Sunday, May 01st, 2011 | Author:
Lễ phát bằng khoá EMMC-II

Lễ phát bằng khoá EMMC-II

Những gai góc của việc hợp tác đào tạo:

Vấn đề xử dụng ngoại ngữ và vấn đề phân bổ học bổng dành cho học viên sang Bỉ

Nguyễn Đăng Hưng

Lớp đào tạo cao học Việt Bỉ tại trường Đại học Bách khoa (ĐHBK) Tp. Hồ Chí Minh đã thành hình và ít ra trong ba năm, cỗ xe nhỏ này sẽ lăng theo kịch bản mà tôi đã soạn thảo dưới hình thức một dư án chi tiết về hợp tác đào tạo quốc tế.

Tuy nhiên, cũng như tôi đã nói trước đây, sau nhiều năm bao cấp, Việt Nam đã là một môi trường đặc biệt, một xã hội mà những giá trị tinh thần, tri thức đã như bị đứt đoạn hay phá vỡ. Cỗ xe con EMMC tại Sài Gòn và sau này thêm MCMC tại Hà Nội, không thể không gặp những tình huống bất cập, khó giải quyết. Tôi sẽ phải đối mặt với nhiều điều mới lạ, hậu quả của một thời lịch sử biến động, của những quyết sách khó hiểu, những biện pháp khó luờng, những con người của cơ chế!

Trong căn phòng của người anh vợ cho ở tạm, nằm đêm suy nghĩ, tôi quyết định vạch cho mình một hướng giải quyết cho tương lai.

1. Nhất quyết không thoả hiệp với những xu hướng tiêu cực phát xuất bất cứ từ đâu, học viên, phụ huynh hay cơ quan chức năng.

2. Áp dụng phong cách xử lý, quyết đoán trên căn bản dân chủ, theo thông lệ ở Bỉ, tranh thủ sự ủng hộ của các đồng nghiệp, nhất là đồng nghiệp Bỉ và các cơ quan chức năng của hai phía.

3. Nhanh chóng hình thành những tiền lệ, những cơ sở văn bản quyết định có tính cam kết hẳn hoi để khỏi phải đối chất bị động sau này.

4. Đứng về phía kẻ yếu, người nghèo, có hoàn cảnh khó khăn…

Tôi tổ chức một buổi họp tại văn phòng với các cộng tác viên (ban trợ giảng, ban thư ký…) phổ biến ba điểm trên để họ vững tin trong hành xử hằng ngày khi tôi vắng mặt. Điểm sau cùng chỉ là điểm dùng cho bản thân tôi.

Cái khó đầu tiên là vấn đề ngoại ngữ. Phần lớn những học viên được đào tạo trung học và đại học sau ngày thống nhất 30/4/1975. Họ không rành tiếng Anh, đừng nói đến tiếng Pháp. Trình độ có thể nói là rất kém so với những nơi khác mà tôi đã đi qua trong các chương trình hợp tác quốc tế khác. Ngoài ra EMMC là một chương trình hợp tác của Cộng đồng các Đại học Bỉ nói triếng Pháp tài trợ, tôi không thể làm trái những tiêu chuẩn đã đề ra.

Phải chọn tiếng Anh thôi

Thao thức mãi về việc tìm cách giải quyết, tôi đi đến một quyết định như sau: Đây là một chương trình chuyển giao tri thức công nghệ, nhất quyết không để vấn đề ngôn ngữ làm vật cản. Quan trọng là nội dung các bài giảng là điều kiện học tập của sinh viên. Tôi phải lên kế hoạch tranh thủ nhà tài trợ, các đồng nghiệp để họ ủng hộ tôi theo hướng này. Vấn đề đặt ra là phải nhanh chóng sắp đặt thành thông lệ, thành văn bản cam kết mà hai phía đối tác sẽ phải tôn trọng.

