Thursday, May 19th, 2011 | Author:
Buổi lễ phát bằng Châu Âu tại Hà Nopợi có mặt Đại sứ Bỉ tại Việt Nam, người thứ ba hàng đầu từ trái sang

Buổi lễ phát bằng Châu Âu tại Hà Nội có mặt Đại sứ Bỉ tại Việt Nam, người thứ tư hàng đầu từ trái sang

Những khách quý đến từ Châu Âu và những con người của cơ chế

Nguyễn Đăng Hưng

Những tấm lòng

Nếu không có sự tham gia nhiệt tình của các giáo sư đến từ châu Âu thì các chương trình đào tạo cao học quốc do tôi đề xướng không thể nào triển khai có hiệu quả.  Tại Sài Gòn mỗi niên khoá là tôi phải điều động 7 giáo sư, tại Hà Nội 5. Sau 12 năm tổng số đã có đến trên 200 chuyến của các đồng nghiệp ngoại quốc, đi thỉnh giảng tại Việt Nam trong khuôn khổ hai chương trình EMMC và MCMC. Mỗi người phải cư trú ít nhất là 2 tuần mới giảng xong giáo trình 24 giờ lý thuyết và 24 giờ thực tập. Một khoản thời gian khá dài như vậy là một cố gắng đáng kể dành cho sinh viên Việt Nam, nhất là đối với những giáo sư đầu ngành như họ, quanh năm suốt tháng bận rộn vì giảng dạy, nghiên cứu khoa học, tham gia Hội nghị quốc gia và quốc tế.

Không có tấm lòng đặc biệt với Việt Nam, không có cảm tình riêng với người đề xướng và điều hành, thì họ sẽ khó làm được như thế. Nhất là dự án không có điều kiện trả lương, chỉ hoàn trả chi phí đi lại và ăn ở, không đem lại cho họ lợi ích đáng kể. Điều kiện tiếp rước lại khá hạn hẹp. Dự án đã quyết định không mua xe con, chi phí dùng cho xe đưa rước các giáo sư đã chuyển thành học bỗng tại chỗ giúp học viên nghèo rồi. Tại Việt Nam hoặc họ phải lấy taxi hoặc học viên tổ chức thay phiên rước thầy bằng xe gắn máy cá nhân. Thế mà không ai phàn nàn về việc này. Ngược lại, họ phản ảnh lại với nhà tài trợ là dự án dùng ngân sách rất chặt chẻ và đã cho phép họ gần gủi được với học viên, không có khoản cách của thầy đến từ nước giàu với học viên của một nước nghèo, trên đường phát triền. Họ rất thích được giao lưu với đám học trò qua những buổi đi uống càfé ngoài phố hay đi du lịch dã chiến : về đồng bằng sông Cữu Long, lên Tây Nguyên, ra Mủi Né… Tại Hà Nội các địa điểm tham quan du lịch lại càng phong phú hơn.

GS Pierre Beckers (nười thứ tư từ trái sang) về Sài Gòn tham gia buổi bảo vệ luận văn thạc sỹ

GS Pierre Beckers (người thứ năm từ trái sang) về Sài Gòn tham gia buổi bảo vệ luận văn thạc sỹ

Có người chỉ đi Việt Nam thỉnh giảng một lần rồi thôi. Nhưng đại đa số đã thể hiện tinh thần trách nhiệm rất cao. Có người như GS Pierre Beckers, bạn thân 40 năm của tôi, một chuyên gia đầu ngành về hoạ đồ cấu trúc phức tạp qua máy tính, đã đi suốt 11 năm, chỉ bỏ một lần vì phải đi Chi Lê. Một đồng nghiệp khác cùng ngành đến từ ĐH Tự do Bruxelles (ULB) đã tạm thay thế ông. Có người như giáo sư René Maquoi chuyên gia hành đầu Châu Âu về cấu trúc composit bêton cốt sắt cao cấp đã đem cả khoa mình ra gánh chịu giáo trình này. Nếu bận không đi được thì sẽ có Phó Chủ nhiệm thay thế, tôi khỏi phải bận tâm. Một giaó sư nỗi tiếng khác là GS Michel Géradin, chuyên gia hàng đầu về mô hình mô phỏng trong động lực học. Ông thường nói với tôi:

“Đi Việt Nam thích thật, nhất là khâu ẩm thực. Phải nói thức ăn Việt là nhất thế giới, rất ngon lại nhẹ nhàng, phù hợp mới thời đại mới. Đi Việt Nam mỗi ngày ăn no nê mà sau khi về Bỉ lại xuống ký lô!”

