Wednesday, November 16th, 2011 | Author:

confucius_saying

BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG – Phần 8

Lời dẫn ngày tái bản:

Tôi quyết định xuất bản lại những bài bút ký đăng tải trên blog Nguyển Xuân Diện tháng 9 năm 2010 đã bị tin tặc phá hoại xóa bỏ. Đây cũng là quyết định tôi trở lại tiếp tục viết bút ký sau thời gian dài ngưng trệ vì tôi bị thôi thúc bởi hạnh động gây hấn của bá quyền Trung Quốc trên biển Đông Nam Á. Tôi đã không thể yên lòng ngồi viết chuyện cá nhân trong khi có những việc khác quan trọng hơn đòi hỏi đóng góp nhỏ bé của tôi!

Sài gòn ngày 16/11/2011

Lời dẫn ngày xuất bản:

Vừa qua, nhân đọc một bài viết ngắn của KTS Trần thanh Vân, tôi có viết cảm nghĩ ngắn: CHỮ QUỐC NGỮ, VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC, đăng trên blog Nguyễn Xuân Diện. Không ngờ bài viết nhanh này đã có sức lan toả khá rộng và không dưới 20 ý kiến độc giả đã xuất hiện. Vài trang blog khác đăng tải lại.

Có một bạn đọc ký tên là Dương Tử đã nhẹ nhàng trách tôi có thành kiến ít nhiều với chữ Hán và đạo Nho. Tôi cũng có góp ý thêm là chữ Quốc ngữ là cơ may cho dân tộc ta trong thế giới hiện đại, là công cụ hữu hiệu mà lịch sử đã ban cho chúng ta trong việc kháng cự lại nguy cơ Hán hoá, chứ một trang viết thì làm sao nói hết một vấn đề lớn như vậy và sự phiến diện, thiếu sót là điền không tránh khỏi.

Còn nói tôi có thành kiến về đạo Nho thì thật là oan cho tôi. Đạo Nho qua mấy ngàn năm lịch sử có lúc bị bẻ cong theo hướng có lợi cho sự thống trị của giai cấp phong kiến làm tôi có cái nhìn phê phán. Nhưng trên căn bản nguyên thủy Khổng Tử là một nhà hiền triết mà lời nói và việc làm có giá trị phi thời gian và không gian.

Bài bút ký này (tôi đã đổi đề tài cho phần 8) chính là cơ hội để tôi nói rõ thêm lòng ngưỡng mộ của tôi về Đức Khổng Tử, người khai sinh ra Nho học. Âu cũng là dịp tôi trả lời thêm cho độc giả.

Hè năm 1992 tôi lại sang Trung Quốc, đi tham gia hội nghị khoa học quốc tế về đề tài: «Máy tính xách tay và việc phổ biến các phương pháp tính toán dùng cho các ngành kỹ sư» được tổ chức tại Đại Liên, trên bờ biển Hoàng Hải.

Sau một tuần làm việc, trên đường về chúng tôi dừng lại Bắc Kinh tham quan du lịch. Đến Bắc Kinh tôi liên lạc ngay với một người bạn Trung Quốc thân thích mà tôi đã gặp gỡ 3 năm trước tại Singapore, ông Li Ning. Nay với tư cách phó Tổng thư ký vụ Hữu Nghị quốc tế, thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Li Ning mời chúng tôi ở lại Bắc Kinh thêm một tuần và chúng tôi sẽ được coi như là khách quý của Bộ Ngoại giao Trung Quốc. Vợ chồng chúng tôi được cấp xe hơi có tài xế, có một nữ hướng dẫn viên trẻ đẹp thông thạo tiếng Anh đi theo và chúng tôi chỉ cần yêu cầu là sẽ được thoả mản, muốn đi thăm quan ở đâu cũng được, không cần phải chi trả tiền riêng. Một lần nữa tôi phải công nhận là làm khách quý của một nước có chế độ bao cấp là quá sướng !

Dĩ nhiên là chúng tôi chọn những địa điểm du lịch nổi tiếng : Vạn Lý Trường Thành, Cấm Cung, Chùa Trời…. và Đền Khổng Tử.

