Wednesday, September 28th, 2011 | Author:

ndh_au-bureau-emmc1

KINH NGHIỆM HỢP TÁC ĐÀO TẠO VỚI CÁC ĐẠI HỌC VIỆT NAM

VÀ MỘT SỐ ĐỀ NGHỊ CỤ THỂ VỀ VIỆC CẢI TỔ GIÁO DỤC PHỐI HỢP VỚI HỢP TÁC QUỐC TẾ

Nguyễn Đăng Hưng

Lời dẫn :

Tháng 2 năm 1994 tôi về Sài Gòn tham dự Hội nghị chuyên đề Giáo dục” do Bộ GD&ĐT và Ban Việt kiều Trung Ương tồ chức tại TP Hồ Chí Minh, Xuân Giáp Tuất tháng 2/1994.

Đây là giai đoạn tôi đang hăm hở có nhiều đề nghị cụ thể cho việc cải tiến nền giáo dục đại học Việt Nam. GS.TS Trần Hồng Quân, Bộ Trưởng Bộ GD& ĐT và GS.TS Nguyễn Ngọc Trân, Chủ Nhiệm Ban Việt kiều Trung Ương là đồng chủ toạ Hội nghị. Đây cũng là thời điểm tôi đang soạn thảo dự án “Hợp tác Bí&Việt đào tạo cao học tại Việt Nam”, một dự án du học tại chỗ với những thành quả mà nhiều người sau này biết đến.

Bài này không được cho đọc tạị nghị trường nhưng đã được xuất bản trong Kỷ yếu của Hội Nghị. Sau đó tôi đã gởi đi công bố trên tạp chí ĐỐI THOẠI, Số 5 tháng 4 năm 1995, trang 50-61, xuất bản tại Hoa kỳ.

1. VÀO ĐỀ.

Thường mỗi cuối năm là tôi lên Tòa lãnh sự Đại sứ quán Việt Nam, xin chiếu khán về Việt Nam. Họ hỏi anh về làm gì là tôi luống cuống không biết nói làm sao cho ổn. Phải tôi đi buôn, đi làm kinh tế, thì chắc cũng dễ thôi mà lại được Visa nhanh. Khốn nỗi tôi vừa đi giảng dạy chuyên môn trong khuôn khổ cộng tác quốc tế, vừa đi thăm gia đình, vừa có ý định tranh thủ thời gian đi thăm danh lam thắng cảnh di tích văn hóa của quê nhà. Nhiều việc làm quá làm sao có từ ngắn nói hết được !… Cũng vì luống cuống như thế mà lắm lúc phải chờ đợi lâu, chờ công văn bộ, chờ giấy mời chính thức, có khi kéo dài đến cả năm, tuy tôi là Việt kiều về thăm đất nước rất sớm : Tết Bính Thìn năm 76, non một năm sau 30 tháng Tư 75 là tôi đã có mặt ở Việt Nam… Từ đấy đến nay tôi về rất nhiều lần. Thậm chí mỗi khi phải nộp ba tấm hình dán vào ba đơn xin Visa có mục phải ghi rõ số lần về tôi lại do dự, suy nghĩ, ráng nhớ, nhưng không thể nào chính xác… Kỳ này gấp quá tôi ghi nhanh : đi du lịch, đóng chút đỉnh tiền là được Visa ngay… Thư mời tham dự buổi hội thảo hôm nay đến sau và bài bình luận này tôi thảo muộn…

Nó có thể chia làm ba phần : trước hết như đề tựa, tôi xin tóm lược nhanh gọn một ít kinh nghiệm trong việc hợp tác đại học với Việt Nam, kinh nghiệm đúc kết qua vài dự án cộng tác tương đối nhỏ trong những năm gần đây. Thứ đến tôi sẽ dẫn ra những đề nghị cụ thể về việc vận động hay đón nhận những dự án quốc tế về hợp tác và tổ chức đại học, sau hết tôi xin phép đóng góp một ít ý kiến về những vấn đề khác có liên quan đến công cuộc cải tổ giáo dục đại học Việt Nam.

