Archive

Archive for the ‘Bài viết trích từ báo chí’ Category

Những bài thơ hay của Nguyễn Việt Chiến

January 27th, 2010 No comments

nguyen-viet-chien

Tôi nghĩ, đối với những người cầm bút hôm nay, vượt lên trên tất cả các vấn đề thời sự nhậy cảm ấy là tình yêu Tổ quốc. Tình yêu đó được nuôi dưỡng trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam qua nhiều thăng trầm, và hình như lại đang được khơi dậy trong những tháng năm này.

Nguyễn Việt Chiến

Thời đất nước gian lao


Chúng đã ngủ cả rồi

những con hươu bị bóng đêm săn đuổi

chúng đang gác cặp sừng lên vầng trăng cuối tháng

rồi nằm mơ về một cánh rừng

không có thuốc đạn và súng săn

Họ đã ngủ cả rồi

những người lính bị chiến tranh săn đuổi

họ nằm mơ gặp lại bầy hươu

gác sừng lên người bạn vô danh

trên cánh rừng đã chết

Chỉ còn lại vầng trăng và giấc ngủ

chỉ còn lại dấu vết cuối cùng của bầy hươu bị săn đuổi

chỉ còn lại câu thơ thầm lặng

về những người đã ra đi

Chỉ còn lại những gì không còn lại

bởi người  đau đớn nhất sau chiến tranh

không ai khác ngoài mẹ của chúng ta

những đứa con không trở về

hoà bình dưới mưa phùn

được đắp bằng cỏ non và nước mắt

*

*   *

Đêm đêm

những người con ngỡ đã đi thật xa

đang lặng lẽ trở về

họ lẫn vào gió vào sương đêm

không cần an ủi

họ chẳng ồn ào như lời ca sôi sục ngày ra đi

Họ còn nguyên tuổi trẻ

những người lính chưa tiêu phí một xu mơ ước

chưa tiêu hoài một đồng thanh xuân

Họ trở về tìm lại

trang sách học trò đêm đêm còn thao thức

trên  cánh đồng tiếng Việt ngàn năm

Mẹ lại thấy chúng con về

như cánh cò tuổi thơ lưu lạc

đã bao ngày phải xa rời thôn ổ yêu thương

chúng con trở về tìm lại

giọt nước mắt xót xa và đắng cay của mẹ

Một bên là núi sông ngăn cách

còn bên kia là bóng đêm chiến tranh

vẫn biết đạn bom không có mắt

vẫn biết hận thù không thể phân biệt nổi

đâu là hoa sen và đâu là bùn tối

nhưng các anh vẫn phải ra đi

Các anh phải ra đi

lời ru chùa Tây Phương

những La Hán mặt buồn

người thợ mộc xứ Đoài

lấy thân xác hom hem của mình làm mẫu vẽ

ba mươi sáu dẻo xường sườn

réo rắt tấu lên bản đàn tam thập lục

người gẩy đàn thì đau đớn

mà bản nhạc viết cho đàn lại reo vui

*

*   *

Mẹ đã sống dưới mưa phùn ảm đạm

những ngày dài nghèo đói quắt quay

Mẹ thiếu sữa sinh đứa con thiếu tháng

Tổ quốc xanh xaoTổ quốc hao gầy

Mẹ có mặt trong dòng người nhẫn nại

lặng lẽ xếp hàng từ mờ sớm tới đêm hôm

Mẹ lần hồi thời cơm tem gạo phiếu

nuôi lớn những người con

rồi gửi tới chiến trường

Mẹ đã khóc lúc rời ga Hàng Cỏ

những đoàn tầu hun hút tuổi hai mươi

một thế hệ hồn nhiên không biết chết

chưa từng yêu khi gục ngã cuối trời

Mẹ ở lại với sông Hồng tần tảo

áo phù sa lam lũ tháng ngày

câu quan họ cất trong bồ thóc cũ

sông Cầu trôi như một tiếng thở dài…

*

*   *

Tàu xuyên đêm

tiếng gió xé bánh xe lăn quần quật

đêm nay họ trở lại một thời gian lao

đường vào Nam hun hút những chuyến tầu

máu rất đỏ tuổi hai mươi nằm lại

câu hát bảo:

tuổi hai mươi những người đi trẻ mãi

câu thơ bảo:

đất nước hình cánh võng mẹ ru ta

Và ở hai đầu đêm võng mắc dọc rừng già

trăng cũng sốt rét rừng như ta sốt

trăng mất máu như bạn ta thủa trước

dọc cánh rừng na-pan

Sông Thạch Hãn

nước mùa này còn ấm

và các anh trong suốt

những người hy sinh thời gian lao

Mây Quảng Trị

mùa này vẫn một mầu huệ trắng

trên Cổ Thành

như  ngày các anh ngã xuống

những người hy sinh thời gian lao

Và mưa gió Trường Sơn

mùa này vẫn tắm gội

những người con nằm lại

thời đất nước gian lao

Những cánh rừngcuối thu ngủ dưới mưa phùn

đất nước tôi những người nằm trong đất

chất phác như bùn hồn nhiên như cỏ

buồn đau không còn thở than

Những ngọn sóng đất đai lưu giữ mọi thăng trầm

người chép sử ngàn năm là bùn đất

kiên trì và nhẫn nại

máu của người là mực viết thời gian.

_______________________________________________

Tổ quốc nhìn từ biển

Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển

Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa

Ngàn năm trước con theo cha xuống biển

Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa

Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc

Các con nằm thao thức phía Trường Sơn

Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả

Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn

Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển

Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng

Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa

Trong hồn người có ngọn sóng nào không

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo

Lạc Long cha nay chưa thấy trở về

Lời cha dặn phải giữ từng thước đất

Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi

Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể

Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù

Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ

Thương Hòn Mê bão tố phía âm u

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích

Những đau thương trận mạc đã qua rồi

Bao dáng núi còn mang hình goá phụ

Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm hoạ

Đã muời lần giặc đến tự biển Đông

Những ngọn sóng hoá Bạch Đằng cảm tử

Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng

Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo

Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn

Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy

Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân

Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả

Những chàng trai ra đảo đã quên mình

Một sắc chỉ về Hoàng Sa thủa trước*

Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát

Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời

Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất

Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi

(Trại viết Hạ Long 4-2009)

(Bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” in trên Tạp chí VNQĐ số tháng 5-2009)

Read more…

Một video của VTV4 phỏng theo báo Đất Việt

January 22nd, 2010 No comments
Lang thang trên mạng, tôi bỗng bắt gặp một YOUTUBE  có tựa đề như sau.
Xin kéo vể đây giới thiệu cùng thân hữu.

GS Nguyễn Đăng Hưng trở về quê hương để cống hiến

Get the Flash Player to see the wordTube Media Player.

Bài báo của phóng viên Minh Thư trên Tiếng Nói Việt Nam, Cập nhật lúc : 10:30 AM, 21/01/2010

January 22nd, 2010 No comments
bejing1

Hội Nghị toàn cầu về Cơ học tính toán, Bắc Kinh 2004

Chuyện một giáo sư Việt kiều


http://vovnews.vn/Home/Chuyen-mot-giao-su-Viet-kieu/20101/132685.vov

Với những đóng góp trong hoạt động nghiên cứu khoa học, ông là một trong những gương mặt Việt kiều đã góp phần làm rạng danh đất nước.

Bạn bè trên thế giới biết đến Việt Nam nhiều hơn qua cái tên quen thuộc: GS.TS Nguyễn Đăng Hưng.

Đào tạo hơn 300 thạc sĩ trình độ quốc tế

GS.TS Nguyễn Đăng Hưng sinh năm 1941, là người con của vùng đất Quảng Nam. Sinh ra ở một vùng quê hiếu học, cậu bé Hưng luôn là một học sinh xuất sắc. Năm 1960, nhờ đỗ tú tài xuất sắc cả ban toán và ban văn, Nguyễn Đăng Hưng nhận được học bổng ngành kỹ thuật của Vương quốc Bỉ trao tặng. Đi du học tại một đất nước có nền khoa học, công nghệ phát triển, Nguyễn Đăng Hưng luôn làm bạn bè và các giáo sư trong trường đại học thán phục bởi lòng ham học và tính sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu khoa học.

Năm 1966, Nguyễn Đăng Hưng tốt nghiệp đại học, được giữ lại giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Liège, trở thành một trong những nhà cơ học xuất sắc của thế giới và giành được nhiều giải thưởng quốc tế uy tín.

Tuy xa cách quê hương nhưng tấm lòng của ông luôn hướng về đất nước. Khi đất nước còn trong chiến tranh, ông đã tham gia vào các cuộc biểu tình chống chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam.

Năm 1977, theo lời mời của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước Việt Nam (tiền thân của Bộ Khoa học - Công nghệ), giáo sư Hưng có dịp được về giảng dạy hai tuần tại Đại học Giao thông - Vận tải Hà Nội. Về giảng dạy tại quê nhà, ông nhận thấy Việt Nam vừa trải qua chiến tranh, rất thiếu nguồn nhân lực xây dựng đất nước.