Đã từ lâu, từ ngày còn là học sinh Trung học, tôi đã ngường mộ Đức Khổng Tử. Tôi thường ghi chép những lời dạy quý giá của ngài qua sách vở. Xin chép lại đây những lời dạy mà tôi cho là có giá trị muôn đời :

1. Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã.
(Người không có chữ tín, chẳng làm chi nên việc)

2. Tri giả bất hoặc; nhân giả bất ưu; dũng giả bất cụ.
(Có kiến thức thì không nghi ngờ, có lòng nhân thì không ưu tư, có dũng cảm thì không sợ hãi)

3. Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân; tại bang vô oán, tại gia vô oán .
(Điều mình không thích thì đừng làm cho người khác; Nơi quê hương, gia đình mình thì tránh gây thù chuốc oán)

4. Quá nhi bất cải, thị vị quá hĩ!
(Biết lỗi mà không sửa, đó chính là tội!)

Nhất là quan điểm rất đỗi «hiện đại» của Khổng Tử về tri thức, học vấn :

1. Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ!
(Học đi với hành, đó không phải là vui sao !)

2. Tri chi giả bất như hiếu chi giả, hiếu chi giả bất như lạc chi giả.
(Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui say mà học)

3. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư

(Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy)

4. Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ.
(Ngẫm nghĩ việc xưa để hiểu việc nay, hành vi đáng làm thầy người khác)

5. Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi.
(Học mà không nghĩ thì mất hết, nghĩ mà không học thì mỏi mệt)

6. Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã.
(Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, vậy mới thật là biết)

Bài thơ sau đây chính là cảm xúc của tôi, nhà khoa học, sau khi nghiền ngẫm về lời dạy thâm thuý cuối cùng trên đây.

Paris 25/09/2010

Nguyễn Đăng Hưng

Chữ thánh nhân còn nguyên mầu mực

Biết thì nói là biết

Không biết thì nói là không biết.

Thế mới là biết thực !

Chữ Thánh nhân còn nguyên mầu mực

Bút nghiên mài đã hơn hai ngàn năm trăm năm !

Thiên niên kỷ những năm âm

Thiên niên kỷ của hoang tàn và bạo lực

Hiểu biết con người như sáng còn chưa thức

Mà tầm nhìn như thông suốt cổ kim

Mà muôn đời người như cứ mãi đi tìm

Càng thấy biết lại càng thấy mình không biết

Rồi người đi trên thời gian biền biệt

Đến bây giờ thiên niên kỹ thứ ba

Hiểu biết như đi vào thế giới bao la

Vũ trụ ngày càng vô cùng giãn nở

Vật chất ngày càng vô cùng thu nhỏ

Không gian xi be ngày càng tỏa khắp địa cầu

Và con người vẫn chưa biết đi từ đâu rồi về đâu

Và hiểu biết chỉ là những con đường xa lắc

Và tri thức làm gì có con đường tắc

Và nào ai đâu đây đã biết hết chuyện đời

Và khi tưởng mình có thể nghĩ cho mọi người

Nên nghiệm lại lời người thầy muôn thuở!

Nguyễn Đăng Hưng

(Viết chào thiên niên kỷ thứ ba)

***

Sau này tôi tự dịch sang tiếng Pháp để tặng các con tôi:

La parole d’antan est toujours inédit

(Dédié au troisième millénaire)

« Si tu sais, dis que tu sais

Si tu ne sais pas, dis que tu ne sais pas

Alors tu connais quelque chose »

(Parole de Confucius)

La parole du Sage est toujours là en prose

Depuis plus de deux mille cinq cents ans

On n’a pas cessé de répéter cette pensée pénétrante

Durant le millénaire des années négatives

Etaient encore de règle l’ignorance et les violences destructives

Car la connaissance humaine était comme l’aube endormante

Pourtant depuis l’antiquité, cette pensée reste toujours vivante

Et l’humanité est sans cesse à la recherche du savoir

Et plus elle découvre la raison, plus elle se dit alors pourquoi ?

