
Công An Trung Quốc đàn áp dân Ngô Duy Nhĩ (2009)
Phong trào Duy Ngô Nhĩ Tân Cương
lên án chính sách Hán hóa
Tú Anh
Đại Hội phong trào Duy Ngô Nhĩ thế giới khai mạc tại Tokyo bất chấp phản đối của Trung Quốc. Nhà lãnh đạo ly khai Rebiya Kadeer tố cáo chính sách đồng hóa của Bắc Kinh và khẳng định dân tộc của bà tại Tân Cương đang chiến đấu cho sự sống còn.
Theo AFP, đại hội cộng đồng Duy Ngô Nhĩ toàn thế giới lần bốn đã khai mạc vào ngày 14/05/2012 tại thủ đô Nhật Bản dưới sự chủ tọa của bà Rebiya Kadeer.

Cũng như ở Tây Tạng, chính sách đồng hóa mà chính quyền Trung Quốc thi hành tại Tân Cương đã được đại hội tố cáo mạnh mẽ. Cộng đồng Duy Ngô Nhĩ, theo đạo Hồi, nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tại Tân Cương cho biết họ là nạn nhân của biện pháp đàn áp, phân biệt đối xử bắt nguồn từ chính sách Hán hóa của Bắc Kinh. Từ đa số, người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương biến thành thiểu số từ khi người Hán được chính quyền khuyến khích lên lập nghiệp tại vùng lãnh thổ chiến lược có nhiều trữ lượng dầu khí và khoáng sản này.
Khai mạc hội nghị kéo dài năm ngày, bà Rebiya Kadeer nhận định rằng : “trước đây, người Duy Ngô Nhĩ phản đối Trung Quốc đàn áp để bảo vệ quyền lợi của mình nay phải chiến đấu vì tương lai sống còn trước chính sách đồng hóa của người Hán”.
Theo nhà lãnh đạo ly khai này, thì tình hình Tân Cương hiện nay còn nguy ngập hơn năm 2009 khi người Duy Ngô Nhĩ biểu tình và đụng phải cuộc đàn áp bằng vũ lực của công an và quân đội Trung Quốc.
Đại hội Duy Ngô Nhĩ tổ chức tại Tokyo đã bị Trung Quốc gây sức ép trong thời gian qua. Dù vậy, Nhật Bản vẫn cấp visa cho lãnh đạo của tổ chức bị Bắc Kinh gọi là « khủng bố » này. Bà Kadeer cho biết hội nghị quy tụ thành viên từ 20 quốc gia trên thế giới và bà cám ơn chính phủ Nhật đã bất chấp áp lực của Trung Quốc.
Nhà lãnh đạo tổ chức « Duy Ngô Nhĩ thế giới » tỏ hy vọng là cuộc tranh đấu ôn hòa của dân tộc bà tại Tân Cương sẽ làm cho Bắc Kinh chấm dứt chính sách đàn áp và một ngày nào đó bản thân chế độ chính trị độc tài của Trung Quốc cũng sẽ tự cải cách để trở thành một chế độ dân chủ.
Khi ở Tân Cương, bà Rebiya Kadeer là một phụ nữ nhà nghèo tự mình tạo nên sự nghiệp bằng thương mại. Trong thập niên 1990 bà được bầu vào « đại hội chính hiệp ». Với vị thế này, bà tiếp cận được nhiều thông tin và nhiều lần tố cáo chính sách đàn áp của Trung Quốc tại quốc hội. Do tiếp xúc với một phái đoàn dân biểu Hoa Kỳ năm 1999, gia đình và cơ sở thương mại của bà bị an ninh chiếu cố. Bản thân bà bị tù vì tội « chống chính sách đoàn kết dân tộc ». Được trả tự do vào năm 2005, nhà ly khai bay sang Hoa Kỳ tỵ nạn và thành lập phong trào đấu tranh mang tên « Đại Hội Duy Ngô Nhĩ thế giới » với trụ sở đặt tại Munchen, Đức quốc.
_______
Nguồn: http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20120514-lanh-dao-phong-trao-duy-ngo-nhi-tan-cuong-len-an-chinh-sach-han-hoa-cua-bac-kinh
Trích WIKIPEDIA
Tóm tắt lịch sử hiện đại về Tân Cương
xứ sở của người Duy Ngô Nhĩ
Uyghur (tiếng Trung: 维吾尔, Duy Ngô Nhĩ, phiên âm là /Uây-ua/), là một dân tộc Trung Á sống chủ yếu ở khu tự trị Tân Cương, Trung Quốc. Các cộng đồng tha hương người Uyghur có mặt tại Siberi (Nga), Đức, Thổ Nhĩ Kỳ và các quốc gia Trung Á như Pakistan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Mông Cổ, Uzbekistan. Ở Trung Quốc, họ được gọi là người Duy Ngô Nhĩ. Họ cũng sống tại huyện Đào Nguyên trong địa cấp thị Thường Đức tỉnh Hồ Nam và các khu phố của người Uyghur cũng có mặt tại các một số thành phố lớn ở Trung Quốc như Bắc Kinh và Thượng Hải.[3]
Thời nhà Thanh
Người Mãn, vốn là các bộ tộc bán du mục ở miền đông bắc Trung Quốc ngày nay, bành trướng mãnh liệt đế quốc Thanh mà họ lập ra vào năm 1644, sáp nhập Mông Cổ, Đông Turkistan (Tân Cương), và Tây Tạng. Quân Mãn Châu xâm chiếm Dzungaria năm 1759 và cai trị vùng này cho tới năm 1864. Trong thời kỳ này, người Uyghur vùng dậy 42 lần chống lại ách thống trị của nhà Thanh. Trong cuộc nổi dậy năm 1864, người Uyghur thành công trong việc đánh đuổi bộ máy quan lại của nhà Thanh khỏi Đông Turkistan, và thành lập vương quốc Kashgaria độc lập, gọi là Yettishar (nghĩa là “vương quốc của bảy thành phố”). Dưới sự lãnh đạo của Yakub Beg, quốc gia này bao gồm Kashgar (Khách Thập), Yarkand (Toa Xa), Hotan (Hòa Điền), Aksu (A Khắc Tô), Kucha (Khố Xa), Korla (Khố Nhĩ Lặc) và Turfan (Thổ Lỗ Phan)). Vương quốc này được Đế quốc Ottoman công nhận năm 1873, Đế quốc Nga năm 1872, và Vương quốc Anh năm 1874, thủ đô đặt tại Kashgar.
