Wednesday, March 16th, 2011 | Author:

hoi-nghi-hiep-thuong-i

Một thoáng về Mặt trận Tổ quốc và Quốc Hội Việt Nam

Nguyễn Đăng Hưng

Như đã nói ở phần 17, tháng 9 năm 2004 là lần cuối cùng tôi được mời tham gia Đại Hội Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam (MTTQVN). Đây cũng là lần đầu tiên tôi được chứng kiến một sinh hoạt chính trị tầm cỡ quốc gia.

Trong dịp này tôi có may mắn trực tiếp nắm bắt như một nhân chứng sống về một sinh hoạt chính trị quan trọng tại Việt Nam, thời kỳ hiện đại. Sinh hoạt này đã mang lại cho tôi những ấn tượng rất là đặc biệt. Đặc biệt vì nó khác xa những gì tôi mường tượng cho một sinh hoạt dân chủ bình thường mà tôi từng tham gia rất khá thường xuyên tại Châu Âu. Tính cách đặc biệt rõ nét nhất là sự tẻ nhạt của phần lớn của các bài phát biểu chính thức tại đại hội. Bài phát biểu của Tổng Bí Thư ngày đầu tiên chẳng có gì mới đáng chú ý. Bài phát biểu tràng giang đại hải của ông Phó Chủ Tịch kiêm Tổng thư ký Mặt trận Huỳnh Đảm thì không có một lời nhắc đến thái độ và biện pháp của MTTQVN trong việc giám sát, tham gia bài trừ hay ngăn ngừa quốc nạn tham nhũng ngày càng leo thang. Tôi có cảm tưởng đây là một thứ báo cáo sinh hoạt hiền lành dễ thương của một tổ chức từ thiện tầm cỡ quốc gia. Tôi không thấy kiến nghị nào của đoàn Chủ tịch về các vấn đề quốc kế dân sinh thể theo điều 14, điểm 4 của bản điều lệ MTTTQVN được xác định trên giấy trắng mực đen. Dài nhất và buồn ngủ nhất là khi nghe một vị lãnh đạo đoàn Chủ tịch, với một giọng đều đều đơn điệu, đọc danh sách 320 vị vừa được hiệp thương đề cử (không có bỏ phiếu kín tín nhiệm tại đại hội) vào Ủy ban Trung Ương (UBTW). Khi nghe tên, đương sự có mặt cũng chẳng màng đứng dậy tự giới thiệu để những khách mời ngoại cuộc như chúng tôi thấy được dung nhan ra sao.

Theo luật MTTQ, trên 50% thành phần UBTW phải là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam. Tuy MTTQ là một tổ chức ngoại vi của hệ thống chính trị, không có thực quyền, tuy là một tổ chức đại diện cho toàn dân tộc, cho xã hội dân sự mà đại đa số không phải là đảng viên, MTTQ cũng phải chấp nhận sự lãnh đạo không thể tranh cải của đảng. Ta biết động lực chính yếu của đảng, qua nhiều thời kỳ và bất cứ ở đâu là củng cố và tăng cường quyền lãnh đạo tuyệt đối của mình. Đây là hệ luận bất di bất dịch, xuất phát từ điều 4 của hiến pháp hiện hành. Đảng trấn an là đảng chỉ lãnh đạo chứ không làm thay. Nhưng trên thực tế, ban Tổ chức đảng không bao giờ sơ sót trong việc cơ cấu bố trí nhân sự để tất cả các tỷ lệ quyết định, các vị trí then chốt của tất cả các tổ chức chính quyền hay xã hội thuộc về các đảng viên, đặc biệt là phe phái đang thực sự nắm quyền…

Nhiều người đã nhận thức nguy cơ vì tính chất phẳng lặng cam phận này của MTTQ. Thực chất đây chính là một điểm yếu, một lỗi (từ của ông Nguyễn Trung gần đây nguyên Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An cũng có dùng) của hệ thống chính trị. Bởi vì, không có phản biện cấp cao, không có đối trọng được hiến pháp thừa nhận (hay có thừa nhận nhưng bị vô hiệu hóa) thì những bất cập về quốc kế dân sinh, về chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo sẽ không tránh khỏi. Thí dụ như dự án Bauxit Tây nguyên mà trên ba ngàn tinh hoa trí thức trong và ngoài nước đã liên tục phản đối và báo mạng Dân Trí thăm dò ý kiến độc giả trực tuyến cũng nhận được con số đáng kinh ngạc là có đến 93% độc giả đòi ngưng ngay. Thế mà MTTQVN chẳng có kiến nghị ý kiến nào hết, chẳng có, ngay cả một buổi tọa đàm trong khuôn khổ sinh hoạt hạn kỳ của mình ?

