Tuesday, May 24th, 2011 | Author:
Các giáo sư đến từ trường ĐH Bách Khoa Tp. HCM và Hà Nội, các giáo sư ĐH Liège tham gia dự án EMMC, các nghiên cứu sinh Việt Nam trong buổi tiếp tân tại khu vườn nhà tôi tại vùng lân cận thành phố Liège

Các giáo sư đến từ trường ĐH Bách Khoa Tp. HCM và Hà Nội, các giáo sư ĐH Liège tham gia dự án EMMC, các nghiên cứu sinh Việt Nam trong buổi tiếp tân tại khu vườn nhà tôi tại vùng lân cận thành phố Liège

Thử thách của một ngành khoa học công nghệ

qua giao lưu hợp tác quốc tế

Nguyễn Đăng Hưng

Những chuyến thăm viếng các Đại học Châu Âu dành cho các giáo sư Việt Nam

Một trong những mục đích quan trọng của các chương trình đào tạo cao học do tôi đề xướng lại Việt Nam là tạo điều kiện cho các giáo sư tại chức có dịp giao lưu với giới đại học Châu Âu, tham quan trao đổi, cải tiến giáo trình và nghiên cứu khoa học. Tôi ưu tiên tổ chức những chuyến thăm viếng các Đại học Châu Âu cho các giáo sư Việt Nam, đã được mời tham gia dự án. Tôi cũng mở rộng sau này cho các giáo sư tham gia hướng dẫn luận văn, các vị lãnh đạo các trường Đại học hay các quan chức tại Bộ GD&ĐT, cấp bậc từ vụ trưởng trở lên. Trung bình tại Sài Gòn và Hà Nội, mỗi năm có trên hai chuyến đi. Như vậy tổng cộng 8 khoá tại Hà Nội và 12 khoá tại Sài Gòn đã có gần 50 chuyến tham quan. Dự án có chuẩn bị kinh phí đủ để các giáo sư Việt Nam có thể lưu trú từ 2 tuần đến 1 tháng tại Châu Âu. Toàn bộ chi phí do nhà tài trợ lo liệu. Tiền cấp phát khá hào hiệp và các thành viên đều có thể có dự trữ tiết kiệm mang về sau chuyến đi. Nhất là khi tôi cố gắng bố trí được phòng trọ trong cư xá sinh viên, rẻ hơn nhiều so với khách sạn.

Đâu là mục đích của khoản chi quan trọng này?

1. Tạo điều kiện để các giáo sư Việt có điều kiện gặp gỡ, giao lưu với với các nhà khoa học ngành tôi (Mô hình, mô phỏng vật liệu và cấu trúc qua máy tính), hợp tác nghiên cứu khoa học, hợp tác công bố các kết quả khoa học trên báo chí quốc tế.

2. Tạo điều kiện để các giáo sư Việt Nam tham khảo tài liệu hiện đại, cải tiến giáo trình giảng dạy tại các truờng đại học Việt Nam.

3. Tạo điều kiện để các thành viên lãnh đạo đại học hay Bộ GD&ĐT thảo luận với các đối tác quốc tế, có dịp học hỏi cụ thể về các chính sách và phương pháp quản lý giáo dục tiên tiến đã thành nề nếp tại Châu Âu, chẳng hạn như chế độ tự trị đại học.

Hội Thảo Quốc tế Nha Trang 2000 về chủ đề môb phỏng tương tác giữa cấu trúc và thủy khí. Từ phải sang trái : GS Nguyễn Hoa Thịnh, GS Nguyễn văn Đạo, GS Nguyễn Đăng Hưng, GS Nguyễn văn Điệp, GHS Phạm Khắc Hùng và TS Đoàn Đức Bảo

Hội Thảo Quốc tế Nha Trang 2000 về chủ đề mô phỏng tương tác giữa cấu trúc và thủy khí. Từ phải sang trái : GS Nguyễn Hoa Thịnh, GS Nguyễn văn Đạo, GS Nguyễn Đăng Hưng, GS Nguyễn văn Điệp, GS Phạm Khắc Hùng và TS Đoàn Đức Bảo

Ba mục đích đưa ra đều không đạt kết quả mong đợi.

