
Bản đồ Trung Quốc đời nhà Tần
TÌM HIỂU CHỦ NGHĨA BÀNH TRƯỚNG
VÀ BÁ QUYỀN QUA NHỮNG XÊ DỊCH
CỦA KHÁI NIỆM “TRUNG QUỐC”
TRẦN NGHĨA
Hai tiếng “Trung Quốc” như thư tịch cổ nước này cho thấy, ngay từ đầu đã bao hàm khá nhiều nghĩa. Cụm nghĩa thứ nhất liên quan tới vấn đề lãnh thổ, có thể quy thành sáu trường hợp như sau:
1. Trung quốc đồng nghĩa với “đế đô” hay “vương kỳ”, tức nơi vua ở, như trong câu: ‘Phàm hại nhân giả, trí chi viên thổ (…), kỳ năng cải quá, phản ư Trung quốc’ (Phàm kẻ hại người, nhốt y vào ngục (…), y biết sửa lỗi, cho trở lại đế đô) (1)
2. Trung quốc đồng nghĩa với “kinh sư”, tức “kinh đô” như trong bài thơ Dân lao ở Kinh Thi, phần Đại nhã:
Dân diệc lai chi,
Hát khả tiểu khang!
Huệ thử Trung Quốc
Dĩ tuy tứ phương…
(Dân gian lao khổ,
Hết cách nghỉ ngơi!
Hãy vì kinh sư,
Vỗ yên bốn cõi…) (2)
3. Trung quốc đồng nghĩa với “Quốc trung”, tức trong nước: “Ngô dục Trung quốc nhi thụ Mạnh Tử thất” (Ta muốn xếp cho Mạnh Tử một chỗ ngay trong nước) (3).
4. Trung quốc đồng nghĩa với “Tam Hà”, tức vùng đất nằm giữa Hà Đông, Hà Nội và Hà Nam: “Thuấn nhiên hậu chi Trung quốc tiền thiên tử vị” (Thuấn sau đó tới đất Tam Hà, lên ngôi thiên tử) (4).
5. Trung quốc đồng nghĩa với “Ký Châu”, theo phát hiện của Cố Viêm Vũ: “Cổ chi Thiên tử thường cư Ký Châu: hậu nhân nhân chi, toại dĩ Ký Châu vi Trung quốc chi địa” (Xưa kia thiên tử thường ở Ký Châu, người đời sau đó bèn lấy Ký Châu làm đất Trung quốc) (5)
6. Trung quốc chỉ miền “Hoa Bắc”: “Nhiên tắc vương chi sở đại dục, khả tri dĩ: dục tịch thổ địa, triều Tần Sở, ly Trung quốc nhi phủ tứ di dã” (thế thì cái ham muốn lớn của nhà vua cũng có thể biết được thôi đó là: muốn mở rộng đất đai, làm cho Tần Sở về chầu, tới Hoa Bắc mà vỗ về các dân tộc bốn phía) (6).
Cụm nghĩa thứ hai liên quan tới vấn đề dân tộc, đại để có ba trường hợp như sau:
1. Trung quốc được hiểu như “Trung Hạ”: “Trung quốc giả, trung hạ chi quốc dã” (Trung quốc, ấy là nước Trung Hạ) (7), Chữ “trung” nói lên vị trí trung tâm thế giới của Trung Quốc (8) và chữ “Hạ” để chỉ dân tộc Trung Quốc (9) với đặc chất là vĩ đại (10) và văn minh (11).
2.Trung quốc được xem như biểu tượng của sự toàn thiện toàn mỹ, một hình mẫu cho thế giới trông theo: “Trung quốc giả, cái thông minh tuệ trí chi sở cư giã, vạn vật tài dụng chi sở tụ dã, hiền thánh chi sở giáo dã, nhân nghĩa chi sở thi dã, Thi, Thư, Lễ, Nhạc chi sở dụng dã, dị mẫn kỹ nghệ chi sở thi dã, viễn phương chi sở quan phó dã, Man Di chi sở nghĩa hành dã” (Trung quốc, ấy là nơi cư trú của thông minh tài trí, nơi tích tụ của tiền bạc vật dùng, nơi thánh hiền giáo hóa, nơi nhân nghĩa thực thi, nơi Thi, Thư, Lễ, Nhạc được áp dụng, nơi tinh vi kỳ xảo được đem dùng, nơi phương xa tìm tới để quan chiêm, tơi Man Di trông theo để học tập (12).
