Monday, April 25th, 2011 | Author:
khanh-thanh22

Chụp chung với quan khách ngày khánh thành chương trình EMMC tại ĐH Bách khoa Tp. HCM

Những khó khăn ban đầu của việc trực tiếp chủ động

tham gia giáo dục đào tạo bậc cao học tại Việt Nam

Nguyễn Đăng Hưng

Bài này tôi tạm từ giả những vấn đề thời sự để trở lại thời điểm tháng 12/1995, ngày tôi bắt đầu triển khai dự án đào tạo cao học ngành dùng máy tính mô hình mô phỏng cơ học xây dựng tại Đại học Bách khoa Tp. Hồ Chí Minh (ĐHBK TPHCM). Những diễn tiến trước đó đã được ghi lại trong bút ký phần 14, đăng tải vào tháng 10 năm ngoái 2010.

Sau khi có sự can thiệp của Khoa giáo trung ương, mọi chuyện đã diễn tiến một cách thuận lợi. Bộ trường Trần Hồng Quân (6/10/1995) và Phó Thủ Tướng Phan Văn Khải (11/11/1995) đã lần lượt ra công văn chính thức cho phép triển khai chương trình đào tạo cao học Bỉ-Việt.

Như nhận một nhiệm vụ mới, tôi lên kế hoạch thực hiện ngay cho kịp thời hạn. Thật vậy, hạn cuối thời gian sử dụng ngân sách năm đầu là tháng 9 năm sau và những chi tiêu sau ngày ấy sẽ không được nghiệm thu. Tôi phải bố trí lại toàn bộ lịch sinh hoạt cá nhân: tăng cường suất dạy tại Bỉ để có thì giờ đi thỉnh giảng tại Việt Nam, giảm thiểu các dự án nghiên cứu khoa học công nghệ do tôi hướng dẫn và quản lý tại Bỉ, từ chối những lời mời tham gia các hội thảo khoa học quốc tế, bớt tham gia giảng dạy về công nghệ tính toán hỗ trợ các tập đoàn công nghệ tại Châu Âu… Và tôi chọn thời điểm nghĩ lễ Giáng sinh cuối năm 1995 để về Việt Nam một tháng triễn khai dư án, tổ chức khai giảng lớp đào tạo.

Phải nói là triển khai một dự án giáo dục tại Việt Nam (tôi chỉ nói cái tôi biết rõ) ngay cả khi được chính quyền cho phép là việc không đơn giản. Tại Việt Nam, xã hội đã đổi thay tận gốc, không có chuyện đương nhiên hay tự nhiên như tôi thường thấy tại châu Âu trong sinh hoạt dân sự. Mọi chi tiết sơ đẳng đều sẽ là những nghịch lý không ngờ trước được. Trên giấy tờ là một dự án hợp tác nhưng đối tác sở tại lại là một cơ sở nhà nước. Và theo thông lệ, tinh thần trách nhiệm vì cộng đồng là một phạm trù đã từ lâu vắng bóng trong các công sở. Tuy là dự án được triển khai tại trường mình cho sinh viên của mình, nhưng đối tác hình như rất ít quan tâm, chia sẻ công việc. Câu khẩu hiệu tôi thường nghe: “mình vì mọi người, mọi người vì mình” chỉ là câu nói trên đầu môi chót lưởi cho vui mà thôi. Trên thực tế cái cá nhân chủ nghĩa, cái thói ích kỹ mà tôi thường nghe bài bác phê bình, học tập đánh đỗ thường xuyên trên báo đài chính thống, lại là cách ứng xử phổ biến đã từ lâu ngự trị trong xã hội Việt Nam mà không xã hội tư bản mà tôi biết sánh bằng. Người ta chỉ tham gia khi có dính líu lợi ích trực tiếp mà thôi.

Cũng may, tôi đã lãnh hội rất nhanh bài học này nếu không, có lẽ không cách chi triển khai dự án. Cũng may, cơ chế kinh tế đã khá thông thoáng và khi anh có khả năng tài chính hay điều kiện chủ động hành chính thì anh có thể tìm không khó lắm nhân sự cộng tác có hiệu quả.

Thấy công việc tại chỗ phức tạp mà người đáng tin cậy được là quá ít, tôi đã có ý định cộng tác với một Việt kiều đã hồi hương cùng lĩnh vực khoa học công nghệ, thường trực cư trú tại Việt Nam. Nhưng tôi không thành công. Mới vào cuộc sát nhập văn phòng đã thấy trắc trở vì chuyện không đáng. Hợp tác Bỉ-Việt với tiền tài trợ 100% của chính phủ Bỉ, ít ra bản hiệu văn phòng phải được ghi rõ là hợp tác Bỉ-Việt chứ nếu không và nhất là để tên nước khác thì khi giáo sư Bỉ sang thỉnh giảng làm sao họ chấp nhận được. Vậy là phải ra ăn ở riêng. Đúng là tâm lý ứng xứ của người Việt trong đó có tôi, rất ư là phức tạp. Có người nói, một mình, người Việt có thể làm bằng hai, nhưng hai người Việt cộng lại thì rất khó làm ra được một việc đơn giản. Tôi ngậm ngùi trải nghiệm cái “chân lý” ngộ nghĩnh này!