Rất tiếc, GS Géradin sau chuyển thỉnh giảng cho lới EMMC I, đã phải ngừng giúp tôi vì ông được bổ nhiệm làm Giám đốc nghiên cứu trong Trung tâm Cơ học Châu Âu đặt tại Ispra, miền Bắc nước Ý.

Sau này khi dự án được mở rộng, được Liên Hiệp Châu Âu (EU) tài trợ, các sinh viên Việt Nam Nam và Bắc lại được các giáo đến từ Hà Lan (Delf), Pháp (Paris, Lille, Marseille, Montpellier), Ý (Napoli, Milano), Thụy Điển (Luleå)…, thay phiên nhau sang giảng dạy…

Trong trên 10 lần tôi soạn thảo dự án xin tài trợ Châu Âu, chỉ có hai lần là thành công. Các lần khác tôi phải ngậm ngùi chịu thất bại sau bao nhiêu công sức bỏ ra vận động, nhất là dự án thành lập một Trung Tâm đào tạo cao học quốc tế tại quê tôi, Quảng Nam Đà Nẳng với sự tham gia của 10 trường Đại học Châu Âu, 12 trường Đại học Việt Nam, Lào và Campuchia. Dự án có tính đến việc học bổng cho học viên đến từ Viêng Chăn, Nam Vang, Hà Nội, Sài Gòn, nên tổng kinh phí quá cao…

Lòng ngường mộ, nỗi thất vọng và lòng tin được vực dậy

Cũng may tôi đã khá quen với lĩnh vực đào tạo hợp tác liên đại học tại Châu Âu. Trong những thập niên 80 khi sau khi hợp tác kinh tế tại Châu Âu đã phát triển toàn diện, các nhà lãnh đạo dần nghĩ đến hợp tác đại học, lần lần tạo dựng một sân chơi chung cho các nước thành viên. Một trong những chương trình khá thành công là chương trỉnh có tên ERASMUS qua đó các trường sẽ được Ủy ban kinh tế Châu Âu tài trợ nếu cùng nhau xây dựng những dự án giao lưu trao đổi sinh viên. Tôi đã cùng với giáo sư Marcel Save, trường Cao đẳng công nghệ Mons (Bỉ), đứng ra đề xướng một chương trình đào tạo bậc cao học, quy tụ được 14 trường đại học có tiếng tại Châu Âu, đáng kể nhất là : Cao đẳng Bách khoa Paris (Pháp), trường Cầu đường Paris (Pháp), Đại học Paris VI (Pháp), Đại học Công nghệ Milano (Ý), Đại học Pavia (Ý), Đại học Aristote Thessalonique (Hy Lạp), Đại học Công nghệ Lisboa (Bổ Đào Nha), Đại học Leicester (Anh)… Chính qua dự án này mà tôi học hỏi được cách điều hành liên đại học, nhất là có dịp giao lưu thường xuyên với các đồng nghiệp đến tư nhiều trường lớn tại Châu Âu. Chương trình này kéo dài những tám năm, rất thành công. Tổ chức đào tạo cao học tại Việt Nam chỉ là một nhịp cầu mới, mở rộng vươn ra liên lục địa Âu Á. Và vì đã giao lưu quen biết, tin tưởng nhau, các đồng nghiệp đã hưởng ứng đi Việt Nam ngay khi tôi đưa ra yêu cầu…