2. Trung quốc được giải thích như là mặt sáng, mặt đối lập của bộ phận nhân loại còn lại mà theo cách nhìn của phong kiến Trung quốc, chỉ toàn một lũ Man, Di: “Lưu Hâm viết trú tượng Trung quốc, dạ tượng Di Địch” – (Lưu Hâm nói rằng ban ngày tượng trưng cho Trung Quốc, ban đêm tượng trưng cho Di, Địch) (13)
Qua chín trường hợp ngữ nghĩa khác nhau chủ yếu là ở giai đoạn Tiên Tần, giai đoạn đặt nền móng cho toàn bộ những phát triển về sau của Trung Quốc trên đây, ta có thể rút ra mấy nhận xét:
Một là, với cụm nghĩa “lãnh thổ” – Trung Quốc được hiểu như “vương kỳ”, “kinh sư”, “quốc trung”, “Tam Hà”, “Ký Châu”, “Hoa Bắc” – các ngữ nghĩa ấy tự nó đã để lại con đường hình thành của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc dưới ba triều đại Hạ, Thương, Chu. Từ chỗ là một mảnh đất chật hẹp (vương kỳ), Trung Quốc dần dần thôn tính nhiều nước lớn nhỏ khác và trở thành một thế giới rộng lớn (Hoa Bắc) để lại đằng sau nó một chuỗi dài tên các nước thật sự đã bị nó “xoá sổ”. Từ chỗ là một tên gọi chung (quốc trung, kinh sư, vương kỳ), Trung Quốc dần dần được sử dụng như một danh xưng đặc biệt (Tam Hà, Ký Châu, Hoa Bắc) phản ánh quá trình “tiêu hóa” những đất đai mà cỗ cối xay bành trướng Trung Quốc đã đặt vào họng nó.
Hai là, với cụm nghĩa “dân tộc” – Trung Quốc được hiểu như “Hoa Hạ”, “toàn thiện, toàn mỹ”, “mặt sáng” của nhân loại, ” mặt đối lập” của thế giới Man Di – các ngữ nghĩa ấy đều nói lên lòng tự cao, tự đại của những kẻ muốn từ dành cho mình quyền ngồi trên đầu, trên cổ các dân tộc mà họ gọi là “mọi rợ”. Đó thực chất không khác gì hơn là biểu hiện của chủ nghĩa bá quyền đại dân tộc của Trung Quốc ở buổi ban sơ của nó.
Ba là, Trung Quốc – bành trướng – bá quyền như vừa thấy, đã kết nối với nhau, quyện chặt vào nhau thành một thứ “tam nhất thể”, (ba ngôi của trong một chỉnh thể) ngay từ thủa lọt lòng của chúng. Thực tế này đòi hỏi trong khi khảo sát bất cứ mặt nào của cái “tam vị nhất thể” đó, cũng không được tách rời với các mặt còn lại kia.
Từ những gợi ý trên đây, thử nhìn lại một cách khái quát con đường phát triển của chủ nghĩa bành trướng nước lớn và chủ nghĩa bá quyền đại dân tộc phương Bắc từ sau khi xuất hiện cho đến khoảng cuối Thanh, lúc mà cả thế giới “Man Di” đã đủ sức đưa ông bạn phong kiến láng giềng của họ vào trật tự, cương vực Trung Quốc do vậy cũng bắt đầu được định hình.