Hình chụp tại ngày Hội nghị về GD&ĐT, tháng 2/2004. Từ phải sang hàng đầu thứ 3: GSTS Trần Hồng Quân, Bộ trưởng, thứ 4: Chủ Nhiệm ban Tuyên giáo GSTS Nguyễn Đình Tứ, thứ 6: GSTS Nguyễn Ngọc Trân, Chủ nhiệm ban VKTW”

Hình chụp tại ngày Hội nghị về GD&ĐT, tháng 2/2004. Từ phải sang hàng đầu thứ 3: GSTS Trần Hồng Quân, Bộ trưởng, thứ 4: Chủ Nhiệm ban Tuyên giáo GSTS Nguyễn Đình Tứ, thứ 6: GSTS Nguyễn Ngọc Trân, Chủ nhiệm ban VKTW”

2. MỘT ÍT KINH NGHIỆM.

Là một Việt kiều đi du học tại Bỉ từ những năm 60, có quan tâm thường xuyên đến những diễn biến chính trị trong nước, tôi rất phấn khởi sau ngày hòa bình lập lại, được đi làm công tác khoa học ở Việt Nam với tư cách là công dân Việt Nam cùng một lúc là cán bộ giảng dạy thường trực của một trường đại học lớn ở Bỉ. Tôi được Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước trực thuộc chính phủ Việt Nam đứng ra tổ chức những buổi giảng chuyên đề tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh vào dịp hè những năm 77, 79 (1). Đề tài không khác ngày nay : Xử dụng máy tính để tính toán các cấu trúc xây dựng bằng phương pháp phần tử hữu hạn. Chương trình giảng dạy này đã được sự tài trợ của trường Đại học Liège, nhưng sau đó bị gián đoạn vì những lý do ai cũng biết.

Sau năm 86 Việt Nam bắt đầu áp dụng chính sách đổi mới, tôi lại khăn gói lên đường làm cái công việc nối lại bang giao đại học giữa quê hương chôn nhau cắt rún Việt Nam của tôi và nước Bỉ quê hương mới đã nuôi dưỡng cuộc đời khoa học của tôi. Tôi đã xin vào quốc tịch Bỉ trong những năm 80.

Sau một đợt viếng thăm chính thức những trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1989 (2,3), qua sự giới thiệu của Ban Việt kiều thành phố, tôi quyết định đi gõ cửa những cơ quan có ngân sách tài trợ cho việc phát triển các nước phía Nam. Bốn năm đi công cán cộng tác quốc tế ở Zaire, Phi châu đã mớm cho tôi một ít kinh nghiệm trong việc soạn thảo dự án. Và tôi đã đạt được ngay lần lượt hai dự án do cơ quan FICU (Fonds International de Coopération Universitaire) đóng ở Montréal và trực thuộc tổ chức liên đại học của cộng đồng những nước nói tiếng Pháp (AUPELF & UREF). Trị giá dự án không to (20,000$CN mỗi năm) và mục tiêu của dự án cũng rất khiêm tốn : « Đào tạo nghiên cứu sinh Việt Nam về ngành dùng máy vi tính và các chương trình vạn năng để tính toán các công trình xây dựng » (4,5,6).

Tài trợ này cho phép tôi tổ chức những buổi giảng chuyên đề, những buổi thực tập, mua một vài máy tính, cài đặt những chương trình phần tử hữu hạn được tạo dựng tại đại học chúng tôi để các em làm thực tập. Đối với những em làm việc có kết quả tốt chúng tôi tặng những học bổng tại chỗ (70 USD/tháng). Đối với vài cá nhân ưu tú, chúng tôi đề nghị sang Bỉ làm bằng Maitrise hay luận án tiến sĩ. Đối với các đồng nghiệp hay các vị lãnh đạo đại học, chúng tôi mời sang Bỉ tham quan ngắn hạn để trau dồi nghiệp vụ. Chương trình sau đó được bộ đại học Bỉ ủng hộ và tiếp tục tài trợ cho đến hết năm nay.