Nói chung người Châu Âu dành cho Việt Nam những cảm tình đặc biệt. Tại Bỉ liên tục trong hai thập kỷ Quốc hội Bỉ đã thông qua đề nghị của Bộ hợp tác quốc tế chọn Việt Nam là một trong ba nước có quyền ưu tiên được tài trợ chi phí hợp tác. Công cuộc chiến đấu lâu dài và bền bỉ vì độc lập dân tộc, chống thực dân đế quốc, đã để lại cho nhân dân Châu Âu (và có thể nói cho nhân dân yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới) những cảm tình đặc biệt và sâu sắc. Rất tiếc là Việt Nam sau ngày thống nhất đã không tranh thủ được hết tiềm năng tình cảm này. Nhất là vì tầm nhìn chính trị thiển cận, vì chính sách phân biệt đối xử hẹp hòi, đấu tranh giai cấp trong lòng nhân dân, đưa hằng triệu người Việt ra biển cả, đã làm ngụi đi biết bao con tim, làm thất vọng biết bao thiện chí của bạn bè quốc tế…

Cũng may sau 1986, chính sách đổi mới đã vực dậy chút ít lòng tin… Những thanh niên xuống đường đi biểu tình đòi hoà bình cho Việt Nam trong những thập niên 60, 70 thế kỷ trước, nay đã là những nhà lãnh đạo chính trị, nhà giáo kỳ cựu, nhà khoa học thâm niên. Tại Âu Châu với nền dân chủ tư sản, không có chuyện phân biết đối xử vì chính kiến, không có việc xem xét lý lịch điều tra quan điểm hành động trong quá khứ. Và họ còn giữ được tấm lòng cho Việt Nam. Không có những tấm lòng này, những chương trình hợp tác ít kinh phí như các chương trìng EMMC, MCMC sẽ không thề nào huy động được sự tham gia nồng nhiệt và bền bỉ của các giáo sư người Châu Âu vậy…

Thói thường tình hiện đại trong giao lưu quốc tế

Tuy nhiên, việc giao lưu tiếp rước khách quốc tế cũng đôi lúc có những cảnh cười ra nước mắt vì một thứ văn hoá khá bất ngờ của các đối tác phát xuất từ cơ chế. Tôi còn nhớ, trước giai đoạn đào tạo thạc sỹ tại chỗ hàng loạt, tôi có những dự án nhỏ cho phép tôi về Đại học Bách khoa Tp. HCM (BK Tp. HCM) tổ chức những khoá học ngắn hạn về phương pháp phần tử hữu hạn, rất bổ ích cho việc tính toán thiết kế các cấu trúc xây dựng phức tạp. Tôi thường đem về cùng với tôi những trợ giảng người Bỉ làm việc gắn bó với tôi tại đại học Liège đã nhiều năm. Năm ấy (1992-1993) tôi về Sài Gòn cùng với TS Patrick Morelle, một chàng thanh niên Bỉ cao to bảnh bao tuổi đời mới có 35, tính tình có phần hơi hời hợt trẻ con. Buổi sáng tôi lo phần lý thuyết, buổi chiều Patrick lo phần thực hành trên máy tính. Sau một tuần làm việc, chương trình giảng dạy chấm dứt. Một buổi liên hoan được tổ chức tại khuôn viên nhà trường. Nhà trường lên diễn đàn cám ơn các giáo sư thỉnh giảng rồi tặng cho họ những bó hoa tươi thắm, những món quà mỹ nghệ Việt Nam. Tôi thoáng thấy bó hoa của Patrick thật là đồ sộ rực rỡ. Bó hoa dành cho tôi, là giáo sư trưởng, nhưng có phần khiêm tốn. Gói quà cũng trương tự.

Điều mà tôi bất bình là hậu quả sau đó. Thật vậy, sau khi cùng nhau trở về khách sạn, Patrick cười to và nói với tôi, nửa đùa, nửa thật:

“Thấy không, ở Bỉ “toa” là “chef” của “moa” nhưng về Việt Nam ngược lại, “moa” đã trở thành “chef”".