Những nhận định tôi nghi lại sau đây có một giá trị thống kê nhất định cho số nhân sự này, những nhà khoa học sinh hoạt trong ngành cơ học của tôi, những người mà tôi có tiếp xúc và có hồ sơ khoa học khá chi tiết về họ.  Sau này đọc sách báo Việt Nam, tôi thấy có lẽ những ngành nghề khác cũng có tình trạng tương tự. Tuy nhiên, tôi có cảm tường ngành toán và vật lý lý thuyết ít trầm trọng hơn.

Để có thực hiện mục tiêu thứ nhất, tôi đưa ra yêu cầu trước khi chính thức gởi giấy mời, điều kiện cần cho Đại sứ quán Bỉ cấp VISA. Tôi yêu cầu ứng viên gởi cho tôi bản tóm tắt lý lịch khoa học, nghi rõ những công bố khoa học đã xuất bản. Tôi cũng yêu cần ứng viên chuẩn bị ít nhất một buổi thuyết trình khoa học tại Châu Âu về chuyên môn của mình, thời gian thuyết trình không quá một tiếng đồng hồ.

Phải nói tôi khá thất vọng. Tình trạng chung không mấy khả qua. Hầu hết các giáo sư, các nhà khoa học Việt Nam được tôi mời đi Châu Âu tham quan không có hay có quá ít ỏi các công bố khoa học có tính mới mẻ, đã đăng tải trên các tạp chí quốc tế. Tệ hơn nữa, sau hai năm tổ chức những buổi thuyết trình tại Đại học Liège, tôi phải quyết định cho ngưng, hủy bỏ tiết mục này. Các đồng nghiệp đến từ Việt Nam, không có những công trình nghiên cứu đạt tiêu chuẩn quốc tế, ngoại ngữ lại không thành thạo. Tôi còn nhớ có lần tôi mời một nhà cơ học hàng đầu của Việt Nam sang Bỉ, tổ chức cho ông một buổi thuyết trình tại khoa hàng không không gian chúng tôi. Vì tôn trọng nhân vật này, tôi đã chọn lựa thời điểm thuận lợi nhất, ra sức huy động cho đông đảo các nghiên cứu sinh, các giáo sư ngưởi Bỉ tham dự. Nhưng đến cuối giờ chỉ còn có mình tôi còn ở lại hội trường lắng nghe. Các khán thính giả vì không quan tâm đã từ từ rút lui khỏi phòng họp lúc nào không hay ! Tôi phải chấm dứt thôi vì tôi không thể tra khảo thêm các đồng nghiệp tại Bỉ.

Họp mặt tại Liège về đào tạo liên kết bậc Tiến sỹ. Từ phải sang trái: GS Phạm Sỹ Tiến, TS Willy Legros, Viện truièờng ĐH Liège, GS Nguyễn Lê Ninh, Hiệu trường trường ĐH Xây Dựng Hà Nội và GS Nguyễn Đăng Hưng

Họp mặt tại Liège về đào tạo liên kết bậc Tiến sỹ. Từ phải sang trái: GS Phạm Sỹ Tiến, TS Willy Legros, Viện trường ĐH Liège, GS Nguyễn Lê Ninh, Hiệu trường trường ĐH Xây Dựng Hà Nội và GS Nguyễn Đăng Hưng

Việc giao lưu cộng tác nghiên cứu cũng không khá hơn. Tôi chưa thấy giáo sư Bỉ hay Châu Âu nào cùng một giáo sư Việt Nam, sau ngày gặp gỡ cùng nhau cộng tác để làm khoa học, viết báo cáo chung, chưa nói đến việc đưa ra những công trình chung đăng tải trên báo quốc tế.

Chỉ có một người duy nhất làm việc này là chính tôi. Tôi đã cộng tác với nữ phó giáo sư Ngô Hướng Nhu của viện Cơ học Hà Nội xuất bản một bài báo về tính toán một cấu trúc vỏ đặc biệt khi dùng phần mền SAMCEF của đại học Liège. Nhưng bài báo này chỉ xuất hiện trên một tạp chí trong nuớc, tạp chí “Cơ học”. Tôi cũng đã cùng với GS Nguyễn Văn Mạo, trường đại học Thủy lợi Hà Nội viết nhiều công trình về việc thiết kế và tính toán các thảm bê tông đặc biệt dùng cho việc bảo vệ bờ biển, bờ sông chống lại tình trạng xâm thực, xói lỡ. Phần lớn những bài này cũng chỉ đăng tải trên báo chí trong nước, trừ có lần xuất hiện trên kỷ yếu Hội nghị Việt-Nhật về thủy lợi.