Tôi đã suy nghĩ khá nhiều khi viết ra dự án trên. Trước hết tôi chọn lựa cấp ba vì lý do khả thi của chương trình. Công tác tài trợ cấp 2 cần một ngân sách tài trợ quá lớn. Sau đó tôi cố gắng làm cùng một lượt với cả ba cơ cấu đại học có liên quan đến ngành cơ của tôi ở TP Hồ Chí Minh : Đại học Bách khoa, Đại học Tổng hợp và Viện Cơ. Tôi cho rằng hợp tác quốc tế là dịp cho sự cộng tác của các cơ cấu đại học hiện hữu và hiệu quả của công việc cộng tác, chuyển giao công nghệ sẽ cao hơn nếu có sự phối hợp giữa những cơ sở sở tại lại với nhau. Hơn nữa, sự thiếu thốn thiết bị, tư liệu sách vở, thông tin khoa học trầm trọng hiện nay không cho phép khi ta có được điều kiện là co lại xài riêng, làm của, lắm khi trưng bày trang trí thay vì sử dụng thật sự (8).

Ý kiến cho học bổng nghiên cứu sinh tại chỗ là một sáng kiến mới. Với điều kiện sinh hoạt của Việt Nam, một ngân sách một học bổng du học qua Âu châu có thể chia thành mười học bổng tại chỗ, thoải mái. Lợi điểm của học bổng thuộc loại này là giúp nghiên cứu sinh an tâm về sinh kế, tập trung vào nghiên cứu, khỏi phải xa rời công tác ở cơ sở, tiếp tục nghiệp vụ giảng dạy, tiếp tục tham gia sinh hoạt khoa học thiết thực ở nước sở tại. Điều đòi hỏi ở nghiên cứu sinh là qua sự hướng dẫn của chuyên gia quốc tế, giải quyết một vấn đề công nghệ cụ thể gắn liền với sinh hoạt của cơ sở, viết báo cáo, theo học và chứng tỏ tiến bộ về sinh ngữ.

Trong đám có học bổng tại chỗ những em xuất sắc sẽ được chọn đi du học, làm luận án. Như vậy, những em này đã được chuẩn bị có qui củ trước, có điều kiện để nhanh chóng thành đạt tại hải ngoại, nhanh chóng về nước phục vụ. Hiện nay đã có một trợ giáo người Bỉ do chúng tôi gửi sang, ở thường trực tại trường ĐHBK để theo dõi và dẫn dắt các em đặc biệt là về sinh ngữ kỹ thuật. Bảy suất học bổng tại chỗ đã được chấp nhận tại TP HCM, ba suất khác tại Hà Nội (trường Đại học Xây dựng và Viện Cơ Hà Nội). Hai em đã có Maitrise tại Bỉ, đã về nước, một em đang trở sang bên kia soạn tiến sĩ. Trường ĐHBK TP.HCM có tạo điều kiện phòng ốc khá tốt cho chúng tôi để thực hiện dự án. Tôi mong mỏi sẽ mở rộng chương trình hợp tác này ra Hà Nội và Đà Nẵng.

Sáng kiến học bổng tại chỗ đã được Bộ đại học Bỉ tán dương và đem đi áp dụng ở những nơi khác như Phi châu trong những năm gần đây.

3. MỘT VÀI NHẬN XÉT.

Người xưa phương Đông thường nói : « Ít nghe đỡ phiền hà, ít thấy đỡ ưu tư, ít nói đỡ tai họa ». Đưa ra nhận xét và đề nghị về những vấn đề mà tôi không trực tiếp trách nhiệm, không theo dõi thường xuyên quả là việc mạo hiểm (9). Tuy nhiên người xưa cũng có dạy : « Ý thành thì tâm chính », có bảo « thấy việc gì đáng làm thì làm, không mưu tính lợi lộc về mình », tôi mạo muội xin có vài nhận xét và ý kiến.

Từ năm 1990 đến nay, qua những lần giảng dạy, những buổi trắc nghiệm, được tiếp cận với giới nghiên cứu sinh trẻ cũng như một ít đồng nghiệp trong nước tôi đã dần dần thấy ra một số vấn đề mà tôi cho là cơ bản đặt ra cho nền giáo dục đại học Việt Nam hiện nay. Có thể vì sự tiếp xúc còn hạn hẹp (chung quang giới kỹ sư bách khoa), thời gian sinh hoạt ngắn ngủi (ở một tháng mỗi lần công tác) những nhận định của tôi có lẽ chỉ có giá trị tương đối.