Ngày 23/2/2011 vừa qua, tại Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất về việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII do Ủy ban Trung ương MTTQVN tổ chức, ông Phó Chủ tịch Phạm Xuân Hằng cho rằng, để Mặt trận phát huy vai trò phản biện xã hội, cần sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Mặt trận năm 1999. Theo ông Hằng, phải tăng tính chủ động của Mặt trận đối với công tác giám sát, phản biện xã hội. Bởi nếu chỉ dừng lại ở quy định như hiện nay, Mặt trận chỉ có vai trò như “một dự thính viên” trong các hoạt động giám sát. Ông nói: “Cần cụ thể hóa những qui định, chế tài về công tác giám sát, phản biện vào trong luật vì Mặt trận sẽ không thể tự ra qui chế về giám sát, phản biện xã hội và nếu có thì qui chế đó cũng chỉ có tác dụng trong nội bộ tổ chức của Mặt trận”.

Giáo sư Tương Lai cũng có đề nghị phân tích, làm rõ vì sao Mặt trận chưa có cơ chế rõ ràng đối với công tác giám sát, phản biện của mình. Ông cho rằng, nếu không có một cơ chế rõ ràng, Mặt trận sẽ không thể đảm bảo được chức năng quan trọng này, đồng thời dễ dẫn đến dân chủ hình thức.

Ông Tổng thư ký Ủy ban TƯ MTTQVN  Vũ Trọng Kim cũng phát biểu khá chính xác: “Nếu Đảng đứng độc lập mà không phát huy được Mặt trận thì không khác gì Đảng bị cô lập, chuyên quyền, độc đoán. Chính vì vậy mà Đảng cần Mặt trận thực sự, chứ Mặt trận không phải là cây cảnh, lúc cần thì trưng lên. Phát huy tốt Mặt trận bao nhiêu thì vai trò của Đảng sẽ lên bấy nhiêu”.

Cũng tại hội nghị hiệp thương lần thứ nhất này, nhiều ý kiến đề nghị thêm đại biểu Quốc hội chuyên trách, đại biểu là người ngoài Đảng (đề nghị ít nhất phải là 20%), hạn chế bớt đại biểu từ cơ quan thuộc Chính phủ, nhất là các bộ trưởng và chủ tịch tỉnh.

Ông Nguyễn Túc nhấn mạnh, nhiều thành viên Chính phủ tham gia Quốc hội như vậy có thể dẫn đến tình trạng… vừa đá bóng vừa thổi còi.

Ông Đỗ Duy Thường, nguyên Phó Chủ tịch UBTWMTTQ VN cũng đề nghị QH cần từng bước nâng cao số lượng, chất lượng ĐB chuyên trách, không nên dành ghế ĐB cho quá nhiều bộ trưởng mà chỉ nên có một số một số bộ trưởng các bộ tổng hợp tham gia QH.

Liên quan đến việc giảm số lượng ĐBQH từ cơ quan hành pháp, ông Trần Hoàng Thám, Phó Chủ tịch UBMTTQ thẳng thắn: “Cơ quan hành pháp nên tự giảm ĐB trong Quốc hội”. Theo ông Thám, ở tỉnh thì Chủ tịch UBND cần dành sức làm Chủ tịch cho tốt, để người khác làm ĐBQH”.

Nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc thì ngậm ngùi: “Tôi đã 75 tuổi rồi, đi bầu cử rất nhiều lần, đã thấy chúng ta bầu Quốc hội như thế nào. Đến ngày bầu cử, chúng ta vào phòng bỏ phiếu; chúng ta được xem một danh sách ứng cử viên; chúng ta cũng đọc lý lịch ông này, bà kia; rồi chúng ta chọn… như thế là dân chủ quá rồi còn gì nữa. Nhưng thực ra đó cũng chưa phải là dân chủ, ở chỗ cái danh sách đó: Ai đưa ra? Đó là Mặt trận Tổ quốc, là Ban bầu cử; Nhưng danh sách đó ở đâu ra?…. Nhiều khi hỏi anh em, anh em cũng giật mình, bản thân mình cũng giật mình, là khi sáng bầu xong, tối vui miệng hỏi nhau bầu cho ai thì không mấy ai còn nhớ”.