Việc tôi làm ngày đầu là tham khảo công khai ngay tại lớp học để chọn lựa ngôn ngữ chính. Tôi yêu cầu bỏ phiếu dơ tay và trong 26 sinh viên hiện diện chỉ có 2 người đồng ý dùng thiếng Pháp. Thế là tôi lập biên bản và chọn lựa tiếng Anh là ngôn ngữ chính. Trong số 10 giáo sư tham gia giảng dạy có 3 giáo sư Việt Nam, còn lại đa số là người Bỉ. Tôi quyết định đồng ý để các giáo sư Việt Nam dùng tiếng Việt (vì làm sao họ có thể dạy tiếng Anh  tốt được?), chỉ yêu cầu họ cải tiến giáo trình cho phù hợp với tính hiện đại của chương trình. Tôi ưu tiên dùng ngân sách tổ chức ngay cho họ sang Bỉ để họ có điều kiện tham khảo sách vở, giáo trình hiện đại của các nhà khoa học Bỉ. Bản thân tôi cũng cố gắng dùng tiếng Việt trong những buổi giảng. Tôi đã phải cố gắng rất nhiều vì ở nước ngoài quá lâu, tôi chưa quen với những thuật ngữ toán học, cơ học tiếng Việt. Tôi bố trí một học viên khá rành tiếng Anh tiếng Pháp ngồi hàng ghế đầu. Thỉnh thoảng bí từ, tôi nghé mắt về phía em này là được em nhắc nhở ngay. Tôi chỉ gặp khó khăn năm đầu thôi, năm sau là chuyện đâu vào đấy.

Tôi viết thư cho các đồng nghiệp Bỉ là nên chuẩn bị giáo trình bằng tiếng Anh. Nếu không có cũng phải chuẩn bị giảng bằng tiếng Anh và giáo trình tiếng Pháp sẽ chỉ là hồ sơ tham khảo. Cũng may các giáo sư Bỉ đều nói tiếng Anh khá tốt và vì phần lớn là những nhà khoa học tầm cỡ quốc tế, thường đi thỉnh giảng nhiều nơi nên đã thủ sẳn những giáo trình hay sách xuất bản bằng tiếng Anh. Tiện đây cũng xin nhắc lại là các giáo sư Bỉ, không một ai ăn lương của dự án. Dự án chỉ có khả năng hoàn lại chi phí khách sạn, vé may bay mà những chi tiêu tối thiểu hằng ngày mà thôi.

Vấn đề hóc búa là làm sao giải thích với cơ quan chủ quản tại Bruxelles, vì sao một dự án của một đại học nói tiếng Pháp, triển khai tại một nước thuộc địa cũ của Pháp mà phải dùng tiếng Anh?.  Tưởng khó nhưng không.  Sau khi trở lại Bỉ, tôi tìm gặp ngay ông Viện trưởng trường đại học Liège và có được sự ủng hộ của ông. Sau đó, tôi lên Bruxelles giải bày với bà Tổng thư ký quỷ hợp tác. Sau mấy phút giải thích là từ ngày Pháp từ giả Đông Dương, người Mỹ can thiệp vào Việt Nam, chỗ đứng của tiếng Pháp ít ra ở Miền Nam Việt Nam đã gần như không còn nữa. Và bữu bối của tôi là biên bản tham khảo ý kiến của các học viên cái ngày mà tôi bắt đầu khoá học.  Tôi cũng giải thích thêm là nếu không như vậy sẽ có quá ít người học mà các học viên này chưa chắc là những học viên giỏi. Tôi hứa sẽ chọn người giỏi gởi sang Bỉ và thông thường người giỏi toán thì khả năng học ngoại ngữ sẽ nhanh thôi. Tại Bỉ họ sẽ học sử dụng tiếng Pháp và khi về Việt Nam hành nghề, họ sẽ là những véc tơ tiếng Pháp hữu hiệu cho việc hợp tác kinh tế Bỉ Việt trong tương lai.

Bà Tổng thư ký đã không do dự nói ngay là bà rất thông cảm và sẽ báo cáo sự việc cho Hội đồng quản trị thông qua những quyết định tại chỗ của tôi.  Người Bỉ như có chất tố dân chủ trong máu, họ luôn luôn bảo vệ quyền lợi dân lành, những gì hợp với lẽ công bằng.