Thời Tiên Tần, cái gọi là “Trung Quốc” – được hiểu như trung tâm quyền lực và văn minh nhân loại – bao gồm Tề, Lỗ, Tần, Tống, Trần, Thái. Tào, Vệ, Tề là một bộ phận của Trung Quốc, từng giương cao ngọn cờ “tôn nhà Chu, tẩy chay người Địch, người Di” (14). Lỗ cũng là một bộ phận của Trung Quốc, từng thiết lập cái học Bách gia và Thi, Thư, Lễ, Nhạc (15). Tấn hay Tam Tấn gồm Hàn, Nguỵ, Triệu là lực lượng mà Thiên tử thường sử dụng để răn đe hoặc đối phó với các nước chư hầu (16). Còn Tống, Trần, Thái, Tào, Vệ thì tuy mỗi đằng một vẻ, nhưng cũng như các thế lực trên, đều là họ hàng tông giống nhà Chu, hoặc ít ra cũng thuộc dòng thế phiệt từ các triều trước còn lại. Đối tượng nô dịch và khinh rẻ của Trung Quốc thời bấy giờ là những nước, những dân tộc “không phải Trung Quốc”, tức “Man Di”. Đó là Sở hay Kinh man, Sở man “ngu xuẩn”, dám “kết thù với nước lớn” (17)… Đó là Ngô đáng lẽ cam tâm với phận mọi rợ, thì lại ngang nhiên “học đòi” quan cách Bắc phương (18)… Là Việt tộc, tiếng nói “líu lo”, không giống với Trung Quốc (19)… Là người Thục, cũng một tuồng Nhung Địch, sống hẻo lánh tận gốc trời Tây (20)… Tất cả những nước “không phải Trung Quốc” đó chỉ được “hưởng” một chế độ đối xử duy nhất là “trừng phạt” (21). Trong tầm khuyến khích và biện hộ của tư tưởng bá quyền đại dân tộc thể hiện dưới dạng “tôn Chu nhương Di” (tôn nhà Chu, bài xích người Di) trên đây, nhiều nước trong khối “Trung Quốc” đã ngốn không ít đất đai những “lân bang” của họ. Yên gặm dần Lâm Hồ, Liêu Đông (22)… Triệu gặm dần Trung Sơn, Lâu Phiền (23)… Tần “lấy mười hai nước mở đất nghìn dặm” (24). Ngay như Sở từng bị coi là đối tượng chinh phục, đến lượt nó, cũng đã vác ngọn cờ “tôn Chu nhương Di” đi xâm chiếm một số đất đai của Nam Man, Bách Bộc, Điền Trì (25)…
Dẫu sao thì bá quyền và bành trướng dưới thời Tiên Tần bất quá cũng như câu chuyện giành giật quyền vị trong nội bộ một nước, một “thế giới Trung Quốc” vào thủa ra đời của nó. Tính chất nội chiến ở đây rõ nét hơn tính chất ngoại xâm. Cuộc huynh đệ tương tàn trong nội bộ giai cấp thống trị để giành quyền bá chủ Trung nguyên đã làm phân tán và tiêu ma gần hết sức mạnh lớn lao của nhân dân Trung Quốc. Cái được chăng đối với người Hoa Hạ lúc này là bài học thấm thía về nhu cầu phải có một nước Trung Quốc thống nhất, loại bỏ hẳn tham vọng bành trướng, bá quyền… Tần Doanh Chính diệt được sáu nước trong số bảy hùng, đưa giang sơn về một mối, là dựa vào nhu cầu khách quan trên đây của thời đại. Nhưng sau khi lên cầm quyền, tên Hoàng đế đầu tiên này của Trung Quốc đã “bắc lấn Hung Nô, nam xâm Giao Chỉ”, chính thức trương lên ngọn cờ bành trướng bá quyền – đúng theo nghĩa của nó, từng bị nhân dân Trung nguyên nguyền rủa. Một đế quốc to rộng được thành lập nhưng cơ nghiệp nhà Tần cũng vì vậy mà đi tới bại vong.

