
Trích dẫn thay cho lời bộc bạch về việc chọn lựa trong hạng mục sách tra cứu
“Từ điển yêu thích bầu trời và các vì sao”
Nguyễn Đăng Hưng
Cuốn sách đồ sộ của nhà thiên văn học Trịnh Xuân Thuận, dày gần 800 trang, Từ điển yêu thích bầu trời và các vì sao (Dictionnaire amoureux du Ciel et des Etoiles) là cuốn sách dành cho những ai muốn khám phá bầu trời và các vì sao, không nhất thiết phải là nhà khoa học, kẻ chuyên gia. Bằng một ngôn ngữ dung dị, đơn giản nhưng chính xác, tác giả đã đề cập đến những thành quả sớm nhất cũng như hiện đại nhất của khoa học ngày nay về thiên văn học, vật lý học, sinh vật học… kết hợp tài tình những tri thức khoa học về thực thể vô cùng lớn là vũ trụ và vô cùng vô cùng nhỏ là hạt nhân, lượng tử, hạt ánh sáng.
Ngôn từ của tác giả đọc lên ta cứ ngỡ là một thiên sử thi ca hùng tráng, lãng mạn và hài hòa đến từ vũ trụ bao la và đi vào lòng người…

Bộc bạch về sự chọn lựa của đề mục tra cứu
Ta hãy nghe trích dẫn ở đây các lời phân trần trong các tiêu đề:
“Từ đêm đen của thời gian, con người đã đăm đắm nhìn lên bầu trời, cật vấn nó, thi vị hóa nó và thậm chí còn bi kịch hóa nó”.
“Ngay cả các ngôi sao cũng không vĩnh viễn, chúng sinh ra, sống trọn cuộc đời của mình, rồi chết”.
“Tất cả chúng ta chỉ là những hạt bụi của các vì sao và vì vậy chúng ta đều là con đẻ của thời gian.”
“Phát xuất từ hư không tràn đầy năng lượng, vủ trụ không ngừng chứng tỏ khả năng sáng tạo và phát minh để vương lên trên mức độ của sự phức tạp”. (Issu d’un vide rempli d’énergie, l’univers n’a cessé de montrer sa créativité et son inventivité pour gravir l’échelle de la complexité).
« Các định luật vật lý, hóa học, sinh học là phổ quát. Thật là kinh ngạc nếu con người đơn côi trong giải ngân hà, nếu không có ai khác đâu đó có thể đặt câu hỏi về vũ trụ, thích thú trước sắt đẹp trước sự hài hòa của thế giới ». (Les lois physiques, chimiques et biologiques étant universelles, il serait bien étonnant que nous soyons seuls dans notre galaxie, qu’il n’y ait pas quelque part d’autres êtres capables de se poser des questions sur l’univers et de s’émerveiller devant la beauté et l’harmonie du monde».
Trong phần vào đầu của cuốn từ điển mới lạ và đa năng này tác giả đã phát họa nội dung phong phú đa dạng và sinh động của nó. Thử nêu ra đây những phát biểu cô đọng và xúc tích của tác giả Trịnh Xuân Thuận trong phần nhập đề:
« Tôi run sợ khi tôi nghĩ rằng ánh sáng của ngân hà nay đến viếng kính thiên văn của tôi đã bắt đầu cuộc hành trình xuyên ngân hà cả trước khi các nguyên tử của hình hài thân thể tôi được hóa thân bằng phản ứng hạch nhân của một ngôi sao to lớn ». (Je frémis quand je pense que la lumière de cette galaxie qui parvient maintenant jusqu’à mon télescope a commencé son voyage intergalactique avant même que certains atomes de mon corps n’aient été forgés par l’alchimie nucléaire d’une étoile massive !)
« Thuyết tương đối của Einstein cho rằng di chuyển càng nhanh thì thời gian càng chậm lại và thời gian sẽ ngưng đọng hoàn toàn khi đạt tới vận tốc của ánh sáng. Cho nên với ánh sáng thời gian đứng lại. Chí có ánh sáng mới khám phá ra được sự bí ẩn của Jouvence, ánh sáng không bao giờ già vì đã băng qua không gian với vận tốc 300 000 cây số/giây. Ta có thể bảo rằng thời gian không còn hiện hữu cho ánh sáng ». (La théorie de la relativité d’Einstein nous dit que plus on va vite et plus le temps ralentit, jusqu’à s’immobiliser complètement quand la vitesse de la lumière est atteinte. Ainsi, pour la lumière, le temps est figé. Il ne passe plus. Seule la lumière a trouvé le secret de la fontaine de Jouvence : elle seule ne vieillit jamais, car elle seule voyage à travers l’espace à la vitesse de 300 000 kilomètres par seconde. On peut dire que le temps n’existe plus pour la lumière).
« Vũ trụ học đã làm thay đổi tư duy của chúng ta vể bản chất của không gian và thời gian về nguồn gốc của vật chất, về sự phát triển của đời sống và ý thức, về trật tự và mất trật tự, về hổn độn và hài hòa, về nhân quả và xác định ». (La cosmologie moderne a profondément modifié nos idées sur la nature du temps et de l’espace, sur l’origine de la matière, sur le développement de la vie et de la conscience, sur l’ordre et le désordre, le chaos et l’harmonie, la causalité et le déterminisme).