TS Patrick Morelle (người bên lề phải, hàng đầu) về Việt Nam giúp tôi thỉnh giảng

TS Patrick Morelle (người thứ hai từ phải, hàng đầu) về Việt Nam giúp tôi thỉnh giảng

Hơi buồn năm phút, sau đó tôi đã đi tìm gặp ban tổ chức trách móc :

“Quý vị sính người nước ngoài như vậy là xúc phạm đến tôi. Tôi là giáo sư trưởng, Patrick nguyên là học trò của tôi đã lâu rồi, từ khi bắt đầu vào đại học, đã từng làm luận văn ra trường sau đó làm luận án tiến sỹ cũng dưới sự hướng dẫn của tôi. Nay tay này là trợ giáo của tôi, làm việc dưới sự điều động của tôi. Thế mà các ngài đối xử không tế nhị, đảo ngược tôn ti trật tự đã hình thành tại Bỉ để cho anh ta có những lời như vậy. Chính đây là những phê phán gián tiếp về văn hoá ứng xử phân biệt đối xử của quý vị. Tôi mong việc này không tiếp tục trong tương lai. Nếu không, hoặc tôi về Đà Nẳng, hoặc tôi xuống Cần Thơ hợp tác, quý vị sẽ không thấy tôi trở lại đây nữa”.

Cũng may đây là lần duy nhất, sau đó tôi không có gì phải phàn nàn cả. Ngược lại, có lần họ thay đổi hơi quá đáng. Mấy năm sau một phái đoàn Bỉ cùng về với tôi, họ không phải là nhà giáo, họ là những người quản lý chính sách hợp tác đại học. Bó hoa và gói quà dành cho tôi lại quá to so với những người Bỉ đi cùng. Tôi lại e ngại dặn dò :

“Nên tặng quà ít thôi, như nhau cho dân chủ và mọi người sẽ cùng nhau vui vẻ thôi!”

Ngài Đại sứ Bỉ tại Hà Nội, ngày trưởng phòng  Lãnh sự Bỉ tại Sài Gòn và phái đoàn lãnh đại ĐH Liège đứng chụp lưu niệm dưới tấm bản của văn phòng EMMC

Ngài Đại sứ Bỉ tại Hà Nội, ngài trưởng phòng Lãnh sự Bỉ tại Sài Gòn và phái đoàn lãnh đại ĐH Liège đứng chụp lưu niệm dưới tấm bản của văn phòng EMMC

Trong thời gian công tác tại Hà Nội, trường Bách khoa cũng như tại cơ quan Bộ GD&ĐT, cái cảnh sính người ngoại quốc Tây Âu như vậy lại càng phổ biến hơn. Khi đi chung với phái đoàn Bỉ hay phái đoàn các nước nói tiếng Pháp, tôi thấy phía Việt Nam người ta có vẻ ân cần, mời mọc chiêu đải người Âu-Mỹ chính gốc trang trọng hơn tôi, tuy tôi chính là người tổ chức chuyến đi, đưa khách quốc tế đến với họ.

Tôi bảo với bản thân nên làm một cái gì để họ vỡ lẽ vì cái thói vô duyên này.

Nguyên bộ môn tôi có một nhân viên kỹ thuật có biên chế xin về tá túc. Anh này là một kỷ thuật viên vậm vỡ cao to, đẹp trai. Tôi vốn chỉ chuyên về mô hình mô phỏng cấu trúc qua máy tính, không có phòng thí nghiệm nên chỉ dùng người này cho việc trang bị văn phòng, chuẩn bị thiết bị khi có sê-mi-na… Cuối năm vì thi vấn đáp quá đông sinh viên, tôi gọi anh này đến chùi bản phấn giúp tôi, nhanh nhẹn, kịp cho sinh viên khác vào phòng phỏng vấn. Tôi hay dùng bản phấn trong thi cử, khi phỏng vấn từng sinh viên. Tôi cho như vậy mới là minh bạch sáng tỏ, sinh viên không cách gì tráo trở sao chép được. Lâu lâu có công tác chính thức như hội họp tại Bỉ, anh này chính là tài xế lái xe cho tôi.