Chất lượng trung bình của các kỹ sư đào tạo ở Việt Nam còn kém. Nói chung, hiểu biết phổ thông cũng như căn bản của các em chưa đạt. Vốn sinh ngữ của các em chưa đủ. Tinh thần kỷ luật trong học vấn chưa được nghiêm túc và khoa học. Cách giao thiệp, xử thế như mất đi sự tinh tế thường gặp ở người phương Đông. Tôi có cảm tưởng các em chỉ tính lợi lộc ngắn hạn, ngay trước mắt, không nghĩ đến chân giá trị lâu dài, mục đích chân thiện mỹ, lý tưởng phục vụ ích nước lợi dân.

Theo tôi vấn đề giáo dục đại học phải bắt đầu bằng vấn đề giáo dục trung học, vấn đề giáo dục trung học phải bắt đầu bằng vấn đề giáo dục ở tiểu học… Thành ra vấn đề lớn lắm, trầm trọng lắm, đáng cho lo âu, nhất là trong bối cảnh kinh tế thị trường còn nhiều man dại, đảo điên hiện nay…

Để khỏi ra ngoài đề tôi xin trở lại đại học, trở lại công nghệ, hợp tác quốc tế, chuyên môn của tôi để đóng góp những ý kiến vụn vặt sau đây :

- Huy động hợp tác quốc tế để nâng cao chất lượng giảng dạy, hiện đại hóa thiết bị phòng thí nghiệm, nhưng không nên đặt hết kỳ vọng quá cao vào bên ngoài hay phó thác nền giáo dục đào tạo quốc dân đặc biệt là đào tạo đại học cho quốc tế. Ý tôi muốn nói ở đây là hợp tác quốc tế chỉ có tính cách giai đoạn và cục bộ. Người đầu tư chính cho tương lai Việt Nam phải là phía Việt Nam. Theo thiển ý của tôi việc cải thiện đời sống giáo chức, nghiên cứu sinh, việc trả lương sòng phẳng cho trí tuệ Việt Nam là một trong những vấn đề tiên quyết của việc cải tạo giáo dục… Tôi thuộc lớp người cho rằng việc tăng cường ngân sách giáo dục quốc dân là một trong những vấn đề nóng bỏng hiện nay.

- Không thể xem việc giáo dục phổ thông, đào tạo đại học là một dịch vụ kinh doanh ! Không thể thay thế cơ chế bao cấp trước đây bằng một cơ chế tuyệt đối thị trường cho ngành giáo dục. Qua một vài triệu chứng, tôi thấy có khả năng Việt Nam đi từ thái cực này sang thái cực khác. Một cách cụ thể tôi xin nêu ra một số đề nghị như sau :

4. VÀI ĐỀ NGHỊ.

ĐỀ NGHỊ CHUNG

Nâng cao chất lượng đào tạo đòi hỏi nâng cao nội dung giáo trình, sách vở, tài liệu tham khảo, thông tin khoa học hi
ện đại, tạo điều kiện trau dồi nghiệp vụ chuyên môn các cán bộ giảng dạy.

- Đề nghị nên có ngay một dự án thành lập một trung tâm qui mô về thông tin khoa học. Điều này Trung Quốc đã làm rồi, và làm rất tốt. Trung tâm này sẽ được trang bị đầy đủ có hệ thống thông tin, liên lạc quốc tế. Trung tâm này thu thập sách vở thông tin quốc tế, phân phát các tư liệu này đến những cơ sở chuyên môn, thậm chí họ có một ban chọn lọc những báo cáo, bài viết khoa học xuất bản mới nhất, dịch ra tiếng Trung Quốc và phân phối cho cơ sở với một giá thành phải chăng.

- Đề nghị nên tập trung củng cố và hoàn thiện (đặc biệt chiếu cố đầu tư và đặc biệt tận dụng hợp tác quốc tế) cơ sở vật chất cũng như trình độ kiến thức thành viên của một số viện đại học căn bản ở Việt Nam không cần phải nhiều, miễn là phù hợp với khả năng ngân sách quốc gia. Đây là những viện đại học nhà nước, tài khoản tùy thuộc vào ngân sách quốc dân, có ủy quyền của bộ đại học, được hưởng qui chế tự trị đại học.