Về vấn đề bầu người ngoài Đảng vào Quốc hội khóa mới, ông Đỗ Phượng (nguyên Tổng giám đốc TTXVN) cho rằng, không nên đưa ra chỉ tiêu tỷ lệ 10 hay 20%. Ông nói: “Nên mời vào Quốc hội những người tiêu biểu. Phải lựa chọn được những người tiêu biểu, trung thực, có tiếng nói với nhân dân vào quốc hội”.

Tuy nhiên vài ngày sau (1/3/2011), trao đổi với phóng viên Tuổi Trẻ, Tổng thư ký Hội đồng bầu cử Phạm Minh Tuyên tuyên bố chắc nịch: “Sau khi đoàn chủ tịch Ủy ban trung ương MTTQ VN tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ nhất bầu cử Quốc hội khóa XIII, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã họp và quyết định không điều chỉnh cơ cấu, thành phần (12-15% người ngoài đảng), số lượng đại biểu Quốc hội khóa XIII so với dự kiến ban đầu”.

Một lần nữa, hệ luận về động lực hành xử chính yếu của đảng khi cầm quyền đã được xác nghiệm. Mọi diễn biến sắp đến về bầu cử Quốc hiệu đã được phán quyết qua chỉ thị của Bộ Chính Trị đảng cộng sản Việt Nam. Chấm hết.

Tôi e rằng tuy tân Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhiều gần đây đến cụm từ dân chủ sau khi được Đại Hội XI bầu, một lần nữa những kỳ vọng chân thành và hợp lý cho khóa XIII sắp đến của Quốc Hội của nhà báo lão thành Trung Ngôn hay ông Tô văn Trường cũng sẽ là những ảo vọng…

Hãy xem biểu đồ sau đây về thành phần tỷ lệ đại biểu ngoài đảng từ quốc hội đầu tiên khóa I (1946-1960) cho đến quốc hội khóa XIII sắp bầu tháng 5/2011 (tôi lấy trung bình 13.5% dự định cho phép 12%-15%).

Đây là tư liệu chính thức của Quốc Hội Việt Nam

Biểu đồ vể số đại biểu QH và số ĐB ngoãi đảng qua nhiều thời lỳ

Biểu đồ vể số đại biểu QH và số đại biểu ngoài đảng qua nhiều thời lỳ

Các khóa Quốc Hội I

(46-60)

II

(60-64)

III

(64-71)

IV

(71-76)

V

(75-76)

VI

(76-81)

VII

(81-87)

VIII (87-92)

IX

(92-97)

X

(97-02)

XI

(02-07)

XII

(07-12)

XIII

(12-17)

Tổng số đại biểu

333
453
420
424
424
492
496
496
395
450
498
493
500

Số ĐB ngoài Đảng

143
64
103
103
110
94
61
31
33
68
51
43
62

%  ĐB ngoài đảng

43
14
25
24
26
19
12
6
8
15
10
9
13.5

Số đại biểu quốc hội và tỷ lệ ĐB ngoài đảng qua các khóa

Điều đáng chú ý là tỷ lệ đại biểu ngoài đảng khá cao ở những giao đoạn giao thời: 43% trong giai đoạn mới cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim (1946-1960) hay 26% trong thời điểm mới vừa thống nhất đất nước (1975-1976). Đó là những thời điểm đảng cần tiếng nói của các nhân sỹ có uy tín ngoài đảng nhưng gần gủi, ủng hộ cách mạng để củng cố chính quyền còn yếu. Nhưng sau khi các thế lực đối kháng không còn nữa, chính quyền do đảng lãnh đạo bắt đầu ổn định, thì miếng bánh Quốc Hội dành cho người ngoài đảng lập tức trở lại mức độ rất khiêm tốn: khóa II, 1960-1964, tỷ lệ chỉ còn 14%, khóa VIII, 1987-1992, tỷ lệ thấp nhất chỉ có 6%.

Bàn lây lan về Quốc Hội, tôi muốn chuẩn bị cho Bút ký phần 19 sắp hoàn thành: “Tôi ra ứng cử Quốc Hội khóa XII như thế nào”. Xin hẹn với độc giả lần sau.