Nhân một dịp có một phái đoàn đại học Việt Nam được tôi mời sang Bỉ thảo luận về mở rộng hợp tác Việt-Bỉ, tôi bảo anh này:

“René ơi, giúp tôi nhé. Anh lấy xe tôi lái lên sân bay Bruxelles đón họ. Anh nên lựa một bộ đồ thật chiến, thắt cà vạt thật sang, bộ đồ dành cho ngày hội. Khi gặp họ, anh tự giới thiệu sự thật anh là nhân viên kỷ thuật của văn phòng giáo sư Nguyễn Đăng Hưng. Anh được tôi phái đi rước họ và chở họ về khách sạn. GS Nguyễn vì quá bận, không đich thân đi đón được, nhưng sẽ tiếp mọi người tại văn phòng hôm sau. Anh nên nói chậm rãi, chửng chạc để họ kính nể mình, không coi thường văn phòng chúng ta, nhất là kính nể cách làm việc chu đáo của chủ nhiệm văn phòng qua kỹ thuật viên”.

Khỏi phải nóí sau đó phái đoàn đã nhìn tôi với con mắt thế nào và mọi kỳ thị thường thấy đều tan biến!

Chưa hết, một lần khác, tôi cùng một trợ lý khác TS Géry de Saxcé, một học trò xuất sắc của tôi gốc người Pháp, cùng về Việt Nam giảng dạy đề tài tương tự. Ông de Saxcé nay đã trở thành Giáo sư trưởng tại trường Đại học Lille (Pháp), một nhà cơ học nỗi tiếng vì những cống hiến lừng lẫy về lĩnh vực mô phỏng luật ứng xử của các vật liệu không chuẩn (đất, cát…). Lần này chúng tôi mở rộng hợp tác, không những chỉ với đại học (BK Tp. HCM) mà còn với một viện khoa học cùng ngành. Sau đợt giảng dạy lý thuyết do tôi phụ trách, để chuẩn bị cho việc thực tập ngay tại viện, ông de Saxcé cài đặt trước hệ thống chương trình SAMCEF (Système d’Analyse des Milieux Continus par Eléments Finis) trên các máy tính của viện. Ngày hôm sau, khi đến làm việc, tôi nhận được báo cáo của ông de Saxcé:

“Các phiên bản cài đặt và thử nghiệm thành công hôm qua, hôm nay không chạy nữa. Có ai đêm qua đã vào máy lục lạo, có ý định xấu bẻ khoá điện tử. Thế là phải hoản lại buồi thực tập cho nghiên cứu sinh, phải cài đặt phần mền lại từ đầu”.

Ông cũng nghiêm khắc trách tôi là đã chọn lựa đối tác không đúng chỗ và sẽ báo cáo lại việc này với sở hữu chủ hệ thống SAMCEF tại Bỉ.

Dĩ nhiên ngay hôm sau, tôi đã phàn nàn với Giám đốc viện:

“Quí vị sao tệ quá vậy. Khi chúng tôi phổ biến chương trình SAMCEF, chúng tôi đã chuẩn bị một phương án hợp tác lâu dài trong đó có việc trao tặng cho viện những phiên bản cần thiết cho nghiên cứu sinh thường trực sử dụng. Nếu quý vị tôn trọng luật chơi, chẳng những quí vị không tốn đồng nào vì đây là tài trợ, nhưng quí vị sẽ còn nhận được sự hổ trợ thường xuyên của kỷ thuật viên của chúng tôi, quý vị còn sẽ nhận được phiên bản mới khi có cải tiến. Nay quý vị làm mất lòng tin và sau báo cáo của ông de Saxcé, chuyện sẽ chờ đợi là quý vị sẽ không có gì cả”.

Quả thật sau đó tôi phải chấm dứt hợp tác với viện này. Đây là điều kiện để tôi tiếp tục sử dụng SAMCEF miễn phí trong việc thực tập các giáo trình về mô phỏng việc ứng sử của cấu trúc phức tạp trong những điều kiện hiễm nghèo. Giáo trình này là giáo trình cơ bản mà chúng tôi đã tiếp tục triển khai trong khuôn khổ hai chương trình EMMC và MCMC.