- Đề nghị cho phép trong khuôn khổ luật pháp Việt Nam, những tổ chức quốc tế mở ra những trường đại học ngoại ngữ hay song ngữ (ưu tiên cho các trường công nghệ kinh doanh : Technology-Management) đặt dưới sự quản lý quốc tế hay hỗn hợp. Ở đây xin lưu ý đến sự phối hợp của chính phủ Việt Nam để các cơ quan quốc tế khỏi phải dẫm chân nhau, tốn công, phí sức ! Tôi đề nghị thành lập ngay một ban phối hợp hình thành các cơ cấu đại học quốc tế có người ngoại quốc, Việt kiều, cán bộ cao cấp đại học Việt Nam tham gia.

- Đề nghị cho phép sự có mặt của những cơ cấu đào tạo bán công hay tư nhân. Sự có mặt của những trường ấy qua cạnh tranh sẽ có tác động tốt cho sự hoàn thiện của các trường đại học nhà nước.

Trừ một số ngành nghề trung cấp như ngoại ngữ, kế toán kinh doanh, tin học thường thức. Tôi không tin là những đại học có tầm cỡ, có thiết bị cao có thể trường tồn. Thật vậy, kinh nghiệm cho thấy, tuyệt đối đa số những trường đại học dân lập bên Âu châu (phần đông là những trường đại học công giáo) cuối cùng rồi phải 100% dựa vào ngân sách nhà nước !

- Trong khi chờ đợi thành lập các Viện đại học tổng hợp, thành lập một ban phối hợp các đại học riêng rẽ cùng một địa bàn hoạt động. Ban phối hợp này điều động hay đôn đốc việc phối hợp các dự án cộng tác quốc tế.

- Đề nghị phối hợp tốt hơn việc nghiên cứu và giảng dạy. Đến lúc nào đó người chuyên môn nghiên cứu phải truyền bá hiểu biết của mình, chỉ bảo, giảng dạy các em. Ngược lại người giảng dạy phải có thì giờ nghiên cứu để trau dồi, triển khai, nâng cao trình độ giảng dạy của mình. Đề nghị bãi bỏ học vị giáo sư không sinh viên không quân không lính. Đề nghị bắt đầu từ nay đặt những nghiên cứu sinh sắp được đề đạt dưới sự quản lý của giáo sư trưởng bộ môn.

- Để chuẩn bị tốt cho nền công nghệ Việt Nam, đề nghị nên chú ý đến thực tiễn tổ chức xí nghiệp. Không nên quá đề cao bằng cấp, đào tạo quá nhiều kỹ sư, phó tiến sĩ. Nhiều người có bằng cao mà không có thiết bị, điều kiện làm việc thì cũng phí thôi, đừng nói đến việc dẫm chân nhau khó làm ra việc. Đề nghị áp dụng nguyên tắc một kỹ sư, bốn cán sự sau đến những thợ chuyên môn.

ĐỀ NGHỊ LIÊN QUAN ĐẾN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

mcmc_phat-bang-hn“Đại sứ Bỉ tại Hà Nội và Chủ Nhiệm chương trình EU-EMMD xướng danh học viên tốt nghiệp ngày lễ phát bằng”

- Các trường đại học cần gấp rút tăng cường sức lực gầy dựng một ban liên lạc quốc tế mạnh, sành sỏi sinh ngữ, có điều kiện thông tin nhanh gọn, có máy vi tính để quản lý dữ kiện, có tư liệu về những trường đại học quốc tế, có cán bộ tốt để soạn thảo văn từ hay dự án…

- Cần tăng cường những hợp tác trực tiếp giữa các cơ sở đại học, bộ môn, trung tâm trong nước và quốc tế. Nhiều khi không cần thiết phải qua trung gian bộ đại học. Với chính sách mở cửa ngày nay, làm gì ban liên lạc quốc tế bộ đại học có khả năng hay điều kiện quản lý được hết những nhân sự quốc tế cộng tác với các đại học Việt Nam. Tôi nghĩ cơ sở nào có tương quan quốc tế thì phải chịu trách nhiệm trực tiếp đối với các cơ quan an ninh hay đối nội, đối ngoại về những nhân sự quốc tế. Thật là phiền toái cho các đại học Việt Nam, nhất là với chúng tôi những người thường xuyên cộng tác với các đại học Việt Nam mỗi lần đi về Việt Nam giảng dạy đến sứ quán xin Visa họ bảo là thư mời của cơ sở chưa đủ, thư mời của ông Hiệu trưởng cũng chưa đủ, phải có giấy mời của ban liên lạc quốc tế trực thuộc Bộ đại học ở Hà Nội. Ban này rất lắm khi không có thông tin của ban liên lạc quốc tế đại học !