Lãng thổ Trung Quốc thời nhà Hán
Trên cái nền hương hỏa chưa hẳn trăm phần trăm lương thiện của Tần Doanh Chính, nhà Hán đã đẩy chủ nghĩa bá quyền bành trướng đi xa hơn. Đại bộ phận các nước gọi là Di Địch thời Tiên Tần còn sống sót, nay đều thay áo đổi vai để làm “Trung Quốc” cả. Nói một cách khác, Trung Quốc thời Lưỡng Hán bao gồm phần lớn Di Địch buổi Tiên Tần. Còn Di Địch hồi này, lại chính là cái vòng đai mới vây quanh số Di Địch cũ. Đó là người Di ở phương Đông “vấn tóc vẽ mình”; người Man ở phương Nam “giao chân chạm trán”, người Nhung ở phương Tây “vấn tóc mặc da”; người Địch ở phương Bắc “mặc lông ở lỗ” (26). Trong số Bốn Di ấy, không một loại nào được nhà Hán coi là “người” cả. Sách Xuân Thu từng chép “người Hình, người Địch đánh Vệ”; “người Tề, người Địch cùng minh ước tại Hình”. Họ Công Dương chú giải Xuân thu tới đoạn này đã lờ đi không nói rõ vì sao Khổng Tử lại gọi Địch là “người Địch”, điều mà nhà Hán hết sức kiêng tránh (27). Đổng Trọng Thư, một nhà lý luận đời Hán từng quan niệm sách Xuân Thu không phải viết cho Di Địch mà là nhằm làm “điển lễ” cho Trung Quốc (28). Bốn Di không phải là người, Trung Quốc tất nhiên có sứ mệnh “khai hóa” họ, giúp họ “hiểu phận làm tôi” (29). Đó là điểm mới trong tư tưởng bá quyền đại dân tộc của phong kiến đời Hán. Với chiêu bài này, cái vành đai Đông Di, Tây Nhung, Nam Man, Bắc Địch tức khắc trở thành con mồi trước chính sách mở rộng biên cương của Hán Vũ Đế Lưu Triệt. Sau mấy mươi năm “cùng bình độc vũ” (ráo riết dùng vũ lực), Lưu Triệt đã nống biên giới Trung Quốc đông đến biển Đông, tây đến Tây vực, nam đến Nam Việt, bắc đến Hung Nô. Hán thư chép: “Hiếu Vũ Hoàng Đế (…) sai các đại tướng Phiêu Kỵ, Phục Ba, Lâu Thuyền diệt Bách Việt ở phương Nam, lập ra bảy quận: dẹp Hung Nô, trừ mười vạn quân Côn Tà ở phương Bắc, đặt thành năm nước phụ thuộc, xây dựng mạn Bắc để đoạt lấy đất phì nhiêu; đánh Triều Tiên ở phương Đông, lập Huyền Thổ, Nhạc Lương để chặt cánh trái của Hung Nô, đánh Đại Uyển ở phương Tây, thôn tính ba mươi sáu nước lập Đôn Hoàng, Tửu Tuyền, Trương Dịch để tách Nha Khương, xé cánh phải của Hung Nô. Thiền Vu vì vậy bị cô lập, phải trốn ra Mạc bắc (…). Đất đai mở tận cõi xa, lập hơn mười quận (…). Công nghiệp trung hưng thật chưa có ai cao hơn ” (30). Cũng Hán thư, một chỗ khác: “Nay Đại Hán bên trái là Biển Đông, bên phải là Cừ Sưu, phía trước là Phiên Ngung, phía sau là Đào Đồ, đông nam một chức Ủy, tây bắc một tước Hầu, dùng thừng mực để xe buộc, dùng thớt dao để quản chế” (31). Sức mạnh của đất nước Trung Quốc thống nhất sau khi diệt “bạo Tần” đáng lẽ phải được tận dụng để phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế và xây dựng văn hóa, nâng cao đời sống nhân dân, thì một số Hoàng đế nhà Hán, trái lại, đem ném gần trọn nó vào các cuộc chiến tranh mở rộng biên giới. Sự sụp đổ tất yếu của nhà Hán dẫn tới cảnh quân phiệt cát cứ, ngoại tộc vào giày xéo Trung Nguyên, một phần quan trọng là bắt nguồn từ đó.