Puis elle continue dans cette voie linéaire

Jusqu’au temps présent du troisième millénaire

Où la connaissance humaine devient incommensurable

Certes, la science a fait des pas remarquables

Où l’univers est éternellement en expansion

Où la matière est réduite à sa simple expression

Où la terre entière est tissée de réseaux cybernétiques

Mais l’homme ne comprend toujours pas cette aventure fantastique

Et la connaissance n’est qu’un cheminement infini

Pourtant il existe ceux qui veulent faire un raccourci

Ceux qui croient comprendre toutes les vérités du monde

Ceux qui s’imaginent pouvoir réfléchir pour la masse profonde

Ceux qui savent peu de chose mais veulent faire croire tout connaître

Qu’ils médites pour une fois la parole du Maître !

Bài viết do GS Nguyễn Đăng Hưng gửi riêng Nguyễn Xuân Diện-Blog.

Xin chân thành cảm ơn tác giả.

Được đăng bởi Nguyễn Xuân Diện vào lúc 14:41

_________________________________

2 nhận xét (trên blog Nguyễn Xuân Diện):

Trần Thanh Vân nói…

Cám bài viết với lời lẽ khiêm nhường nhưng sâu sắc của Gs Nguyễn Đăng Hưng. Tôi là người “có tội” khơi ra đầu đề tranh luận này khi tôi nói lời cám ơn các giáo sĩ Phương Tây đã giúp dân ta có chữ Quốc ngữ khi mở đầu bài “Tôi hiểu gì về Trung Quốc”, vừa rồi lại ngợi ca công lao của học giả Nguyễn Văn Vĩnh trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ, nên xin phép được giãi bày đôi lời.
Hán học và chữ Hán của dân tộc Hán là một tài sản quý của người Trung Hoa. Cụ tôi và ông tôi đều đã dầy công học tập và vẫn dùng như là phương tiện để kiếm cơm trên các nẻo đường, làng xóm ở Hà Nội Hà Đông vào những năm Ba Mươi thế kỷ trức để nuôi con cháu mình theo học trường Tây. Các bậc Nho sĩ Hà Thành khi xưa vẫn truyền tụng hai câu đối cụ tôi đề ở đền Sinh Tử ( phố Nguyễn Khuyến ngày nay ) để chửi Hoàng Cao Khải như sau

TỰ CỔ ANH HÙNG VÔ TỬ MIẾU.
ĐƯƠNG KIM NGHỊCH TẶC HỮU SINH TỪ.

Sau này lớn lên tôi cũng học Hán văn và khi sang Thượng Hải du học, tôi mới vỡ lẽ Hán văn và chữ Trung Quốc ngày nay rất khấc nhau, nên ở một chừng mực nào đó, tôi còn giỏi Hán văn hơn một số bạn sinh viên Trung Quốc cùng lứa với tôi. Đó là một trong những lý do tôi không thích Hán văn. Nhân đây tôi cũng muốn nói thêm rằng tôi rất không thích Nho giáo, nó gò bó con người, nó bắt người ta không được nói thật lòng mình… nhưng thôi, để mọi người tranh luận.
Tôi coi trọng chữ Quốc ngữ và tôi muốn chữ Quốc ngữ ngày càng trong sáng.

16:23 Ngày 25 tháng 9 năm 2010

Cựu sĩ quan nói…

Tôi từng được đào tạo nhanh để làm phiên dịch tiếng TQ thời chiến tranh, đào tạo nhanh nên chỉ học văn bạch thoại là văn nói trắng ra như người bình dân vẫn nói, không phải văn ngôn là văn của tầng lớp có học và chữ viết cũng khác vì nhiều chữ viết tắt lắm. Khi tiếp xúc với anh em kỹ thuật người TQ, họ bảo họ cũng chỉ dùng văn bạch thoại như tôi. Hóa ra ở TQ có sự phân biệt giai tầng rất lớn. Vậy ta bỏ Hán Văn là phải. Học làm gì thứ chữ đọc lên vẫn chưa hiểu, lại phải tra sách tìm nghĩa, chưa nói lúc viết cũng thật khổ

18:15 Ngày 25 tháng 9 năm 2010

Tags: Category: Bài viết, Bút ký, Thơ
You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. Both comments and pings are currently closed.

Comments are closed.