Tôi cũng trình bày quan điểm này lên cơ quan Hợp tác Đại học Quốc tế nói tiếng Pháp (AUPEL&UREF tiền thân của Agence universitaire de la Francophonie ngày nay) khi đi họp ở Paris hay Québec (Canada) và việc này có ảnh hưởng không nhỏ cho sự chọn lựa sau này của họ về vấn đề mấu chốt: Đi chung với tiếng Anh tại Việt Nam hay bác bỏ nó để chuốc lấy thất bại!

Tuy vậy, sau này các đồng nghiệp cũng không khỏi than phiền với tôi là các em Việt Nam được sang Bỉ xử dụng tiếng Anh quá tệ và không cách nào trao đổi để hướng dẫn họ có hiệu quả. Họ rất phiền là phải nói đi, nói lại nhiều lần, nhất là sinh viên Việt Nam lúc nào cũng gật đầu “yes, yes” nhưng sau đó làm ngược lại vì không hiểu nội dung trao đổi.

Tôi lại phải tổ chức một buổi đàm đạo với các đồng nghiệp. Tôi kê ra những sai lầm của chính quyền sau ngày vào Sài Gòn, nhất là quyết định tiến nhanh tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa, củng cố phe ta, bãi bỏ các sinh ngữ phương Tây trong chương trung và đại học. Bây giờ đổi mới để hoà nhập phát triển, tuổi trẻ Việt Nam đang phải trả giá cho những sai lầm này. Đây là một hậu quả của lịch sử để lại, hoàn toàn ra ngoài tầm tay của tôi. Tôi mong họ thông cảm. Tôi mong họ kiên nhẫn với sinh viên người Việt, những nạn nhân của chiến tranh. Tôi đề nghị họ trao đổi qua chữ viết, e-mail thay vì thảo luận vì sinh viên Việt Nam học tiếng Anh không bài bản, viết và đọc khá hơn nghe và nói nhiều. Tôi bảo đây là những học viên giỏi, tôi hy vọng sau một vài tháng tình trạng sẽ có thay đổi thôi.

Tôi rất cám ơn các bạn đồng nghiệp ấy, đã tin ở tôi và không hề phản ảnh khó khăn nầy lến nhà tài trợ. Họ đã làm như vậy trong 12 năm và sau này có người vỗ vai tôi thân mật bảo rằng tôi hoàn toàn có lý về việc này và đã làm những gì cần thiết lúc ban đầu.

Phải phân bổ học bổng cho công bằng

Việc thứ hai là vấn đề phân bố học bổng du học ngắn hạn tại Bỉ hay các nước Châu Âu. Cái khó là đối tác trực tiếp luôn luôn muốn kéo chiếc chăn khiêm tốn này về chiếu mình, dùng cho các thành viên đang có biên chế tại trường mình. Vấn đề là chưa chắc họ có trình độ đạt chỉ tiêu và dự án chúng tôi không thể ủng hộ quốc sách cơ cấu kiểu phe phái hay thân nhân được.  Cũng may trước đây, tại ĐHBK Tp.HCM trong thời gian triển khai các dự án nhỏ, tôi đã phải chiến đấu trường kỳ để sau cùng có hồi hết tích cực về việc này.