Lãnh thổ TRung Quốc thời nhà Đường
Đến khoảng Tùy – Đường; chủ nghĩa bành trướng nước lớn và tư tưởng bá quyền đại dân tộc Trung Quốc lại một phen ngóc đầu dậy, sau một thời gian không ngắn, ít ra là suốt cả giai đoạn Nam Bắc triều bị ngoại tộc dìm xuống tận bùn đen. Tuy Dương Quảng cũng như Đường Thế Dân sau khi giành lại cơ đồ trong tay người khác, chừng như vẫn cảm thấy món di sản do tổ tiên để lại chưa đủ to rộng về phương diện đất đai, chưa đủ lớn lao về phương diện uy vọng, đã phát binh khua khoắng khắp lượt các nước láng giềng. Tuỳ đánh vào Cao Ly, Lưu Cầu, Thổ Cốc Hồn, Lâm Ấp… Đường tấn công Đột Quyết, Thiết Lặc, Quy Tư, Cao Xương và đặc biệt là Liêu Đông. Cái nước Liêu Đông tức Cao Ly bé nhỏ dám làm mất thể diện nhà Tuỳ, nay khổng thể để tiếp tục làm mất thể diện vua Đường được, như lời Lý Thế Dân tuyên bố: “Liêu Đông vốn là đất đai Trung Quốc, nhà Tuỳ bốn lần ra quân mà không thu hồi được. Nay ta phải để con em Trung Quốc báo thù cho những cha anh họ bị chết trận, đồng thời cũng thay Cao Ly rửa cái nhục quốc vượng họ bị Tuyền Cái Tổ Văn mưu sát. Giờ đây bốn biển đều yên, chỉ có Cao Ly không phục, vậy nhân lúc ta chưa già, hãy dùng cái công nhàn của các khanh ma lấy phắt nó đi! (31). Con người “hiếu đại hỉ công” (ham ăn to, thích công lớn) này sau khi dùng vũ lực kết hợp với đủ thứ mưu ma chước quỷ, đã tạo dựng được một đế quốc rộng lớn “đông tây chín nghìn năm trăm mười dặm, nam bắc một vạn chín nghìn không trăm mười tám dặm” (33). Bây giờ thì họ Lý đã có thể ngạo nghễ nói: “Chinh phục Man Di ngày trước, chỉ có Tần Thuỷ Hoàng và Hán Vũ Đế. Ta nay, với thanh kiếm dài ba thước, đã khuất phục hai trăm vương quốc, dẹp yên bốn biển, bọn Man Di ở cõi xa cũng lần lượt về quy phục!” (34)
Nhưng Đường Thái Tông khẳng định mình hơi sớm, có biết đâu rằng chính cái việc khiến Man Di ở cõi xa cũng lần lượt về “quy phục” kia đã trở thành một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới loạn An Sử (35), làm trúc đổ cả cơ nghiệp nhà Đường.