Bằng uy tín và các mối quan hệ của mình, năm 1990, ông đã thuyết phục được các nhà tài trợ nước ngoài và các đối tác châu Âu giúp đỡ tài chính cho chương trình đào tạo liên đại học mang tên: “Thạc sĩ Âu Châu về cơ học xây dựng” (EMMC) tại TP. Hồ Chí Minh. Ba năm sau là một chương trình tương tự - “Thạc sĩ Âu Châu về mô phỏng và thiết kế trong kỹ thuật” (MCM) tại Hà Nội.

Ngày khánh thành trạm quan trắc, đo đạc thủy khí thủy văn Mũi Né 2007

Ngày khánh thành trạm quan trắc, đo đạc thủy khí thủy văn Mũi Né 2007

Các chương trình đào tạo sau đại học được xây dựng theo tiêu chuẩn Châu Âu và được đại học Liège cấp bằng. Những sinh viên có kết quả học tập xuất sắc còn được nhận học bổng tiến sĩ ở Châu Âu, Canada, Australia, Nhật Bản… Tính đến khi chương trình đào tạo này chấm dứt (tháng 9/2008), giáo sư Hưng đã góp phần đào tạo tại chỗ 318 thạc sĩ và 20 tiến sĩ cho đất nước, chưa kể trên 50 người còn tiếp tục theo học ở nước ngoài.

Ngoài ra, ông còn là thành viên Ban điều hành và Điều phối viên của Đề án Hợp tác đào tạo tiến sĩ một số chuyên ngành kỹ thuật tại Châu Âu dưới hình thức đồng hướng dẫn bằng ngân sách Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2003 - 2008.

Trước tình trạng bờ biển Việt Nam bị xâm thực nghiêm trọng bởi sự thay đổi của khí hậu trái đất, ông đã cùng với trường Đại học Thủy lợi Hà Nội xây dựng đoạn kè tiêu biểu dài 300m theo kỹ thuật hiện đại tại bờ biển Mũi Né (Bình Thuận) và xây dựng ở đây một trạm đo đạc thủy khí, thủy văn vùng biển theo sự tài trợ của cộng đồng Wallonie-Bruxelles.

Với những cống hiến cho đất nước, ông đã được trao tặng danh hiệu “Vinh danh đất Việt” năm 2005 và nhận bằng khen của Bộ Ngoại giao Việt Nam (năm 2005 và năm 2007).

Giáo sư Hưng cho rằng, có sự khác biệt rất lớn giữa các trường đại học ở Việt Nam và trường đại học của các nước tiên tiến trên thế giới. Ở các nước Âu, Mỹ, các trường đại học là nơi truyền bá tri thức và nghiên cứu khoa học một cách khách quan. Ở Việt Nam, còn lẫn lộn giáo dục với tuyên truyền, chương trình học nặng lý thuyết, nghiên cứu khoa học không được coi trọng đúng mức. Các viện, các trung tâm nghiên cứu khoa học tách rời với các trường đại học. Kết quả là giáo trình giảng dạy không được hiện đại hóa kịp thời nhờ những kết quả nghiên cứu khoa học và những kết quả này nếu có lại không được phổ biến để có sự tiếp nối của lớp trẻ. Đây là sự lãng phí ở một đất nước còn nghèo như Việt Nam.

Theo ông, để giáo dục Việt Nam theo kịp các nước tiên tiến, không có con đường nào khác ngoài việc chúng ta phải triệt để đổi mới tư duy.

Hết mình vì sự nghiệp nghiên cứu khoa học

Năm 2006 nghỉ hưu, giáo sư Hưng hồi hương về Việt Nam và sinh sống tại TP. Hồ Chí Minh. Dù nghỉ hưu nhưng ông vẫn miệt mài với công việc chuyển giao khoa học công nghệ cho thế hệ trẻ. Ông đã mở Công ty Công nghệ quốc tế Hưng Việt (HVT) để các học trò đã theo học chương trình đào tạo quốc tế EMMC và MCMC có điều kiện thi thố khả năng trong một môi trường làm việc quốc tế.

HVT tạo ra những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, đó là những phần mềm có kỹ năng cao trong việc phân tích các loại kết cấu dựa trên những mô hình toán tiên tiến, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như: công trình dân dụng, cầu hầm, đập nước, máy móc, ô tô, máy bay, robot… Khách hàng thường xuyên của HVT là các hãng chế tạo xe hơi Mercedes - Daimler, BMW, PORSCH, GM, VOLKSWAGEN, TATA và các công ty thiết kế cấu trúc hàng không.