Số là thời ấy; giai đoạn 1991-1992, tôi cũng có xin được từ hoặc từ chính phủ Bỉ hoặc thông qua AUPEL-UREF những dư án nhỏ cho phép tôi về Việt Nam thuyết trình khoa học, chọn lựa nghiên cứu sinh, giao cho họ đề tài và tài liệu để nghiên cứu. Sau một năm trắc nghiệm em nào làm việc có hiệu quả cao, có báo cáo khoa học tốt, tôi giới thiệu với cơ quan chức năng tại Bỉ để họ hưởng được học bỗng một năm sang Bỉ, chuẩn bảo vệ luận văn thạc sỹ. Đây là các bằng cấp bên Bỉ gọi là trình độ DES (Diplôme d’Etude Spéciale), bên Pháp là DEA (Diplôme d’Etude Approfondie). Trong số những em được chọn, có một em họ Bùi, không có biên chế, không có chỗ đứng nghiên cứu sinh ở cơ quan nào cả, một loại nghiên cứu sinh tự do. Em này nếp nhà theo đạo thiên chúa, tính tình có chút ương ngạnh nhưng rất giỏi, tiếng Anh khá tốt, viết báo cáo khoa học rất nhanh và đạt được chuẩn quốc tế.

Tôi quyết định dành cho em này một suất đi Bỉ và như thường lệ, tôi chuyển hồ sơ lên ban Giám hiệu để họ chuẩn y trước ngày chuẩn bị xin hộ chiếu xuất ngoại.  Lúc ấy cũng có một nghiên cứu sinh thân nhân của một người trong ban Giám hiệu nhưng em này không giỏi và không được chọn. Thề là hồ sơ họ Bùi bị ngâm tôm mãi cho tới đến cuối năm học và vẫn chưa có chữ ký. Tôi viết thư hỏi thăm và giải thích rõ là theo thông lệ, phía Bỉ không thay đổi ý kiến khi đã chọn lựa nhân sự theo tiêu chuẩn khách quan là khả năng nghiên cứu khoa học. Trong trường hợp phía Việt Nam không chuẩn y thì phía Bỉ rất tiếc là sẽ giữ lại học bổng cho nước khác chứ không thay thế tên người khác theo hướng cơ cấu của phía Việt Nam.  Và tôi giữ lập trường, âm thầm bố trí xin hoản học bổng này một năm tại Bỉ. Hai năm sau, ban Giám hiệu đồng ý ký văn bản.  Và chính em này, sau khi bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ, đã về Việt Nam tham gia tích cực, giúp tôi tuyển sinh khoá đầu tiên dự án EMMC và sau đó đã tổ chức thành công các buổi thực tập của giáo trình do tôi phụ trách. Nghiên cứu sinh này đã theo học và bảo vệ xuất sắc luận văn tiến sỹ sau này.

Giải pháp thoả đáng và công bình của sự kiện này sẽ là chiều khoá quí hiếm cho những quyết định phân bố học học bổng trong khuôn khổ dự án EMMC.  Tôi đề nghị ghi trong biên bản ký kết thông lệ cho việc này như sau: “Những sinh viên đỗ đầu năm đầu sẽ là những sinh viên được cấp học bổng tập sự tại Bỉ trong năm kế tiếp dùng cho việc sửa soạn luận văn”. Và văn phòng EMMC cứ như thế mà hành xử sau này. Mọi áp lực, mọi cú điện thoại bất chợt, bất cứ từ đâu, đều được trả lời ngắn gọn:

“Xin ông tham khảo bản sắp hạn kết quả học trình cuối năm. Nếu sinh viên này đứng trong danh sách đỗ đầu thi chắc chắn được đi Bỉ. Còn không như thế thì chịu. GS Hưng chỉ là người điều hành dự án, một trong mười giáo sư tham gia giảng dạy, ông không có quyền sữa đổi bản điểm của các đồng nghiệp nhất là các đồng nghiệp Bỉ vì họ luôn luôn khách quan vô tư”.

Phải nói là từ đó phía Việt Nam đã tôn trọng thông lệ này một cách rất bền bĩ và nghiêm túc.