Tôi chụp ảnh lưu niệm cùng các đồng nghiệp Bỉ tại trường ĐH Kinshasa, Congo (Bỉ)

Tôi chụp ảnh lưu niệm cùng các đồng nghiệp Bỉ tại trường ĐH Kinshasa, Congo (Bỉ, 1984)

Khi khái niệm tư hữu và công hữu đã trở thành khập khiển

Người của cơ chế quả không giống ai. Tác phong và hành động của những người này đã đi đến chỗ bất bình thường, chỉ có thể xảy ra trong một xã hội đầy bất trắc, một xã hội mà nền móng truyền thống nhân nghĩa, tôn trọng của tư và của công bị phá vỡ.

Tôi thấy nó nao nao giống xã hội mà tôi đã kiêm nghiệm sau gần bốn năm giảng dạy tại Châu Phi, xứ Congo thuộc Bỉ. Tại Congo một xã hội phát xuất từ hoang sơ, chưa ổn định như vậy đã tồn tại lâu năm. Nhưng lý do phát xuất hoàn toàn khác. Tại Congo, công nghiệp chưa phát triển, nông nghiệp chưa có tổ chức được như Việt Nam truyền thống với hệ thống làng xã, đã sớm vươn lên thành nền tảng của sản xuất quốc dân, từ nghìn năm trước. Tại Congo sản xuất còn mang màu sắc hái lượm, đất đai chưa được tư hữu hoá một cách có hệ thống. Và khi họ không phân biệt được của công và của tư, họ hay lẫn lộn sự việc của cải vật chất, đất đai. Và tác phong ăn cắp của công hay của người khác dần dần không được xã hội xem là tội lỗi…

Đây chính là nguy cơ tiềm ẩn ngày càng bộc lộ tại Việt Nam. Ta phải chờ đợi là một xã hội như vậy rất khó có tổ chức nghiêm túc và minh bạch để phát triển bền vững và ổn định.

Liège ngày 19/5/2011

Tags: Category: Bài viết, Bút ký
You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. Both comments and pings are currently closed.

2 Responses

  1. Lời bình trên http://nguyenxuandien.blogspot.com/2011/05/but-ky-cua-gs-nguyen-ang-hung-phan-25.html
    ___
    Đông Lâm, HT nói…

    Cứ mỗi lần đọc xong một phần bút ký của giáo sư Nguyễn Đăng Hưng cảm giác vui buồn lẫn lộn. Vui vì những việc giáo sư đã làm được cho đất nước, buồn vì cái cơ chế, vì con người của cơ chế.
    Biết ơn, kính trọng, khâm phục con người giáo sư Nguyễn Đăng Hưng bao nhiêu thì căm giận, khinh bỉ, lên án con người cơ chế bấy nhiêu.
    Một con người bình thường chắc chắn đã phải bỏ cuộc. Với giáo sư tấm lòng yêu nước nồng nàn, tất cả vì tổ quốc, vì nhân dân, tấm lòng tâm huyết đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo nhân tài cho đất nước đã giúp giáo sư vượt qua tất cả những khó khăn, trở ngại để hoàn thành sứ mệnh.
    Cảm ơn giáo sư Nguyễn Đăng Hưng!
    Cảm ơn Lâm khang chủ nhân!
    00:29 Ngày 20 tháng 5 năm 2011

  2. Lời bình của Út V. Lê trên facebook
    http://www.facebook.com/h.nguyendang/posts/124476900966100

    Em công nhận sự kiên nhẫn của Thầy. Em nghĩ chính tấm lòng của Thầy đã giúp Thầy kiên nhẫn đến thế. Xe 800 triệu một chiếc mà các quan còn chê, trong khi dự án của Thầy thì một chiếc xe cũ cũng không! Em cứ nghĩ Thầy được nhà công vụ, có ch…