Cũng may sau đó, Ban Giám hiệu ĐHBK HCM đồng ý giao riêng cho ĐH Liège ba phòng làm việc. Đó là yêu cầu vật chất tối thiểu có ghi trong văn bản ngay từ ngày ký kết: Phòng thư ký và các giáo sư thỉnh giảng, phòng máy tính và phòng giảng bài.  Nhưng than ôi, tình trạng trang trí và vệ sinh chưa đạt. Đây không phải là những văn phòng dùng cho hợp tác đẳng cấp quốc tế mà là chỉ là những chổ cư ngự tạm của người giúp việc nhà, ngày nay ta thường gọi là osin.

Vậy là phải nhanh chóng thiết kế tân trang sơn sữa, lắp đặt thiết bị văn phòng, bàn ghế mới, thay cửa ngõ mới. Chương mục này không trong dự án, đối tác nuớc sở tại bảo không có tiền chỉ trả, muốn cho được việc, tôi đành phải dùng tài chính riêng của văn phòng tôi tại Bỉ. Ba năm sau (1998) khi mở một chương trình đào tạo tương tự với Đại Bách khoa Hà Nội tình trạng này lại tái diễn. Thế mới biết tại Việt Nam, ngay cả dự án được quốc tế tài trợ, phải bỏ thêm tiền túi mới triển khai được dự án. Đây lại là một điều thật lạ lùng không giống ai trên thế giới! Cũng may tại Đại học Liège, tôi thuộc loại “giáo sư giàu” vì tôi đã có nhiều dự án nghiên cứu khoa học công nghệ đem lại cho văn phòng tôi một số tiền dự trữ không nhỏ…

Sau ngày thống nhất tiếp quản (1975) cán bộ giảng dạy được đào tạo tại phương Tây có chuyên môn gần gủi với tôi, giảng dạy tại khoa công chánh, xây dựng, thuộc trrường Cao đẳng Kỷ thuật Phú Thọ, tiền thân của Đại học Bách khoa Tp; HCM không còn nữa, trừ PGS.TS Nguyễn Thiện Tống mà tôi đã nhắc đến trước đây. Nhưng sau ngày ra ứng cử hiệu trưởng thất bại, đồng nghiệp này đã không có đủ ảnh hưởng quyền lực để giúp tôi. Các đồng nghiệp khác đều đến từ Hà Nội, được đào tạo từ Liên Xô, Trung Quốc hay các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Họ không sử dụng rành ngoại ngữ Anh hay Pháp để giao lưu với các đồng nghiệp đến từ Châu Âu. Đối tác trực tiếp thân thiết với tôi, PGS Phan Ngọc Châu biết tiếng Pháp, cũng là một nhân vật có hoàn cảnh cá nhân gia đình khá đặc biệt. Tuy là học sinh tập kết từ miền Trung gốc Quảng Ngãi, cựu sinh viên khoá I Đại học Bách khoa Hà Nội, ông không được đảng tin cậy và đã bị nhà nước gạch tên nhiều lần trên danh sách được cấp học bổng đi du học. Ông có nhiều thiện chí, rất trung thực, nhưng rất tiếc vì đang chuẩn bị nghỉ hưu nên cũng không cụ thể chia sẻ được cùng tôi các công việc.

Phải nhanh chóng hình thành một ban trợ lý học thuật thường trực có mặt tại Việt Nam, một văn phòng thư ký biết sử dụng thành thạo tiếng Pháp hay ít ra Anh.  Cũng may tôi đã có những dự án nhỏ trước đây và qua các dự án này tôi đã đào tạo được vài ba thạc sỹ có thời gian thực tập tại Bỉ, nhất là đã tiêu hoá được công nghệ tính toán của chúng tôi. Nhưng trên nguyên tắc, các dự án hợp tác quốc tế của Bỉ không được phép cấp lương cho nhân sự đối tác sở tại. Thế là phải nghĩ cách vừa tôn trọng nguyên tắc, vừa thực thi được công việc. Tôi đề nghị với cơ quan chủ quản tại Bỉ cho phép tôi dùng một phần ngân sách được cấp để thâu nhận nghiên cứu sinh Việt Nam, có thể thường trực tại văn phòng Bỉ-Việt. Và thay vì có lương, các nhân sự này được thụ hưởng học bổng chuẩn bị luận án tiến sỹ dưới hình thức đi đi về về, không thường trực tại Bỉ. Ý tưởng đào tạo hợp tác bậc tiến sỹ tại chỗ đã bắt nguồn từ đây.