Bây giờ xin độc giả cùng tôi trở lại với vài dư chấn đáng ghi sau bài phát biểu của tôi tại đại hội MTTQVN ngày 23/9/2004,  quảng trường ba Đình Hà Nội:

  1. Hình ảnh bài phỏng vấn tôi với đề tựa “Mối nguy của đất nước” do nhà báo Kim Hoa (Phụ Nữ TP Hồ Chí Minh) thực tại hành lang Đại Hội MTTQVN lần thứ VI và đăng tải ngày 25/9/2004.

phunu11

phunu21

2. Nội dung nguyên văn bài phỏng do hai nhà báo Tố Phương và Trường Kiên (VIETNAMNET-Người Viễn Xứ) thực hiện và đăng tải sau khi tôi trở về Sài Gòn (6/10/2004).

    VẤN ĐỀ CỦA CHÚNG TA

    “…Nếu bỏ lỡ vận hội này, sẽ có tội với tiền nhân”

    Mặc dù Đại hội đã kết thúc, nhưng đến hôm nay, trao đổi với Người Viễn Xứ, GS Hưng vẫn sôi nổi nhắc đi nhắc lại những điều mà ông luôn đau đáu trong lòng: “Khi lên phát biểu tại Đại hội, tôi rất cảm động. Cảm động trước sự long trọng của ngày Đại hội, trước màu sắc của đông đảo các đại biểu từ mọi miền đất nước về dự, tôi cảm nhận có một điều gì rất thiêng liêng. Vì xúc động mà trong lúc phát biểu, tôi đã quay về phía bàn chủ tịch và nói thêm một câu không có trong bài phát biểu đã chuẩn bị trước. Tôi nói: “Mạch giếng nước ngàn năm đã được khơi động lại, đây là vận hội cuối cùng, ta không có quyền xao nhãng, bỏ lỡ được, vì như thế sẽ có tội với tiền nhân”. Đây là điều suy nghĩ sâu kín nhất của tôi”.

    PV: Vận hội gì thưa giáo sư? Tại sao ông lại cho rằng đó là vận hội cuối cùng?

    GSTS Nguyễn Đăng Hưng: Tôi nói đó là vận hội cuối cùng, vì ta đã mở cơ chế, đã đi trên con đường hòa nhập, ta đã có hướng đi rất đúng. Vấn đề còn lại là hoàn thiện cơ chế phải qua những chính sách cụ thể, chọn lựa những con người có tài, quyết đoán để đưa đất nước đi lên. Khi đặt vấn đề ta cần gì, cần ai chúng ta mới thấy vai trò của Việt kiều trong việc có thể giúp hoàn thiện giấc mơ đưa đất nước Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hóa, một nước có thể theo kịp các nước tiên tiến. Việt kiều đóng vai trò thiết yếu bởi vì muốn đi tắt đón đầu, muốn đi nhanh thì ta phải sử dụng những người đã được đào tạo, tôi luyện, thử thách trên thị trường quốc tế, ở những nước tiên tiến, có nền công nghệ cao, có những sản phẩm chiếm lĩnh thị trường thế giới.

    Nhưng những Việt kiều tâm huyết như chúng tôi thì tuổi đã cao, sức bật, sức cống hiến không còn nhiều dù hiện nay vẫn còn khai thác được. Thế hệ Việt kiều thứ hai, thứ ba, vận động hướng về đất nước sẽ khó hơn nhiều. Họ là công dân của nước sở tại, và hình ảnh Việt Nam trong họ khác hẳn hình ảnh Việt Nam trong tâm khảm chúng tôi, đã có thời thơ ấu, thời thanh niên thấm đượm nền văn hóa Việt Nam, là người Việt Nam. Nhưng nếu chúng ta vận động được bậc cha chú thì ta sẽ vận động được thế hệ con cháu. Đấy chính là điều tôi muốn nói đến vận hội cuối cùng.

    PV: Thưa giáo sư, qua tiếp xúc với các đại biểu Việt kiều tham dự Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vừa qua, ông cảm nhận như thế nào về sự đồng thuận từ phía các đại biểu này?

    GSTS Nguyễn Đăng Hưng: Tại Đại hội này có nhiều đại biểu Việt kiều rất mới, có những người tuổi cao hơn tôi, có người là chuyên gia, trí thức, cũng có người là thương gia, công chức ở nước sở tại. Đây là hình ảnh chung của Việt kiều trên thế giới gồm nhiều tầng lớp. Nhưng sau bài tham luận của tôi thì mọi người đều nói với tôi rằng “chúng tôi rất hoan nghênh, rất cảm động, chúng tôi hoàn toàn đồng ý với những gì ông đưa ra”. Tôi có cảm tưởng không hẹn mà mọi người đều có chung một tâm nguyện và chỉ cần nói đúng tâm nguyện đó một cách chân thực, chí tình thì sẽ tạo được sự đoàn kết, đồng lòng.