Tôi đề nghị nên đổi mới và trước hết là gạt bỏ cách quản lý bao cấp như thế. Ban liên lạc quốc tế của Bộ ắt phải là một ban chăm lo những vấn đề có tầm cỡ liên quan đến cả nước, phối hợp, bố trí những dự án cộng tác lớn của các trường đại học với các tổ chức quốc tế, phối hợp để tiết kiệm ngân sách viện trợ, xác nghiệm tính khả thi để rồi giao cho các cơ sở thực hiện chịu trách nhiệm quản lý… Chỉ có cơ sở mới quản lý được những sự việc cụ thể trong đó có việc nhân sự quốc tế, chỉ có cơ sở mới biết khách là ai có chuyên môn gì, ăn ở bao lâu…

- Những trường đại học nhà nước thường hay bối rối trước việc xử lý những chương trình đào tạo quốc tế, sắp xếp những chương trình ấy vào hệ thống hiện hữu. Làm sao có được sự chấp thuận của Bộ đại học ? Để giải tỏa băn khoăn này, tôi xin đề nghị cách xử lý đã áp dụng mấy chục năm nay rất có hiệu quả tại Bỉ. Họ chia hệ thống đào tạo đại học ra làm hai ngạch bổ túc cho nhau nhưng đồng nhất về thời gian đào tạo và chất lượng giảng dạy :

- Ngạch chính diện (grade légal) có chương trình đào tạo nằm trong văn bản luật nhà nước do Bộ đề ra thông qua quốc hội. Ngạch này có tính cách chính thống, ai cũng chấp nhận, đặc biệt đáp ứng cho những chức vị, cấp bậc, trong cơ chế nhà nước.

- Ngạch chính ngiệm (dịch bóng chữ grade scientifique) có chương trình đào tạo do chính cơ quan quản trị đại học xác định thể theo yêu cầu của các khoa hay bộ môn. Ngạch này có thể uyển chuyển theo xu thế phát triển khoa học kỹ thuật, cộng tác quốc tế… Nếu ngạch chính nghiệm đạt được hiệu quả lâu bền nó sẽ được bộ nâng lên làm ngạch chính diện. Nó đào tạo những người có tốt nghiệp chuyên môn cần thiết để phục vụ cấp bách các xí nghiệp, các nhà máy (tư doanh, hợp doanh hay nhà nước), đáp ứng nhanh cho việc phát triển kinh tế.

Những chương trình đào tạo quốc tế sẽ được ghép nhanh và gọn như thế vào chương trình đào tạo chung thông qua ngạch này.

- Vận động hợp tác quốc tế có hiệu quả đòi hỏi trước hết những nỗ lực về phía chủ nhân Việt Nam. Thật vậy, không nên chờ đợi một sự tài trợ đơn phương của người ngoại quốc bởi vì những hình thức tài trợ như vậy chỉ có tính chất nhất thời, chỉ đem lại những lợi ích ngắn hạn và thường dẫn đến những thói quen ỷ lại, những hiệu quả không hay. Theo chỗ tôi biết sự thất bại của đại bộ phận những dự án cộng tác đại học ở Phi châu là vì lý do ấy. Thông thường, những dự án hợp tác quốc tế dựa trên nguyên tắc căn bản : việc của anh, anh cố gắng bỏ vào trước tiên một đồng, tôi xem xét nếu hợp lý tôi sẽ tài trợ thêm đồng thứ hai. Nếu anh không bỏ vào đồng nào cả thì tôi hiểu rằng là anh không quan tâm, dự án này không khả thi, không thiết thực, chuyện của anh như thế tôi lăn vào làm chi ?