Từ đây về sau, chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc tuy không còn gây được ấn tượng mạnh mẽ trong các nước “phên giậu” như dưới thời Đường, thời Hán (36) nhưng tiếp tục tồn tại và thỉnh thoảng cũng được khoác lên những lớp áo thời trang. Rõ nét nhất là triều Thanh, và phần nào triều Tống. Dưới triều Tống, để xâm lược nước khác, như đối với Đại Việt chẳng hạn, tể tướng Vương An Thạch đã tung ra những lời lừa mị, nhằm đẩy nhân dân Trung Quốc vào cuộc chiến tranh phi nghĩa như sau: “diệt được Giao Chỉ (tên nước Việt hồi ấy – TN) uy ta sẽ có. Rồi ta thông báo cho Thiểm Tây biết, quân Thiểm Tây sẽ có nhuệ khí. Với nhuệ khí đó, ta sẽ nuốt chửng nước Hạ (37), mà nếu nuốt được nước Hạ thì ai còn dám quấy nhiễu Trung Quốc nữa” (38). Trên thực tế, mọi tính toán của họ Vương cuối cùng đều bị phá sản trước sự thức tỉnh không chỉ của nhân dân Trung Quốc, mà còn của cả các dân tộc láng giềng của họ nữa. Đến triều nhà Thanh, chủ nghĩa bành trướng lại được dịp trỗi dậy với cuộc chiến tranh xâm lược Mông Cổ (Ngoại Mông), Tân Cương (Thiên – Sơn Bắc Lộ, Thiên Sơn Nam Lộ), Tây Tạng, Thanh Hải, Miêu Cương, Đại Kim Xuyên, Tiểu Kim Xuyên, Miến Điện, Đại Việt v.v… Lý do phát động các cuộc chiến tranh phi nghĩa ấy, nói như các hoàng đế Mãn Thanh là nhằm làm cho người Trung Quốc không còn nhìn kẻ đang thống trị họ với con mắt xa lạ: “Triều ta từ khi vào chủ quản Trung Quốc, làm vua thiên hạ tới nay, đến các bộ lạc xa xôi của Mông Cổ cũng đã sáp nhập vào bản đồ, cương vực Trung Quốc càng trở nên to rộng, phải coi đó như cái may lớn đối với thần dân Trung Quốc, chứ sao lại cứ giữ mãi cái thành kiến Hoa Di, Trung ngoại… ” (39). Nói một cách khác, Huyền Hoa (Thanh Thánh Tổ), Dân Chẩn (Thanh Thế Tông), Hoằng Lịch (Thanh Cao Tông) đều muốn nhân dân Trung Quốc nhìn nhận họ như những khuôn mặt quen thuộc, những người “con đích”, những kẻ thừa kế xuất sắc nhất y bát “bành trướng và bá quyền” mà các vua chúa Trung Quốc từ ngàn xưa truyền lại. Rồi mải vui với hào quang tự tạo ấy, cộng với truyền thống tự đại, dưới mắt không người, các hoàng đế nhà Thanh đã cài cửa ngủ yên cho đến khi chủ nghĩa tư bản phương Tây vào tận sân sau của họ mà họ vẫn còn ngái ngủ… Chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc dưới thời phong kiến thật sự đã kết thúc như một tấn bi hài kịch có một không hai!
Chú giải:
(1) Chu lễ, Chu quan đại tư khấu.
(2) Mao thi, quyển 17, về chữ “Trung Quốc”, Ma Tránh chú thích như sau: “Trung Quốc có nghĩa là kinh đô” (Trung Quốc, kinh sư dã)
(3) Mạnh tử, Công Tôn Sửu (hạ), Triệu Kỳ chú thích câu dẫn trên là “vua muốn cho Mạnh Tử một câu nhà ở ngay tại nước mình” (Vương dục ư quốc trung vị Mạnh Tử thụ thất).
(4) Quý tị loại cảo của Du Chính Nhiếp, quyển 3, Thuấn chi Trung Quốc nghĩa. Họ Du viết: “theo sách Mạnh Tử, thì Thuấn đến phía nam Nam Hà để tránh con của Nghiêu; Vũ đến Dương Thành để tránh con của Thuấn; Ích đến phía Bắc Cơ Sơn để tránh con của Vũ. Thiên hạ đều theo về với Thuấn và Vũ, cho nên Mạnh Tử và Sử ký bản kỷ (chi Sử ký Đế Nghiêu bản kỷ – TN chú thích) đều nói Thuấn sau đó tới Trung Quốc lên ngôi Thiên tử (…)”
(5) Nhật trí lục, quyển 2, Duy hi Đào Đường hữu thử Ký phương Họ Cố đã dẫn các cứ liệu sau đây để thuyết trình cho nhận định của ông: “Cửu ca trong Sở từ có câu:’Ngắm Ký Châu chừ xa khơi’ (Lãm Ký Châu hề hữu dư); sách Hoài Nam tử có câu: ‘Họ Nữ Oa giết Hắc Long để cứu Ký Châu’ (Nữ Oa Thị sát Hắc Long dĩ tế Ký Châu); Lỗ – sử cũng nói ‘Trung Quốc được gọi chung là Ký Châu’ (Trung Quốc tống bị chi Ký Châu)…”
(6) Mạnh Tử, Lương Huệ Vương (thượng), ở một số nơi khác trong sách Mạnh Tử, chữ “Trung Quốc” cũng được dùng theo nghĩa trên.