Tình trạng tụt hậu của khoa học Việt Nam, ít ra trong ngành của tôi là điều không thể chối cải.

Vì sao vậy? Có nhiều lý do. Trước hết các trường đại học Việt Nam đã lâu rồi sao nhãng một sinh hoạt thiết yếu cho một người dạy đại học là nghiên cứu khoa học. Việc bổ nhiệm chức danh giáo sư cũng không thông qua những tiêu chuẩn cần thiết tối thiểu là có kinh nghiệm nghiên cứu, có công trình nghiên cứu có giá trị quốc tế. Mấy năm gần đây có chút cải tiến, nhưng chưa đến nơi đến chốn. Có lẽ phải vài thế hệ nữa mới có hiệu quả.

Phần lớn các giáo sư, các nhà nghiên cứu của các viện đều được đào tại tại Liên xô cũ, Trung Quốc hay các nước Đông Âu. Đề tài nghiên cứu của ngành chúng tôi cần dụng cụ căn bản là máy tính và ngôn ngữ tin học. Nhưng so với Tây phương, những năm 70, 80 của thế kỹ trước, các nước xã hội chủ nghĩa hiện thực, trên thực tế bị tụt hậu có đến gần ba thập kỹ! Khi tôi về Việt Nam làm khoa học lần đầu tiên năm 1977, tôi đã không gặp được một nhà khoa học cùng ngành để chia sẻ thông tin.

Thế là phải bắt đầu từ đầu. Nhưng không may, mười năm bao cấp đã không thể tạo cho tôi điều kiện thuận lợi trực tiếp đi về đóng góp.

Hình chụp tại Khoa Hàng Không không gian, ĐH Liège. Từ phải sanh trái: GS Phạm Khắc Hùng, GS François Ronday, GS Nguyễn Đăng Hưng và GS Ngô Duy Cẩn

Hình chụp tại Khoa Hàng không Không gian, ĐH Liège. Từ phải sang trái: GS Phạm Khắc Hùng, GS François Ronday, GS Nguyễn Đăng Hưng và GS Ngô Huy Cẩn

Không có định hướng chiến lược cụ thể về phát triển công nghệ

Thông thường ở đâu cũng vậy, không phải chỉ có ở Việt Nam. Không có cây đa, cây đề nào quan tâm thì ngành nghề sẽ không có mặt.  Tại Việt Nam, trong một số ngành công nghệ, trên danh  nghĩa cũng có nhiều cây đa cây đề, nhưng không hiểu tại sao thực chất nghiên cứu có tính khai phá, có tính mới mẻ không còn nữa. Họ không bám rễ được để thành những cây đại thụ vững chắc, đủ bãn lĩnh, khả năng và tầm cỡ để tạo dựng cho được một trường phái, một tập thể cùng nhau bàn bạc, trao đổi nghiên cứu. Không có một môi trường nhân văn trung thực bất vụ lợi như vậy thì rất khó phát triển khoa học. Tôi thấy trong lãnh vực cơ học, nhiều nhà khoa học đã rất thoả mái với vai trò quan chức, với điều kiện vật chất ăn theo, dần dần quên đi chức năng nhà khoa học của mình. Cũng chẳng có cơ chế điều tiết, chẳng có ai phản biện nhắc nhỡ họ trở về với nhiệm vụ chuyên môn ban đầu.