Dịch giả Phạm Văn Thiều phát biểu sau khi nhận giải
« Thật đáng ngạc nhiên, những câu hỏi đặt ra cho nhà thiên văn học giống những vấn đề của nhà hiền triết: Đâu là chỗ xuất phát của vũ trụ? Vũ trụ có thể nào một mình tự tạo ? Có chăng điểm khởi đầu của không gian và thời gian ? Vũ trụ có thể có hồi kết ? Vũ trụ đến từ đâu và sẽ đi về đâu ? » Les questions que se pose le cosmologiste sont étonnamment proches de celles qui préoccupent le théologien : quelle est l’origine de l’univers ? A-t-il pu se créer tout seul ? Y a-t-il eu un début du temps et de l’espace ? L’univers aura-t-il une fin ? D’où vient-il et où va-t-il ?
« Cuốn tự điển còn tìm hiểu lý do mà vũ trụ học hiện đại đã đem lại giải thích về khái niệm Thượng Đế như thế nào ». (D’autres pages de ce dictionnaire explorent comment la cosmologie moderne a jeté une lumière nouvelle sur ce concept de Dieu).
« Nó đề cập đến những đề tài bấy lâu nay thuộc sở hữu đặc quyền của tôn giáo, nó đem lại một góc nhìn mới… Đâu là ý nghĩa của sự hiện hữu của con người ? Phải chăng chúng ta chỉ là kết quả của một tai nạn của vũ trụ ? Và vũ trụ rồi phải đối xử thế nào với chúng ta ? » (La cosmologie aborde des sujets qui furent longtemps la propriété exclusive de la religion et elle les éclaire d’un jour nouveau… notre existence a-t-elle un sens, ou ne sommes-nous que le résultat d’un accident cosmique, et l’univers n’a-t-il que faire de nous ?)
« Tác giả còn đưa vào những đề mục giúp khoa học trở về với tính nhân văn. Nó khám phá sự tương quan giữa khoa học và thẩm mỹ, giữa khoa học và tâm linh ». (J’ai inclus ici des entrées qui ont pour but de remettre la science dans un contexte plus humaniste. Elles explorent les rapports entre science et beauté, ou encore entre science et poésie. Elles parlent aussi de la complémentarité entre science et spiritualité).
« Tác giả không đặt vấn đề một cách bàn quan mà còn không ngần ngại đề cập đến bề trái của vấn đề : Môi trường có nguy cơ bị con người xâm hại một cách nguy hiễm. Con người đã trở thành một đe dọa cho trái đất, cho chính mình cũng như các sinh vật khác. Bởi vì thông minh và ý thức là con dao hai lưởi. Con người đã thắng được trọng lực để chinh phục không gian, lên cung trăng. Con người đã bắt đầu tìm kiếm thái dương hệ khác, các nên văn minh bên ngoài trái đất. Nhưng con người lại chế ngự được khả năng tự hủy hoại, xóa sạch sinh thái và làm cho tổ ấm trong vũ trụ của họ bị vô vàn tổn thương đến nổi không thể sống được nữa… » (Mais d’autres entrées parlent du revers de la médaille : l’homme, en train de dégrader dangereusement son environnement, est en passe de devenir une menace pour sa planète, pour lui-même et pour toutes les espèces vivantes. Car l’intelligence et la conscience sont à double tranchant. L’homme a su s’affranchir de sa pesanteur terrestre pour conquérir l’espace et aller sur la Lune, il a commencé à rechercher d’autres systèmes solaires et des intelligences extraterrestres, mais il a aussi acquis la capacité de s’autodétruire, d’éradiquer la biodiversité sur la Terre et de rendre son havre cosmique invivable en ne cessant d’infliger d’innombrables blessures à son écosphère).

Mời mọc bạn bè lên chụp hình lưu niệm
Bầu chọn « Từ điển yêu thích bầu trời và các vì sao » và trao giải thưởng sách hay cho thể loại sách dịch, Hội Đồng xét tuyển đã nhất trí xác định giá trị khoa học, nhân văn, và văn học cao đẹp của tác phẩm. Hội đồng xét tuyển cũng rất vui mừng vì sự có mặt của một cuốn sách tầm cỡ như vậy trong bối cảnh hiện nay của đất nước. Nó sẽ là nguồn cổ vũ cho tuổi trẻ Việt Nam trong nghiên cứu khoa học, trong việc cập nhập những giá trị chân chính và và phổ quát nhất của tri thức ngày nay. Hội đồng cũng ghi nhận cống hiến đáng khích lệ của hai dịch giả Phạm Văn Thiều và Ngô Vũ đã cung cấp cho người đọc một bản dịch hấp dẫn, chính xác, rất tương xứng với nguyên bản.
Sài Gòn ngày 20/8/2012
Nguyễn Đăng Hưng

Recent Comments