(7) Chiến quốc sách, Triệu sách.
(8) Hán thư, Ngũ hành chí.
(9) Xuân thu, Công Dương truyện, Thành Vương thập ngũ niên:
“Bên ngoài Trung Quốc, có các nước chư hầu; bên ngoài các nước chư hầu có các nước Di, Địch.” (Trung Quốc chi ngoại hữu chư hạ; chư hạ chi ngoại hữu Di, Địch).
(10) Thuyết văn giải tự: “Hạ là người Trung Quốc” (Hạ, cTrung Quốc chi nhân dã)
(11) Thuyết văn giải tự; phần chú thích của họ Đoàn: “Hạ nghĩa dẫn thân là to lớn” (Hạ, dẫn thân chi nghĩa vi đại dã).
(12) Kinh thư, Thuấn điển, dưới câu “Man Di hoạt hạ” có giải thích: “Hạ ngĩa là lớn, Trung Quốc có cái bề thế về mặt văn hóa lễ nghi” (Hạ huấn đại dã Trung Quốc hữu văn chương quang hoa lễ nghi chi đại) (Chính nghĩa)
(13) Hán thư, Ngũ hành chí.
(14) Thuyết uyển; Tôn hiên thiên: “Thời xuân thu, Thiên tử suy yếu, chư hầu dùng chính sách bạo lực, đều trở mặt không chịu vào chầu. Hoặc ỷ thế đông áp chế kẻ cô quả; hoặc cậy thế mạnh bắt nạt người non yểu. Nam Di và Bắc Địch xâm nhập chạm đầu nhau, Trung Quốc không ngừng ở vào thế như treo đầu sợi tóc. Tề Hoàn Công vì vậy mới dùng Quản Trọng và Bào Thúc cứu Trung Quốc, tẩy chay người Di người Địch”
(15) Trang Tử, Thiên hạ thiên: “Về Thi, Thư, Lễ, Nhạc thì đám kẻ sĩ và tân thân tiên sinh Trâu Lỗ phần đông đều am hiểu (…) Về cái học Bách gia thi tuy tản mát trong thiên hạ, nhưng vốn được thiết lập tại Trung Quốc và thỉnh thoảng vẫn được người ta nhắc tới ở đây”.
(16) Chiến quốc sách, Triệu sách: “Công Tôn Diễn nói với Nghĩa Cừ rằng: ‘Trung Quốc mà im ắng với Tần, thì Tần nó đốt trụi nước anh ngay. Nhưng nếu Trung Quốc chủ đông gây binh đao với nó, nó sẽ sai sứ mang hậu lễ sang biếu nước anh cho mà xem’. Nghĩa Cừ đáp: ‘Xin vâng lệnh’ . Cách ít lâu, năm nước (chỉ Tề, Tống, Triệu, Hàn, Ngụy – TN) cất quân đánh Tần”.
(17) Sử ký, Sở thế gia: “Hùng Cừ rằng: “Ta là Man Di, không dính dáng với thụy hiệu Trung Quốc”. Bèn lập con trưởng là Khang làm Câu Đản Vương, con giữa là Hồng làm Ngạc Vương, con út là Chấp Tì làm Việt Chương Vương, đều ở ven sông thuộc đất Man Sở cả. Kinh Thi, Tiểu nhả, Thái dĩ: “Xuẩn quá, lũ Kinh man, dám kết thù với nước lớn” (Xuẩn nhi Man kinh, đại bang vi cừu).