Những người khác vì được đào tạo tại một môi trường khoa học đã lỗi thới, họ đã chọn hướng khoa học không là mũi nhọn nữa, nay trở thành bế tắc. Vậy mà nếu chút ít phương tiện giao lưu, có chút kinh phí là họ kéo về con đường mòn nhà mình. Họ không đủ tầm đủ tâm để giúp tuổi trẻ chọn lựa hướng đi mới, gần với thực tế công nghệ, liên dới đến phát triển kinh tế. Cơ chế quản lý khoa học tại Việt Nam vận hành như một cỗ máy đơn điệu, không có tư duy, không tự điều chỉnh được. Đây chính là điều mà ngay nay các học giả nhẹ nhàng bảo là “lỗi hệ thống”…

Tuy việc gì tại Việt Nam cũng phải có lãnh đạo, có ý kiến của cấp trên, tôi chưa bao giờ chứng kiến một chiến luợc phát triển công nghệ khoa học nào tại Việt Nam. Tôi muốn nói đến chiến lược cụ thể có phương pháp đi theo, chứ không phải sự chỉ đạo chung chung của các nhà tuyên giáo. Không có chọn lựa ưu tiên cụ thể, không có những đề nghị chiến lược cần thiết cho một nuớc trên đường phát triển, phát xuất từ các nhà khoa học chân chính, không có chuẩn bị và bố trí nhân sự hợp lý ngay từ khâu khởi sự, thì việc tụt hậu khoa học là điều không tránh khỏi.

Chẳng hạn trong ngành của tôi, ngành mô hình mô phỏng là ngành khoa học căn bản hiện đại, có thể thúc đẩy công nghệ thiết kế cơ khí, cấu trúc xây dựng, hàng không, hàng hải, giao thông vận tải, hầm mỏ, đê điều… Thế nhưng ở đây, nào ai có tri thức nhận diện được việc này ở cấp lãnh đạo có được kế hoạch đào tạo và nghiên cứu khoa học dài hạn làm tiền đề cho quốc sách công nghiệp hoá. Định hướng chung chung thì có hàng tá, lặp đi lặp lại mãi, nhưng định hướng và phương pháp cụ thể cho việc thực hiện thì thường vắng bóng tại Việt Nam!

Một thí dụ điển hình nhất là quốc sách đào tạo 20 ngàn tiến sỹ (mới đây lại tăng lên 24 ngàn). Kế hoạch to tát như vậy, nhưng ta nào thấy những đáp án cho việc thực hiện: Làm sao tìm được đối tượng có khả năng nghiên cứu khoa học, điều kiện để có những tiến sỹ có thực chất ? Làm sao có thầy hướng dẫn có chất lượng tại Việt Nam và tại nước ngoài? Cách thế nào ngăn chặn các hành vi tiêu cực đã rất phổ biến như mua bằng, đào tạo liên kết dỏm? Ngành nào cần nhiều tiến sỹ, ngành nào không cần thiết phải có nhiều tiến sỹ? Nên cần tiến sỹ ở đâu, cho công việc gì chẳng lẻ có nhiều tiến sỹ để thêm thành tích, để cho oai thôi sao?

Tại sao có tình trạng như vậy? Tại vì Việt Nam, người ta không tôn trọng chuyên gia có thực lực, có trình độ, không đải hậu người thực tài, không dám xử dụng người có tâm huyết… Cứ loay hoay chung quanh ao nhà, chỉ nhìn qua thân nhân, chỉ cơ cấu theo tình huống, quyền lợi của phe nhóm. Làm không xong thì làm lại, thế thôi.

Sau này trong những năm 90, cũng có một vài giáo sư trẻ được đào tạo tại Tây phương trở về. Nhưng vì không có không khí nghiên cứu khoa học đúng nghĩa, vì yêu cầu của cơm áo gạo tiền, họ không thể có thì giờ tiếp tục nghiên cứu khoa học. Tình trạng những vị đã được đào tạo tiến sỹ trong nước lại càng thê thãm hơn…

Hiện tượng Ngô Bảo Châu đã đem lại luồn gió mới. Đã có những động thái tích cực từ phía chính quyền. Nhưng tôi thấy vẫn là động tác riêng rẻ cá biệt, có tính cách tình huống. Chưa phải là chính sách chung cho các ngành khoa học, nhất là những ngành trọng điểm…

ttlong1

Hình chụp tại cửa ngỏ Đại Sứ Quán VN tại Bruxelles, đứng chung với GSTS Bành Tiến Long, lúc ấy là Phó Hiệu trường trường ĐH bách khoa Hà Nội

Thất bại vì thử thách quá lớn

Mục tiêu thứ hai về việc cải tiến giáo trình cũng chẳng mấy khả quan. Tôi chưa thấy giáo trình nào thực hiện sau các chuyến đi, với một lời thông thường đầu trang là cám ơn nhà tài trợ.