Dĩ nhiên trong giai đoạn đầu vì nước ta quá nghèo, không hiếm có những nước hay tổ chức quốc tế chịu tài trợ cao hơn tỷ số 50%. Để đón nhận tốt những dự án này và nhất là để chuẩn bị cho sự tiếp tục của những dự án tương tự nhưng qui mô hơn trong tương lai, tôi đề nghị các trường đại học Việt Nam nên tạo điều kiện tối thiểu cho việc cộng tác quốc tế : bố trí mặt bằng, phòng ốc trong giai đoạn thực hiện, lo cho được chỗ ở chỗ ăn và sự di chuyển đi lại tại Việt Nam của các giáo sư, các chuyên gia nước ngoài…

- Một điều cũng cần nêu ra là giới giáo chức đại học ở những nước tiên tiến thường có cách xử thế khác với giới kinh doanh. Họ là những nhà mô phạm, yêu thích hiểu biết khoa học và khi đi cộng tác quốc tế họ có lòng nhân ái cao và phẩm chất trong sạch. Họ mong mỏi được gặp ở những xứ sở tại những đồng nghiệp đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu, vì tương lai của tuổi trẻ, vì tiến bộ của xã hội, vì tinh thần khoa học, vì những giá trị nhân bản… Họ thường không có tiền vụn để chi cho linh tinh không có trong sổ sách… Họ thất vọng rất nhanh khi bắt gặp những thói trục lợi nhất nhì, tham ô lãng phí, cắp nhặt của công… Họ sẽ tâm đắc khi đọc những lời sau đây của cụ Ức Trai Nguyễn Trãi, nhà văn hóa lớn, người tri thức tiêu biểu của nền văn minh Việt Nam, nhà mô phạm, vị anh hùng khai quốc :

«Phàm người có chức vụ phải theo phép công bằng, việc làm cần mẫn, thờ vua thì hết trung, đối dân thì hết hòa, chối bỏ thói tham ô, sửa trừ tệ lười biếng. Bè đảng riêng tây phải dứt, thái độ cố phạm phải chừa. Coi công việc của quốc gia là công việc của mình, lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thế kỷ ».

- Đưa một chuyên gia quốc tế, một giáo sư giỏi, có tầm cỡ vào tham gia một dự án tài trợ không phải là một vấn đề giản dị. Tuy vậy, muốn phát triển nhanh, muốn sự chuyển giao công nghệ được thực hiện qua những dự án cộng tác cần những loại người này. Một hướng để giải quyết khó khăn trên là dựa trên các chuyên gia Việt kiều. Tham gia các dự án giúp đỡ Việt Nam phát triển là một tiền đề phù hợp với tình cảm hướng về quê hương, mong cho đất nước sớm giàu mạnh sánh vai cùng các con rồng của Châu Á – Thái Bình Dương. Đó là tình cảm phổ biến của đại đa số người Việt sinh sống ở hải ngoại. Những chuyên gia Việt kiều có tầm cỡ trên thế giới hiện nay không phải là lá mùa thu, là sao buổi sớm. Sự tham gia của chuyên gia Việt kiều sẽ đảm bảo cho việc khả thi chuyển giao công nghệ, sự trường tồn cũng như sự thực hiện hữu hiệu của những dự án hợp tác. Qua liên lạc của các chuyên gia Việt kiều có uy tín về khoa học, về nghiệp vụ đại học, ta mới huy động một cách có hiệu quả nhân sự cũng như tài chính cho việc hợp tác quốc tế.

- Đến đây tôi không thể không đưa ra một nhận định của tôi về phương thức vận động và tập hợp các chuyên gia Việt kiều hải ngoại. Qua cung cách tổ chức và sinh hoạt có tính cách phong trào hiện nay, cung cách vẫn còn sót lại từ thời bao cấp, sức hấp dẫn của thời trước không còn là bao nhiêu nữa ! Tôi nghĩ vì lợi ích chung của dân tộc trong giai đoạn quyết định đầy thử thách hôm nay, để thực hiện có hiệu quả công cuộc vận động trí tuệ Việt Nam, hướng nguồn trí tuệ vô giá ấy vào quỹ đạo xây dựng đất nước trong khối Đại đoàn kết dân tộc, ta nên đổi mới cung cách làm ăn, nhất là đổi mới phương pháp tổ chức cơ sở, căn bản đánh giá, đổi mới tương quan giữa Việt kiều và những tùy viên, những tham tán các Sứ quán Việt Nam tại hải ngoại.

