đọc thêm được ba chương trong bút ký của thầy. Chắc thầy đang ở Bỉ?
    Chúc thầy cô nhiều sức khỏe. Khi nào về VN cho em biết với nhé!

  2. Dù có phần”Hoang tưởng” nhưng tôi thấy Ô CXN có tâm với Dân Tộc ..!Hơn rất nhiều những kẻ ..!

  1. 3
    Tin 25-10-2010 « BA SÀM (via Pingback)

    [...] Tiếp bút ký-phần 14 của GS Nguyễn Đăng Hưng, VK Bỉ: Tại Việt Nam cũng có quý nhân xuất hiện giúp tôi. Hic! Phải chi  “quý nhơn” nầy đáng quý trong bao nhiêu vấn đề quốc [...]