Còn mục tiêu thứ ba thì cũng chẳng ra sao cả. Chế độ tự trị đại học cho đến hôm nay vẫn còn là dự định. Sau nhiệm kỳ của Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển (1997-2006) tôi có cảm giác như việc này ngưng đọng lại.

Phải nóí, việc thúc đẩy giao lưu khoa học, cải tiến giáo trình, du nhập chính sách giáo dục đào tạo của tôi qua các dự án bắt đầu từ những năm 90 cho tới ngày tôi lấy hưu trí là một thất bại. Dù có được sự hỗ trợ của một đội ngũ giáo sư Châu Âu năng động và hùng hậu, dù được tài trờ liên tục trong gần hai mươi năm, tôi đã không thể làm thay đổi dù một ly, cục diện qua những con người của cơ chế, ngay cả khi họ là những nhà khoa học.

Tư duy khoa học có thực chất không thể vực dậy một sớm một chiều, nhất là ở thời điểm mà các giá trị tri thức đích thực đang trên đường tụt dốc.

Cũng may cục diện cũng có phần nào có tác động tích cực qua lớp học trò đông đảo mà các dự án đã trực tiếp đào tạo, dẫn dắt. Đây chính là điều tôi sẽ trình bày trong bài bút ký sắp đến.

Liège ngày 23/5/2011

Tags: Category: Bài viết, Bút ký
You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. Both comments and pings are currently closed.

10 Responses

  1. 1
    Justin Ha 

    GS chỉnh sửa lại chổ sai số này nhé “Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển (2997-2006)”
    Bài viết nói lên nhiều bức xúc về ngành khoa học tại Việt Nam còn đang nhiều bất cập, đã biết bao nhiêu hội nghị, bao nhiêu dự án đề xuất nhưng vẫn chỉ là trên giấy… hy vọng ngành nghiên cứu khoa học tại Việt Nam ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Người tài ở Việt Nam không thiếu nhưng họ không có đất để gieo và gặt.
    Chúc GS luôn khỏe mạnh, bình an và thành công trên con đường của mình để tiếp hướng cho thế hệ giới trẻ Việt Nam.

    Justin Ha

  2. 2 nhận xét trên Nguyenxuandienblog:
    http://nguyenxuandien.blogspot.com/2011/05/but-ky-cua-gs-nguyen-ang-hung-phan-26.html
    _________________________________________________________________________

    Nặc danh nói…

    Cháu đọc những dòng bút ký của Giáo sư mà lòng nghẹn đắng, cháu thấy hình giáo sư chụp chung với các giáo sư Việt Nam, đại diện cho nhiều chức vụ, ngành nghề… Nhưng với kết luận về 03 cái thất bại của những nổ lực của Giáo sư thì cháu rơi nước mắt.
    Cháu cũng từng chứng kiến đoàn Việt Nam cho đi học ở nước ngoài, nhưng cả đoàn đi thì chỉ có 02-03 người là thực học, còn lại du lịch thì đúng hơn; Nhưng khi về đến Việt Nam cảnh cháu thấy xe đưa người rước các vị đi du lịch ấy rất rầm rộ, họ cũng kể những ngày học gian khổ học tập chăm chỉ trên nước bạn, nhưng không biết họ có ngượng không?!!
    Sau đào tạo, họ làm được ghì thì mù tịt, chắc họ giờ cũng lên chức cao hơn rôi!
    12:06 Ngày 24 tháng 5 năm 2011
    _______________________________________________________________________________