Sinh viên chương trình EMMC thực tập tại Bỉ tham gia lễ Tết tại Bruxelles

Sinh viên chương trình EMMC thực tập tại Bỉ tham gia lễ Tết tại Bruxelles

Nhưng đến năm thứ 10 thì có sự cố ách tắt.  Năm ấy một ban Ban Giám hiệu mới của ĐHBK Tp. HCM vừa được chỉ định. PGS.TS Chu Quốc Thắng, thành viên điều hành phía Việt Nam đã gần một thập kỷ nay phải thuyên chuyển lên Đại học Quốc gia. Một vị Phó Hiệu trưởng chủ nhiệm văn phòng hợp tác quốc tế mới được bổ nhiệm và ông này sẽ đương nhiên là thành viên điều hành dự án EMMC phía đối tác Việt Nam.  Tuy là một người khá trẻ đã từng du học tại Anh thế mà đã xử sự rất bất cập đối với dự án chúng tôi. Ông ta không chịu ký văn bản xác định danh sách học viên do tôi đề nghị hằng năm theo thông lệ. Ông ta đòi là phải để cho phía Việt Nam chọn lựa, cơ cấu danh sách! Văn phòng EMMC chuyển cho ông ta văn bản đã ký kết và giảỉ thích lý do của thông lệ này nay đã thành luật hành xử chung, nhưng không có kết quả. Thông thường văn bản phải ký khoản trong tháng 6, tháng 7 để các học viên còn thì giờ làm hộ chiếu, VISA kịp sang Bỉ vào ngày tựu trường 15 tháng 9.  Đã tháng 11 rồi mà mọi việc đều khựng lại ở đây. Chỉ còn hai tuần nữa là khoá sổ, mất toi mấy cái bổng du học quí giá mà tôi chắt chiu xin được, dành cho các sinh viên học giỏi.

Tôi quyết định bay về Sài Gòn rồi liên lạc xin yết kiến ngay ngài Đại sứ Bỉ tại Hà Nội. Tôi thỉnh nguyện lần này Đại sứ cho phép các học viên lấy VISA du lịch và như vậy theo thông lệ chữ ký của Ban Giám hiệu ĐHBK là không cần nữa. Tôi còn nhớ hôm ấy ngài Đại sứ Bỉ ôn tồn vỗ vai tôi và thân mật nói đùa trêu tôi: “Chúng tôi sẽ làm theo giáo sư yêu cầu. Yêu cầu của một người Bỉ nổi tiếng nhất ở Việt Nam như giáo sư thì làm sao tôi có thể từ chối được!”. Rồi một tuần sau là các học viên lên đường đi Bỉ. Một thông lệ mới vừa thành hình. Kể từ nay chữ ký phía Việt Nam không cần thiết nữa. Những năm còn lại chúng tôi cứ thế mà hành xử.

Các đồng nghiệp Việt Nam cho tôi hay là ông Hiệu phó mới này sẽ là vật cản cho việc Việt Nam hoá chưong trình EMMC sau này. Thật vậy, trước khi chuẩn bị về hưu, kết thúc chương trình hợp tác Bỉ-Việt, tôi có thảo một dự án mới với hy vọng duy trì chương trình cao học, giao lại cho những đồng nghiệp trẻ đã thành danh qua dự án EMMC, tiếp tục đào tạo thầy cho Việt Nam, những thạc sỹ, tiến sỹ chính hiệu chất lượng, nhưng không thành.

Người ta thường bảo cái khó ở Việt Nam là tại cơ chế. Nhưng cơ chế là cũng do con người đặt ra và con người có toàn quyền sữa đổi khi cần. Vấn đề là cơ chế không thoáng sẽ tạo ra một lớp người hẹp hòi, thiển cận và tham lam. Lớp người này sẽ duy trì cơ chế để bảo vệ quyền lợi của mình hay phe phái mình. Phe phái, lớp người này, ngày nay ta gọi là các nhóm lợi ích, hành xử như các tập đoàn tài phiệt vậy!

Liège ngày 1/5/2011

Tags: Category: Bài viết, Bút ký
You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. Both comments and pings are currently closed.

6 Responses

  1. 1
    Khoanguyen 

    Thật khâm phục cho tấm lòng của GS. Nước Việt có được nhiều người như GS thì chắc không phải như giờ rồi. Về phần Chu Quốc Thắng, thì quá nổi tiếng rồi, chắc ai học cao học của BK TPHCM thì cũng biết. Đặc biệt, ông này còn có tên trong Tạp chí GS dỏm nữa.