Còn một việc nữa phải giải quyết. Không có mặt thường trực tại Việt Nam, làm sao tôi có thể tổ chức thi cử nghiêm túc, ngăn chặn những thói quen tiêu cực thường thấy trong các ký thi tại Việt Nam? Bài toán này khó giải quyết nhất. Nhưng cơ may lại bất chợt đến với tôi. Cơ quan hợp tác quốc tế của Cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp cho tôi hay là họ có thể gởi sang Việt Nam những thanh niên trẻ người Bỉ, mới tốt nghiệp đại học trong khuôn khỗ hợp tác quốc tế, những thanh niên không muốn thi hành nghĩa vụ quân sự vì lý cho có chính kiến riêng, thích hoà bình, không thích chiến tranh, không thích Liên Minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO)! Trong các thanh niên này có một cựu sinh viên ngành hàng không không gian, học trò cũ của tôi tại Đại học Liège, đã từng là nghiên cứu sinh trực thuộc văn phòng của tôi tại ĐH Liège. Tôi như vớ được cái phao cứu rỗi, can thiệp ngay với ban Giám hiệu ĐHBK TPHCM để gởi anh này về Việt Nam và trở thành trợ lý đắc lực của tôi tại lớp đào tạo cao học. Anh này được hưởng lương rất khiêm tốn từ chính phủ Bỉ, lương tương đương với lương lính mới của quân đội Bỉ. Khiêm tốn tại Bỉ, nhưng tại Việt Nam thì đủ sống thoải mái.  Chính nhân vật này đã tham gia giúp tôi giữ bí mật các đề thi cuối năm gởi qua từ Bỉ, kiểm tra nghiêm ngặt các buổi thi, bảo đảm tính nghiêm túc không khác gì tại Bỉ, điều kiện căn bản cho việc thành công của chương trình đào tạo sau này.

plaque-emmc

Có được những giải pháp hợp lý, tôi vững tin ở tương lai, quyết định đăng báo tuyển sinh và long trọng tổ chức lễ ra mắt chương trình đào tạo cao học Bỉ-Việt ngày 11/1/1996 tại trường đại học Bách khoa Tp Hồ Chí Minh. Buổi lễ rất thành công có mặt đông đảo quan khách Bỉ và Việt Nam cùng các đại diện báo đài tại Tp. Hồ Chí Minh tham dự.

Chỉ trong một tuần, trên 80 học viên đã đến văn phòng ghi tên tham gia thi tuyển và khoá đầu tiên của chương trình đào tạo thạc sỹ về ngành cơ học xây dựng (European Master in Mechanics of Constructions, EMMC) bắt đầu sau đó  một tuần với 26 học viên được chọn chính thức theo học.

Giáo sư khai giảng đầu tiên không ai khác hơn là tôi với bài giảng: “Cơ học vật rắn nâng cao”.

Liège ngày 24/4/2011

Tags: Category: Bài viết, Bút ký
You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. Both comments and pings are currently closed.

5 Responses

  1. 1
    Trần Minh Phương 

    Thưa thầy,
    Con biết thầy qua Blog khá lâu. Đọc và hâm mộ tấm lòng của thầy với các bạn trẻ. Đọc bài viết này thấy nghèn nghẹn ở cổ họng, sự bức xúc cho những tắc trách, trì trệ, lười biếng của những người có chức quyền, những người phải chịu trách nhiệm vì sự chậm tiến của đất nước. Càng khâm phục quyết tâm và những nỗ lực không ngừng nghỉ của thầy. Một điều con thấy hơi buồn cười là đa số mọi người đều than vãn về những bất cập, ấu trĩ, quan liêu, từ quan to đến quan bé. Nhưng nếu chúng ta không hành động và thay đổi hôm nay, mọi thứ sẽ chẳng bao giờ thay đổi. Có dịp hạnh ngộ rất bất ngờ với thầy trưa nay tại khu căn tin Liege làm con rất vui.
    Mong thầy thật nhiều sức khỏe, tiếp tục đóng góp cho những thay đổi lớn lao trong tương lai không xa. Mong chờ tiếp tục những bài viết sắc sảo và đầy chất thơ trên trang Blog của thầy để anh em bằng hữu xa gần ghé đọc thầy ạ.
    Với rất nhiều tình cảm quý trọng thầy
    Minh Phương

  2. Tuyet voi! Toi chua tung nghe toi viec nay. Ban qua la tuyet voi!

  1. [...] BÚT KÝ Phần 21 – Những khó khăn ban đầu của việc trực tiếp chủ động tham gia giáo dục đào t

  2. [...] trẻ). – TP.HCM: giảm sĩ số ở bậc tiểu học (Tuổi trẻ). – BÚT KÝ Phần 21 – Những khó khăn ban đầu của việc trực tiếp chủ động tham gia giáo dục đào t

  3. [...] trẻ). – TP.HCM: giảm sĩ số ở bậc tiểu học (Tuổi trẻ). – BÚT KÝ Phần 21 – Những khó khăn ban đầu của việc trực tiếp chủ động tham gia giáo dục đào t