Theo giáo sư Hưng, các cơ sở nghiên cứu khoa học của Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết. Khoa học Việt Nam muốn có bước bứt phá cần rà soát lại hiện trạng, thay thế nhân sự. Người đầu tàu được bổ nhiệm trong một thời gian nhất định nếu không thể hiện được khả năng của mình qua những báo cáo khoa học, những công trình được công bố trên những tạp chí quốc tế, những bằng phát minh được giới khoa học thừa nhận, những hướng dẫn nghiên cứu thành công thì phải nhường chỗ cho người khác. Việt Nam phải chú ý đào tạo đội ngũ kế cận là những người trẻ không những phải có bằng tiến sỹ, có công trình khoa học mà còn phải có kinh nghiệm cọ xát với môi trường khoa học công nghệ quốc tế qua thời gian dài nghiên cứu sau tiến sỹ. Muốn đi nhanh, đi tắt, nhất là những lĩnh vực mũi nhọn, Việt Nam phải dựa vào chất xám Việt kiều.

Ông cũng cho rằng, hiện nay có trên 300.000 người Việt được đào tạo bài bản đang làm việc tại các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu, các phân xưởng, các nhà máy tiên tiến trên thế giới. Họ thường xuyên cọ xát với môi trường khoa học công nghệ có sự cạnh tranh gay gắt nhất. Vấn đề là phải thu hút được họ, tạo điều kiện để họ tự nguyện tham gia công cuộc phát triển đất nước. “Huy động chất xám cần những biện pháp tế nhị. Điều cần nhất là phải tạo dựng một không gian thoáng về tư duy, về tư tưởng, dân chủ trong phát biểu và đề xuất khoa học. Người trí thức chân chính cần tính trung thực, minh bạch, tính công khai, cần lý tưởng chân thiện mỹ” - giáo sư Hưng chia sẻ.

Những lúc rảnh rỗi, ông thường dịch những ca khúc cổ điển nước ngoài sang lời Việt./.

vovniews

GS. TS Nguyễn Đăng Hưng là tác giả của hơn 20 cuốn sách, bài giảng, từ điển và hơn 200 công trình khoa học. Phần lớn trong số đó được xuất bản bởi các tạp chí khoa học danh tiếng trên thế giới. Ông đã được nhận danh hiệu Giáo sư ưu tú và Huân chương cao quý của Vương quốc Bỉ; Huân chương Đại Hiệp sỹ của vua Léopold II, Vương quốc Bỉ. Tháng 7/1999, ông được tạp chí hàng tuần của Bỉ “Le Vif - l’Express” bình chọn là 1 trong 10 người nước ngoài “đã làm thay đổi nước Bỉ”.

Minh Thư (Báo TNVN)

Bài trên Lao Động Cuối tuần số 35 Ngày 30/08/2009

January 11th, 2010 No comments

ndh_portrait

GS-TS, kiều bào Bỉ Nguyễn Đăng Hưng:
“Lắng nghe nhau,

tôn trọng tính độc lập của trí thức”

(LĐCT) - Cuộc giao lưu với GT-TS Nguyễn Đăng Hưng được tổ chức với mục đích tạo sự gắn bó giữa trí thức Việt kiều và trí thức trong nước, cụ thể là những người hiện đang sống, làm việc tại TPHCM.

Read more…

Bài báo trên “Khoa học Phổ thông”, Giai phẩm Xuân Canh Dần, tháng 1/2010

January 7th, 2010 No comments

hvt1

GS.TSKH.NGUYỄN ĐĂNG HƯNG:


TÔI PHẢI CHUYỂN HẾT “VỐN KIẾN THỨC”

CỦA MÌNH CHO QUÊ NHÀ…


Trong năm 2009 vừa qua, sau hơn 30 năm tham gia công tác giảng dạy tại các trường đại học tại Việt Nam, GS.TSKH.Nguyễn Đăng Hưng, Việt kiều Bỉ lại có thêm một đóng góp nữa cho quê hương: thành lập công ty Hưng Việt (Hưng ViệtHV, trụ sở tại quận 9, TP.HCM), công ty duy nhất của cả nước với mô hình kinh doanh “độc quyền”: vẽ họa đồ; thiết kế sản phẩm, thiết bị phức tạp trên không gian 2 hay 3 chiều; mô phỏng sự vận hành của thiết bị trong quá trình sử dụng… Khách hàng của những sản phẩm này  là các công ty chế tạo xe hơi có tên tuổi như Mercedes, Audi, BMW, GM, Volwagen…

