Wednesday, September 28th, 2011 | Author:

dong-que

Hoài Hương

Nguyễn Đăng Hưng

Lời dẫn

Bài bút ký này đã đăng trên blog Nguyễn Xuân Diện tháng 9/2010, nhưng bị xóa sau khi blog này bị kẻ gian đột nhập và hủy họa. Để cho bạn đọc muốn tham khảo có đầy đủ tài liệu, tôi thấy cần đăng tải lại đây trên blog Nguyễn Đăng Hưng với những lời bình của độc giả mà tôi kịp lưu trữ trước khi có sự cố chẳng lành.

Tôi vốn là một sinh viên du học tại Bỉ từ tháng 12 năm 1960, được bổng chính phủ Bỉ, phát xuất từ miền Nam, cựu học sinh trường trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký. Có một chi tiết là năm cuối bậc tú tài, tôi phải chuyển đổi qua trường Chu Văn An vì tôi học nhảy lớp. Trường này mọc lên sau Hiệp định Genève (1954) tại Sài Gòn nhưng bị giải thể sau 30/4/1975.

Tôi chọn theo học ngành kỹ sư, kỹ thuật Hàng không không gian tại Đại học Liège, Bỉ. Ra trường năm 1966 tôi được giữ lại làm nghiên cứu sinh tại Khoa Hàng không không gian trong hai năm sau đó tôi gia nhập Khoa Cơ học Vật liệu và Cấu trúc Xây dựng và tôi đã trở thành giảng viên chính thức tại đây. Năm 1984 vì bố trí công việc của Đại học Liège và nhất là vì yêu cầu thăng tiến cá nhân, tôi lại xin chuyển về khoa cũ và công tác tại đây cho đến ngày hưu trí tháng 10, năm 2006.

Bốn mươi sáu năm trước, ngày tôi đước bổng chính phủ Bỉ, lên đường du học cũng là giai đoạn Tổng thống Mỹ John Kennedy quyết định tăng cường can thiệp quân đội Hoa kỳ vào Việt Nam. Đây cũng là thời điểm Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ra đời (20/12/1960).

Chiến tranh Việt Nam với sự can thiệp của Mỹ đã bắt đầu và sẽ kéo dài cho đến 30/4/1975.

Trong khoản thời gian dài 15 năm này, bọn sinh viên du học chúng tôi đã không thể không bị tác động mãnh liệt bởi thời cuộc, bởi những biến động chính trị, bởi cuộc chiến ngày càng ác liệt tại quê nhà.

Có lẽ vì lúc bé sống ở quê gốc huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, vì đã chứng kiến những cảnh hãi hùng của chiến tranh (đại gia đình tôi đã phải chịu tổn thất đến hơn 50% sinh mạng các thành viên), tôi sớm có ý thức mạnh mẽ phản đối chiến tranh. Tôi đã hăng hái tham gia các phòng trào kêu gọi hoà bình cho Việt Nam và các phong trào Việt kiều yêu nước. Rất nhiều lần cùng bè bạn Bỉ và quốc tế chúng tôi đã tham gia các cuộc biểu tình ngang qua đường phố Bruxelles, tổng hành dinh NATO, yêu cầu quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam, điều kiện cần thiết cho việc tái lập hoà bình tại Việt Nam. Khó có thể an nhiên tự tại khi trên các nhật báo, trên đài truyền hình, phải chứng kiến mỗi ngày cảnh tượng bom đạn của một siêu cường không ngớt đỗ xuống trên toàn cõi đất nước Việt Nam…

Phải nói là hầu hết các thành viên trong các phong trào tự phát này, ít ai biết và hiểu rõ chủ nghĩa xã hội hiện thực là gì? Trên thực tế chúng tôi có nhiều cảm tình với cánh tả tại Bỉ vì họ là những người ủng hộ phong trào đòi hoà bình tích cực nhất. Phải sau 30 tháng tư 1975 về Việt Nam, chúng tôi mới biết thế nào là chủ nghĩa này.

Nếu tôi sớm biết làm thơ thời còn là học sinh trung học thì tôi bắt đầu viết báo từ những năm đầu đại học, những năm tham gia phong trào phản chiến nhắc ở trên. Tôi đã từng là Chủ nhiệm, Tổng biên tập, người tài trợ, người đánh máy, người phân phát của hai tờ báo sinh viên tại Liège trong giai đoạn cuối thập nhiên 60 và đầu thập niên 70.