Đặc biệt là đối với các chuyên gia ta phải có cách làm ăn có tính cách nghề nghiệp, đánh giá các chuyên gia qua khả năng chuyên môn, qua sự thành công của họ trong xã hội phát triển họ đang sống… Ta cần bàn tay có ngón ngắn ngón dài kết hợp lại thành một bàn tay tinh thông tài nghệ, biết đáp ứng trước những tình huống phức tạp của xã hội Việt Nam trên đường phát triển, ta không cần đơn thuần cục mịch một quả đấm… Tôi rất hoan nghênh những lời sau đây trong nghị quyết mới đây (27-11-93) của BCHTWĐCSVN :

Đại đoàn kết chủ yếu phải lấy mục tiêu chung làm điểm tương đồng đồng thời chấp nhận những điểm khác nhau, không trái nghịch với lợi ích dân tộc…

Mục tiêu chung ấy không gì khác hơn là dân ta giàu, nước ta mạnh trong bối cảnh xã hội hài hòa công bằng, dân chủ, nhân ái…

5. KẾT LUẬN.

Tết Giáp Tuất đối với tôi là một cái Tết rất vui.

Theo tôi lệnh bỏ cấm vận của Tổng thống Clinton là hành động cuối cùng chấm dứt chiến tranh và can thiệp của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ vào Việt Nam, là chính thức thừa nhận nền độc lập của đất nước Việt Nam, ý chí thống nhất của dân tộc Việt Nam. Độc lập, Thống nhất đã vững vàng như bàn thạch nhưng dân ta chưa có được hết. Tôi rất đồng tình với những nhận xét của báo chí trong nước : Thời cơ đã đến, vận hội dân tộc lại về… và thách thức hôm nay là vô cùng to lớn…

Đồng ý để cho Bộ giáo dục và đào tạo cùng với Ban Việt kiều Trung ương phối hợp tổ chức Hội nghị Tư vấn chuyên đề về cải tổ giáo dục, chính phủ như đã thấy được chìa khóa của vấn đề, cái bắt đầu của sự bắt đầu…

Thật vậy, phát triển giáo dục phải đi trước phát triển kinh tế. Nâng cao trình độ giáo dục là điều kiện cho việc củng cố sức mạnh lâu dài của kinh tế. Tôi mong rằng, lần này, trước ngưỡng cửa của thế kỷ 21, trong khung cảnh Châu Á – Thái Bình Dương trên đường phát triển Việt Nam sẽ không bỏ lỡ cơ hội trăm năm…

GS.TSKH NGUYỄN ĐĂNG HƯNG

TP. Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 2, 1994

6. THƯ MỤC.

(1) Nguyễn Đăng Hưng : Bút ký của một nhà khoa học Việt kiều, báo Đoàn kết, Cơ quan ngôn luận của Hội người Việt tại Pháp, Paris, bộ mới số 418, tháng 11, 1989.

(2) Nguyễn Đăng Hưng : Phỏng vấn của Eric Renette đăng tải trong Petit LU, Université de Liège, số 26, trang cuối, tháng Chín, 1989.

(3) Nguyễn Đăng Hưng : Báo cáo sau một chuyến đi thăm Việt Nam trong khuôn khổ sáng nghiệp Alice Seghers, tháng Tư, 1989.

(4) Nguyễn Đăng Hưng : Báo cáo sinh hoạt và sổ tay hành động trong khuôn khổ các dự án FICU, tháng Chạp, 1991.

(5) Sài Gòn Giải Phóng, FICU tặng máy vi tính cho trường ĐHBK (Le FICU a accordé à IPH un don de micro-ordinateurs), số 5279, trang nhất, 24 tháng 3, 1992.

(6) Nguyễn Đăng Hưng : Báo cáo tham quan cho tổ chức CGRI, tháng Năm, 1992.

(7) Nguyễn Đăng Hưng : Vài kinh nghiệm hợp tác Đại học với Việt Nam, Thuyết trình trong buổi « Workshop on Engineering Education in Developping Countries », Liège, 29-30 tháng Ba, 1993.

(8) Nguyễn Đăng Hưng : Vài suy nghĩ về hợp tác đại học với Việt Nam, đăng trong « Tuổi Trẻ Chủ Nhật », 25 tháng 2, 1990.

Tags: Category: Bài viết, Bút ký
You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. Both comments and pings are currently closed.

Comments are closed.