    Người Quảng Nôm nói…

    “Hầu hết các giáo sư, các nhà khoa học Việt Nam được tôi mời đi Châu Âu tham quan không có hay có quá ít ỏi các công bố khoa học có tính mới mẻ, đã đăng tải trên các tạp chí quốc tế.”
    Kính thưa GS.Hưng, 5 năm trời học đại học mà sinh viên ở trường Đại học không được đọc một bài báo khoa học quốc tế nào thuộc chuyên ngành của mình thì làm sao mà nghiên cứu hả Thầy, nói gì đến công bố mới mẻ? Thư viện các trường đại học còn quá xa lạ với các cơ sở dữ liệu trực tuyến như Sciencedirect…thì làm sao sinh viên có cơ hội tiếp cận các bài báo khoa học. Thử xem một luận án Tiến sỹ ngành khoa học quản lý mới nhất công bố tại: http://www.ciem.org.vn/home/vn/home/InfoDetail.jsp?area=1&cat=3&ID=1366 . Trong 57 tài liệu tham khảo ở đây chỉ toàn các Quyết định, thông tư…không có nổi một bài báo khoa học quốc tế nào được tham khảo, thì làm sao nói chuyện nâng cáo chất lượng giáo dục, cạnh tranh với các nước trong khu vực được Thầy Hưng! Em nghĩ rằng Thay vì các Giáo sư, lãnh đạo đi tham quan, hợp tác ở các nước tiên tiến nên dành tiền đầu tư cho thư viện, mua các cơ sở dữ liệu trực tuyến này để sinh viên có thể tiếp cận thì tốt hơn là cứ tham khảo nước này, nước khác mỗi nơi một chút.
    Kính chúc Giáo sư sức khỏe!
    12:32 Ngày 24 tháng 5 năm 2011

  3. 3
    Lê Duy 

    Các tạp chí khoa học quốc tế hàng đầu quốc tế, kể cả chuyên ngành, không có đầy đủ ở VN. Mà nếu có cũng chẳng được mấy người quan tâm. Để có được tiền từ nhà nước một nghiên cứu khoa học ở VN việc quan trọng là phải làm “vừa lòng” những người duyệt kinh phí và các thành viên Hội đồng xét duyệt. Tiếng tăm và cái ghế của các vị này là sự bảo chứng tốt nhất nên các vị này không cần quan tâm đến việc đọc tạp chí khoa học nước ngoài. Khi các quan toà khoa học đã không còn quan tâm, các bị cáo là những người muốn chứng minh việc làm của họ có giá trị cũng phải chứng minh theo ý quan toà và đôi khi phải tỏ ra kém hiểu biết hơn quan toà. Vì vậy, tạp chí khoa học quốc tế không hẳn có vai trò lớn lắm đối với các nhà khoa học VN. Đây chính là bi kịch của khoa học Việt Nam hiện nay.

  4. 4
    Hoa Nguyen 

    Hình như Thầy nằm trong danh sách đen của CA, Thầy ạ, theo như trong thông tin của website này về việc blogger XuongTamBan (một sinh viên) không được viết blog nữa
    http://ngoclinhvugia.wordpress.com/2011/05/20/lam-vi%E1%BB%87c-v%E1%BB%9Bi-cong-an-1805-blogger-xu%E1%BB%93ng-tam-b%E1%BA%A3n/

  5. 5
    PTH.HCM 

    Qua lời kể của Hoa Nguyên,Cảm ơn Hoa Nguyen đã chia sẽ!1 Cơ chế Độc Đảng thế nào thì ai là dân Việt cũng biết!Muốn êm xuôi thì NHỮNG NGƯỜI TỐT KHÔNG NÊN LÀM GÌ CẢ.Kẻ dân chủ chỉ là ” con sâu làm rầu nồi canh ” và đều được “ra đi” không chút tin tức,hàng ngàn sự phản kháng là vô nghĩa!

  1. [...] Bút ký: Thử thách của một ngành khoa học công nghệ qua giao lưu hợp tác quốc tế (Nguyễn Đăng [...]

  2. [...] giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tỉnh Yên Bái) học bài — > – Bút ký: Thử thách của một ngành khoa học công nghệ qua giao lưu hợp tác quốc tế (Nguyễn Đăng Hưng) – Trường THPT Nguyễn Du, H.Sông Hinh, Phú Yên: Đuổi học 1 [...]

  3. [...] giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tỉnh Yên Bái) học bài — > – Bút ký: Thử thách của một ngành khoa học công nghệ qua giao lưu hợp tác quốc tế (Nguyễn Đăng Hưng) – Trường THPT Nguyễn Du, H.Sông Hinh, Phú Yên: Đuổi học 1 [...]

  4. [...] Bút ký: Thử thách của một ngành khoa học công nghệ qua giao lưu hợp tác quốc tế (Nguyễn Đăng [...]

  5. [...] BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG – Phần 26 [...]