    PV: Thưa giáo sư, trước tình hình đất nước hiện nay, nỗi băn khoăn chung của Việt kiều là gì? Họ quan tâm đến vấn đề gì nhất, chính trị hay kinh tế?

    GSTS Nguyễn Đăng Hưng: Điều mà người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm nhất là Việt Nam làm sao để phấn đấu, theo kịp các nước lân bang, thoát cảnh tụt hậu. Việt kiều cũng rất lo cho những điều kiện để thực hiện hoài bão này. Bởi vì trong một thời gian khá dài ta đã có những chính sách, có những tuyên bố tương đối tốt, nhưng qua việc thực hiện cụ thể, qua phương pháp làm việc, qua những cán bộ tiếp xúc với Việt kiều, thì thể hiện sự không đồng bộ, cho nên gây cho Việt kiều những tâm tư, mất lòng tin. Vấn đề bây giờ là lấy lại được lòng tin đó. Không gì khác hơn là phải qua những thực hiện cụ thể. Nghị quyết 36 là một văn bản chính trị, phải làm sao để văn bản chính trị này khác với những tài liệu chính trị đã có trước đây. Phải làm sao thể hiện cho được qua những phương pháp làm việc, những biện pháp cụ thể, qua những con người cụ thể. Đặc biệt là hình ảnh Việt Nam qua các đại sứ quán, qua những người cấp visa cho Việt kiều, hình ảnh Việt Nam qua cảng sân bay Tân Sơn Nhất và Nội Bài. Bên cạnh đó là phải thực hiện những quy chế đã đề ra như việc nhà cửa của Việt kiều. Những yêu cầu rất thông thường như người có tuổi muốn về nước sinh sống nốt quãng đời còn lại. Phải qua những việc làm cụ thể đó thì Việt kiều mới đánh giá đúng, mới có lòng tin trở lại và đồng tâm hiệp lực.

    PV: Có một số Việt kiều cho rằng Nghị quyết 36 chỉ nhằm khai thác tiềm năng kinh tế, trí thức của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, giáo sư nghĩ sao về điều này?

    GSTS Nguyễn Đăng Hưng: Họ đánh giá như thế cũng là chuyện bình thường, không nên coi họ là thù địch, mà nên xem họ là những người chưa thoát ra khỏi ảnh hưởng từ quá khứ đau thương của đất nước, mà trong đó họ có phần mất mát nên đã đánh giá như vậy. Cũng có thể có người vì đã quá thất vọng hay chưa hiểu hết ý nghĩa của Nghị quyết 36 nên nghĩ chưa thấu đáo.

    Tôi đã đọc Nghị quyết 36 và thấy rằng, Nghị quyết có quan tâm đến đời sống của Việt kiều ở nước sở tại, chứ không chỉ yêu cầu, đòi hỏi thôi. Nghị quyết cũng đã nêu rõ sẽ giúp Việt kiều hòa nhập, ổn định cuộc sống, và nếu nơi nào Việt kiều có vấn đề (như ở Thái Lan chẳng hạn), hay vấn đề về quốc tịch thì Nhà nước sẽ tháo gỡ. Nghị quyết lần này toát ra một cái mới là trước khi muốn Việt kiều đóng góp cho đất nước, thì Nhà nước phải có trách nhiệm làm gì cho Việt kiều, chẳng hạn việc giúp con em Việt kiều nói tiếng Việt… Những biện pháp đưa ra có thể chưa được thực hiện, có thể còn ít ỏi nhưng tôi thấy đây là một nét mới mà mình cần ghi nhận. Và nếu lần này Nhà nước làm đồng bộ, tâm huyết, làm thực, nói đi đôi với làm thì không sớm thì muộn khối đại đoàn kết toàn dân sẽ thực hiện được. Vấn đề nằm ở chỗ trong những ngày tháng tới ta làm gì, làm với ai, làm thế nào… là quan trọng nhất. Nếu không thông qua những công việc cụ thể, biện pháp cụ thể thì một tài liệu chính trị cũng chỉ là một tài liệu chính trị mà thôi.

    PV: Chúng ta thấy rằng cộng đồng người Hoa định cư ở nước ngoài có một sự gắn kết rất chặt chẽ với đất nước họ. Theo giáo sư, phải làm sao để cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là thế hệ thứ 2, thứ 3 có mối liên hệ gắn kết chặt chẽ với quê hương?