Thơ tôi cũng bắt đầu nhuốm màu sắc chính trị…

Tôi đã có giấc mơ về một ngày hoà bình, thống nhất tại Việt nam.

Bài thơ sau đây ghi lại giấc mơ này và phải chờ 5 năm sau mới thành hiện thực…


Bài thơ hoài hương


Những ngày đất nước bão giông

Ra đi canh cánh trong lòng trời mây

Tin về gói trọn vòng tay

Tháng năm phiêu bạt, một ngày đoàn viên

Cũng vì thao thức triền miên

Ngồi đây tiếng súng bưng biền vọng sang

Người đi đội ngũ rộn ràng

Người về sức sống dâng tràn núi sông

Phất phơ một giải cờ hồng

Trăm năm một chuyện thần thông nào ngờ.

Hải hồ xuôi ngược bến bờ

Bao nhiêu ao ước đợi chờ là đây!

Kiếp tằm có sống một giây

Kiếp người trăm tuổi có ngày nào hơn?

Trắng đêm tâm sự nguồn cơn

Những gì đã mất, đã còn anh em?

Những gì sót lại trong tim

Những gì chất chứa nỗi niềm tháng năm

Những khổ đau, những hờn căm

Tối đen như mực trăng rằm còn soi

Trăng rằm lồng lộng trong ngoài

Bao nhiêu giông tố cũng hoài bể Đông

Đêm qua theo giải mây hồng

Băng ngang vạn dặm về thăm quê nhà

Gặp nhau han hỏi gần xa

Tôi, em, Đất Nước mặn mà tình chung!

Liège tháng 4 – 1969.

Được đăng bởi Nguyễn Xuân Diện vào lúc 09:18

2 nhận xét:

Nguyễn Xuân Diện nói…

Nguyễn Xuân Diện nói…

Một nhà khoa học chân chính!
Một người con xa quê lúc nào cũng trăn trở thao thức vì đất nước quê hương!
Bài viết nào cũng chan chứa niềm yêu thương!
Ngôn ngữ giản dị trong sáng, dễ hiểu.

Và trên hết cả, là những cống hiến bằng những công việc hết sức cụ thể, trong sáng và tận tâm tận lực!

Thưa Giáo sư, xin ông hãy nhận ở đây, lòng kính trọng, biết ơn và ngưỡng mộ của em!

Em hãnh diện vì đã được gặp và hầu chuyện giáo sư!

10:56 Ngày 22 tháng 9 năm 2010

Nguyễn Hữu Quý nói…

TẶNG NGƯỜI TRỌN NGHĨA NƯỚC NON
Kính tặng GS Nguyễn Đăng Hưng, nhân đọc bài viết và bài thơ của Bác; ngày Bác xa quê hương, em mới được sinh ra; em làm bài thơ này, như muốn hòa đồng với Bác trong suy nghĩ của một người con luôn mang trong mình Lạc Hồng!
Kính chúc Bác sức khỏe, viết khỏe; Đại gia đình hạnh phúc!
Cám ơn TS Nguyễn Xuân Diện!
Ra đi từ lúc xuân xanh
Nước nhà ly loạn chiến tranh hai miền
Mang theo bao những nỗi niềm
Non sông thống nhất hai miền chung vui
Bôn ba dẫu có ngược xuôi
Lòng này bao nỗi khôn nguôi ngày về
Ra đi giữ một lời thề
Nước nhà thống nhất trở về quê hương
Ngờ đâu dằng dặc tha phương
Ngày về tóc đã phong sương đổi màu
Mang theo mãi mãi niềm đau
Lời thề chưa trọn ngày đầu ra đi
Thân già nay chẳng ngại chi
Việc gì giúp nước ắt thì chung tay!
22/9/2010
Nguyễn Hữu Quý

18:04 Ngày 22 tháng 9 năm 2010

Tags: Category: Bài viết, Bút ký, Thơ
You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. Both comments and pings are currently closed.

2 Responses

  1. Chuc mung ban! Bai viet rat hay!

  2. Bai viet qua hay