Read more…

Báo Nhân Dân năm mới ngày 03-01-2010

January 3rd, 2010 No comments

–>

Vị giáo sư gốc Việt tâm huyết với

sự nghiệp giáo dục của đất nước

http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=37&sub=53&article=165001

ndh_viet-lach

ND- Hiện nay có gần bốn triệu người Việt Nam đang sinh sống, lao động và học tập tại hơn 100 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có khoảng 300 nghìn Việt kiều có trình độ đại học trở lên.

Rất nhiều trí thức Việt kiều đang ngày đêm mang công sức đóng góp cho sự nghiệp giáo dục nước nhà. Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Ðăng Hưng, Việt kiều tại Bỉ là một người như thế. Ông được nhiều người gọi là “người mang tiến sĩ về cho Việt Nam”.

Read more…

Trả lời báo Tuổi Trẻ Phỏng vấn, 23/5/2009

May 26th, 2009 No comments

 

Lưu ý :

Bài này đã được đăng trên báo Tuổi Trẻ trang ngày 26/5/2009 mục sổ tay với nhan đề “Cầu hiền” :

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=318090&ChannelID=13

Dưới đây là nguyên văn

Read more…

Bài của nhà báo Quỳnh Lệ về đêm nhạc Nguyễn Đăng Hưng “SẼ CUỐN THEO GIÓ BAY”

February 23rd, 2009 No comments

GS Nguyễn Đăng Hưng-nhà khoa học lãng mạn

Cứ đinh ninh GS Hưng là một nhà khoa học, chỉ biết dành thời gian và tâm trí cho việc nghiên cứu và giảng dạy, cho nên tôi thật bất ngờ khi thấy ông ôm đàn ngồi hát ở quán café Phong Nguyệt (63 B Trần Quốc Thảo, Q3, TPHCM) trong đêm 20/2 vừa qua…

http://www.giaidieuxanh.com.vn/nhacviet/2009/02/831379/
hay :
http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/

Read more…

Bài báo trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, Xuân Kỷ Sửu, số 19-25, 22-29/1/2009 của nhà báo Xuân Thái

January 22nd, 2009 1 comment

Người “tiếp thị” chất xám cho Tổ quốc

GS TSKH. Nguyễn Đăng Hưng, một cuộc đời một thao thức

Ông là một nhà giáo, nhà khoa học nổi tiếng trong và ngoài nước. Ông là một bộ óc lớn và một trái tim rộng mở, luôn thao thức và biết chia sẻ những tri thức mình tích lũy được cho thế hệ trẻ trong nước bằng một tấm lòng cầu thị cho dân tộc. Với ông, nếu không làm được việc đó là “có tội với tiền nhân!”. Rồi ông trở thành đối tác thân thuộc và đầy tín nhiệm của những hãng xe hơi lừng danh thế giới: Mercedes, BMW, Audi, Porsche,…và EADS (Cơ quan Hàng không và Không gian châu Âu) khi quyết định chuyển sang hoạt động nghiên cứu và kinh doanh thuộc lĩnh vực công nghệ cao.

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng sinh năm 1941, tại làng Bồ Mưng, phủ Thanh Quít, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam) trong một gia đình nông dân tương đối khá giả, cha đi học Quốc học Huế, sau này đi kháng chiến ở Liên khu V, mẹ tử thương vì một đợt càn quét của lính đánh thuê trong quân đội thực dân Pháp lúc ông vừa tròn 11 tuổi. Ông cụ thân sinh của cậu Hưng tưởng chừng đã chùn bước vì xúc động mạnh sau cái chết đột ngột của mẹ cậu.
Read more…

Giao lưu trực tuyến với bạn đọc báo Tiền Phong, tháng 8 2005

June 16th, 2008 No comments

Thứ Tư, 17/08/2005, 18:48

Giao lưu trực tuyến tại toàn soạn báo Tiền Phong:

Nguyện vọng khi trở về Đất Mẹ

http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?articleID=19158&Channel1
Lời giới thiệu của báo Tiền Phong

(TPO) Lúc 9 giờ, 5 vị khách mời đã có mặt tại trụ sở báo Tiền phong và bắt đầu buổi giao lưu trực tuyến với chủ đề “Nguyện vọng khi trở về Đất Mẹ”.

Read more…