  2. 2
    Trọng Hiền 

    Thật khâm phục giáo sư!
    Những bài học và câu chuyện của Giáo sư kể ra đây sẽ là một kinh nghiệm quý giá cho những người muốn dấn thân cải cách nền giáo dục VN sau này.

    @bạn KhoaNguyen: có lẽ bạn hơi nhầm lẫn khi đọc bài này, theo ý GS Hưng, riêng đối với EMMC, ông Chu Quốc Thắng đã có những đóng góp tích cực cho chương trình đào tạo này trong 10 năm điều hành đầu tiên.

  3. Vài nhận xét trên blog Nguyễn Xuân Diện về bài này.
    Xin phép chuyển về đây:
    http://nguyenxuandien.blogspot.com/2011/05/but-ky-cua-gs-nguyen-ang-hung-phan-23.html

    xấu hổ quá nói…

    Tôi cũng là một cán bộ giảng dạy tại DHBK-TPHCM, tôi cũng đi du học nhiều năm ở nước ngoài mới về nên không rõ ngài hiệu phó mà Giáo sư đề cập tới là ai, sao không thấy bài ký nhắc đến trong khi PGS TS Chu Quốc Thắng thì rõ ràng ? Xin cho biết để còn nhớ mặt đặt tên.

    07:23 Ngày 02 tháng 5 năm 2011
    Đông Lâm, HT nói…

    Cảm giác thật lẫn lộn khi đọc xong bài này. Phần thì xúc động, thương yêu, quý mến, khâm phục giáo sư Nguyễn Đăng Hưng vì tấm lòng tâm huyết đối với sự nghiệp GDĐT nhân tài cho đất nước. Phần nữa là căm phẫn, uất ức đến nghẹn lòng trước thái độ của bè lũ hẹp hòi, thiển cận và tham lam. Bè lũ sâu bọ này là bọn hại nước, hại dân, cần phải loại bỏ.

    09:56 Ngày 02 tháng 5 năm 2011
    người Quảng Nôm nói…

    ở Việt nam hiện này không có một chương trình cao học quốc tế nào cho khối ngành kỹ thuật, chỉ toàn khối ngành kinh tế, tài chính. Vậy mà chương trình EMMC sau 10 năm hoạt động phải dừng lại…buồn quá. Gần đây báo chí hay nói đến sự phát triển thần kỳ của kinh tế Hàn quốc, chỉ sau 40 năm, cũng chỉ một thế hệ mà người Hàn đã đưa đất nước họ từ nước nghèo nhất thế giới, năm 1963, thu nhập bình quân đầu người khoảng 100$, bằng 1/3 Philipine lúc đó, đến 1996 học gia nhập OECD, câu lạc bộ các nước giàu. Tất cả cũng chỉ vì Khoa học kỹ thuật, họ có hẵn một viện đào tào kỹ thuật từ đại học đến cao học gọi là Viện công nghệ cao KAIST, còn ở mình có mỗi chương trình EMMC mà cũng đấu đá, phe phái …để rồi dừng lại, thì suốt đời mãi mãi đi xin, vay mượn ODA thôi!
    18:49 Ngày 02 tháng 5 năm 2011

  1. [...] Bút ký-Phần 23-Những gai góc của việc hợp tác đào tạo:Vấn đề xử dụng ngoại ngữ và vấn [...]

  2. [...] học 2011-2012: Dạy tiếng Anh 4 tiết/tuần cho học sinh tiểu học (Người LĐ). – Bút ký-Phần 23-Những gai góc của việc hợp tác đào tạo:Vấn đề xử dụng ngoại ngữ và vấn [...]

  3. [...] học 2011-2012: Dạy tiếng Anh 4 tiết/tuần cho học sinh tiểu học (Người LĐ). – Bút ký-Phần 23-Những gai góc của việc hợp tác đào tạo:Vấn đề xử dụng ngoại ngữ và vấn [...]