    GSTS Nguyễn Đăng Hưng: Tôi nghĩ rằng nhà cầm quyền phải làm nhiều hơn nữa nếu đem so sánh với Trung Quốc. Bởi vì đất nước Việt Nam đã trải qua một thời gian chiến tranh kéo dài, triền miên, rất đau thương, gây tang tóc cho người dân Việt Nam. Trong chiến tranh chống ngoại xâm, chống can thiệp đều có màu sắc nào đó của cuộc nội chiến. Cho nên cộng đồng Việt kiều thể hiện sự đau khổ, tang thương này. Vì thế đòi hỏi Việt Nam có một khối thống nhất như người Hoa một cách nhanh chóng thì chỉ là ảo tưởng. Một đất nước trải qua cuộc chiến tranh dài đằng đẵng như thế thì sẽ đọng lại nhiều vấn đề. Cho nên với cả những người có ý kiến ngược chiều ta cũng không xem là thù địch mà phải bình tâm xem xét. Đã đến lúc nhà cầm quyền phải ý thức, phải đặt vấn đề đại đoàn kết dân tộc lên hàng đầu, và nói như điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là lần này ta đoàn kết mà “không phân biệt ý thức hệ”, tôi cho điểm này là rất quan trọng. Ngay cả với những người không đồng ý với ý thức hệ của đảng cầm quyền cũng có chỗ đứng trong cộng đồng dân tộc. Phải tạo chỗ đứng thực sự cho họ, và nếu làm được việc này một cách cụ thể thì chắc chắn sẽ tạo được khối đại đoàn kết dân tộc. Bởi vì lòng yêu nước của người Việt nồng nàn hơn bất cứ một dân tộc nào, nó được hun đúc qua bề dày lịch sử dân tộc phải đấu tranh giữ nước. Cho nên phải khơi gợi tinh thần này bằng một ý chí bền bỉ, kiên nhẫn để người Việt phải trở về với dân tộc Việt. Đây chính là điều mà tôi hiểu về việc phát huy nội lực.

    PV: Như vậy, theo giáo sư, cụm từ “không phân biệt chính kiến, hệ tư tưởng” được nêu ra trong Đại hội thứ 6 vừa qua của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là khẩu hiệu hay hiện thực?

    GSTS Nguyễn Đăng Hưng: Tôi có một nguyên tắc là, luôn tin vào những gì mà người khác nói, chỉ sau đó, qua việc làm cụ thể thì niềm tin đó sẽ còn hay mất trong tôi. Cho nên khi quan điểm này được đưa ra tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc là tôi tin ngay, và tôi nắm bắt nó như một phương tiện để tôi đi từng bậc. Đây là một điểm mấu chốt rất quan trọng. Và tôi mong sẽ có một diễn đàn chính thức dành cho tất cả mọi đối tượng, có thể khởi đầu bằng các chuyên gia, trí thức để cùng trao đổi với nhau theo hướng không phân biệt ý thức hệ, tôn giáo, chính kiến, làm sao để thu hút được tài năng, trí lực của cộng đồng về cho đất nước. Cần phải có diễn đàn để tất cả mọi ý kiến đều được trình bày, cùng nhau suy nghiệm trên tinh thần khoa học, xây dựng, cầu tiến. Nếu diễn đàn đó được tổ chức tại Việt Nam thì tôi nghĩ đó sẽ là phương thuốc an thần để mọi người có thể yên tâm, tin tưởng.

    Ban tổ chức của diễn đàn phải tập hợp mọi thành phần rộng rãi, trong đó có các chuyên gia trong nước, có đại diện nhà cầm quyền, có chuyên gia trí thức Việt kiều, người có ý thức độc lập, thậm chí trái chiều cũng được cơ cấu vào ban tổ chức. Từ đó mới đảm bảo được tính rộng rãi, khách quan. Tôi đã từng tham gia tổ chức những diễn đàn như vậy vì thế tôi sẵn sàng tham gia tổ chức diễn đàn này, tôi sẽ cố gắng để đảm bảo tính khách quan, trung thực của diễn đàn.

    PV: Xin chân thành cảm ơn giáo sư.

    TỐ PHƯƠNG – TRƯỜNG KIÊN thực hiện

    Tags: Category: Bài viết, Bút ký
    You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. Both comments and pings are currently closed.

    2 Responses

    1. Nhin thay bai nay o dau roi thi phai, trong quen quen

    1. [...] Bút ký: Một thoáng về Mặt trận Tổ quốc và Quốc Hội Việt Nam (Nguyễn Đăng [...]