Nhà Thanh điều động một lực lượng quân lớn dưới quyền chỉ huy của tướng Tả Tông Đường tấn công Đông Turkestan năm 1876. Lo ngại khả năng Nga hoàng bành trướng sang Đông Turkestan, Anh ủng hộ quân Mãn Châu bằng cách cung cấp các khoản vay thông qua nhà băng Anh (phần lớn qua Boston Bank, HSBC đặt tại Hồng Kông). Sau cuộc xâm lược này, Đông Turkestan bị đổi tên thành “Tân Cương”, nghĩa là “cương vực mới”, và bị sáp nhập vào đế quốc Mãn Châu ngày 18 tháng 11 năm 1884, trở thành một tỉnh của Trung quốc.
Thời Cộng hòa
Tới năm 1920, chủ nghĩa dân tộc của người Uyghur đã trở nên một thách thức đáng kể cho nhà Thanh, và sau đó là các lãnh chúa quân phiệt Trung Quốc thời kỳ Cộng hòa kiểm soát Tân Cương. Nhà thơ Abdulhaliq xứ Turpan, sau khi sống thời tuổi trẻ tại các trung tâm tri thức Semey (Semipalatinsk) và Jadid tại Uzbekistan, trở về Tân Cương với bút danh Uyghur. Ông viết bài thơ yêu nước Oyghan, mở đầu bằng dòng “Ey pekir Uyghur, oyghan!” (hỡi những người Uyghur khốn cùng, hãy tỉnh dậy!). Ông bị lãnh chúa người Hán là Thịnh Thế Tài xử tử tại Turpan tháng 3 năm 1933 vì tội làm dấy lên tư tưởng dân tộc của người Uyghur qua các tác phẩm của mình.
Những người đấu tranh cho nền độc lập của người Uyghur tiến hành vài cuộc nổi dậy chống lại sự cai trị hậu Thanh của lãnh chúa quân phiệt Thịnh Thế Tài và Quốc dân đảng. Hai lần liền, trong các năm 1933 và 1944, người Uyghur nổi dậy nhưng đều bị thất bại trong nỗ lực thiết lập các quốc gia độc lập: Cộng hòa Đông Turkestan, và Cộng hòa Uyghurstan, hoặc là Cộng hòa Hồi giáo Đông Turkestan.
Cộng hòa Đông Turkestan có tính thế tục, xã hội chủ nghĩa và đa sắc tộc, với những người sáng lập bao gồm người Kazakh, Uzbek, Hán, Kyrgyz, Nga, cũng như Uyghur, và được Joseph Stalin ủng hộ.
Năm 1949, sau khi phe Quốc gia tại Trung Quốc thất trận, các nhà lãnh đạo Đông Turkestan chấp thuận hình thức hợp bang với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông. Tuy nhiên, một vụ tai nạn máy bay khiến cho phần lớn ban lãnh đạo Cộng hòa Đông Turkestan tử nạn trên đường tới Bắc Kinh đàm phán điều kiện thành lập hợp bang. Vụ rơi máy bay này có lúc được cho là âm mưu của Mao Trạch Đông, vì ngay sau khi vụ tai nạn xảy ra, tướng Vương Chấn nhanh chóng hành quân vượt sa mạc vào Tân Cương, đàn áp lực lượng thân Quốc dân đảng và các cuộc nổi dậy của người thiểu số.
Bộ phận lãnh đạo còn lại của Cộng hòa Đông Turkestan dưới quyền tướng Saipidin Eziz nhanh chóng qui thuận các điều kiện Mao Trạch Đông đặt ra, biến Tân Cương thành Khu tự trị dân tộc Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, quân đội thì sáp nhập vào Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Saipidin Eziz thì nắm chức vụ bí thư đảng cộng sản tại đây. Rất nhiều người trung thành với Cộng hòa Đông Turkestan, bất mãn với sự phản bội của Saipidin, đi tị nạn tại Thổ Nhĩ Kỳ và các quốc gia phương Tây. Tuy nhiên nhiều người khác ở lại, tổ chức các hoạt động chống đối nhằm tái lập một quốc gia độc lập tại Tân Cương. Không bao lâu sau đó, tên gọi Đông Turkestan bị xóa bỏ bởi sự kiểm duyệt của chính quyền Trung Quốc.

Recent Comments