(18) Thuyết uyển, Phung sứ thiên: “Yến Tử đi sứ nước Ngô, vua Ngô nói: ‘kẻ cô quả này may được dung thân nơi Man di hẻo lánh’. Thi Tử, Quảng trạch thiên: ‘nước Ngô (…) lấy thần thiếp chôn theo người chết, Trung Quốc Nghe vậy chế nhạo hết lời’”
(19) Liệt tử, Thiên thụy thiên: “Con trình, Trung Quốc gọi là con báo, người Việt gọi là con mạch”. Hoài Nam tử: “Việt là đất cõi ngoài (…). Từ hồi Tam dại (chỉ Hạ, Thương, Chu – TN) hưng thịnh, người Hồ người Việt không nhận chính sóc. Nếu không mạnh, không thể chinh phục họ: không oai, không thể chế ngự họ”
(20) Sử ký, Trương Nghi truyện: “Nay Thục là một nước hẻo lánh tận góc trời tây, cũng một tuồng Nhung Địch” (Lời Trương Nghi), “Lấy được đất Thục, có thể mở rộng lãnh thổ Trung Quốc, thu được của cải của họ, có thể làm giàu dân ta” (Lời Tư Mã Thố).
(21) Kinh Thi, Lỗ tụng, Muộn cung: “Đối với hai nước Kinh và Thư thì chỉ còn một cách là trừng phạt thôi” (Kinh, Thu thị trừng).
(22) Chiến quốc sách, Yên sách
(23) Chiến quốc sách, Triệu sách
(24) Hàn Phi tử, quyển 3, Thập quá thiên.
(25) Sử ký, Sở thế gia.
(26) Lễ ký, Vương chế.
(27) Chương Bỉnh Lân cho rằng Địch chưa đạt tới trình độ “người”, vậy mà Hình và Tề đều xem họ như người, thế là Hình và Tế cố ngoi lên cho bằng Địch, chứ không phải nâng Địch lên cho bằng mình. Đấy là một kiểu “nói kháy” của Khổng Tử. (Thái Viêm văn biệt lục; quyển 1, Trung Hoa dân quốc giải).
(28) Xuân thư phồn lộ, quyển 2, Trúc lâm.
(29) Bạch hổ thông: Xem Vương giả bất thần và Lễ nhạc thiện.
(30) Hán thư, Vi Huyền Thành truyện.
(31) Hán thư, Dương Hung truyện.
(32) Trung Quốc thông sử giản biên: Trung Quốc lịch sử nghiên cứu hội; Thượng Hải; 1951; tra. 394-395.
(33) Sđd, tr. 393.
(34) Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học và xã hội; Ha Nội 1971, tr 118.
(35) An Sử: tức An Lộc Sơn (cha Hồ, mẹ Đột Quyết) và Sử Tư Minh (Đột Quyết), đều là những người được nhà Đường cất nhắc để lợi dụng. Nhưng về sau, chính hai viên Tiết độ sứ này đã dẫy binh quật lại nhà Đường.
(36) Bình Châu khả đàm của Chu Húc, quyển 2: “Uy lệnh nhà Hán thịnh hành ở tây bắc cho nên người tây bắc gọi Trung Quốc là nước Hán: nay lệnh nhà Đường thịnh hành ở đông nam, cho nên Man Di gọi Trung Quốc là nước Đường”.
(37) Nước Hạ với nước Liêu hồi này đang uy hiếp vùng biên giới phía bắc và tây bắc Trung Quốc.
(38) Tục Tư trị thông giám trường biên của Lý Đào, quyển 276.
(39) Trung Quốc thông sử giản biên. Sđd, tr 930
___
Nguồn: Tác giả trực tiếp gởi cho Blog Nguyễn Đăng Hưng

Recent Comments