Archive for the Category » Chính luận «

April 22nd, 2010 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

Đại học Yale, Hoa Kỳ

Đại học Yale, Hoa Kỳ

Vụ “người phá đền”

tốn hơi nhiều giấy mực phải có hồi kết thôi!



Vì đi du lịch bên Nga, tôi bị kẹt không về Bỉ được, hôm nay mới có máy bay, về đến nhà viết vài dòng này, có dấu tiếng Việt cho bạn bè dễ đọc.

Tôi không muốn nêu tên người viết bài báo xoàng xỉnh trên đây vì như vậy có khi không hay, tiếp tay cho một người có hành vi, tác phong không tốt !

Có thể vì tôi là chuyên gia tổ chức  đào tạo cao học, hơi bị căn bệnh nghề nghiệp, nên tôi thấy cần xem cô ấy là một học trò. Tôi xin ân cần hầu chuyện với cô ta như thế này như tôi đã nhiều lần khuyên bảo học trò linh tinh của tôi tại VN, cũng có nhiều em có tác phong tương tự:

“Xem xong bài viết của cô,

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2010/04/100417_do_ngoc_bich.shtml,

tôi nghĩ cô chưa xứng đáng có bằng tú tài Việt Nam, cô chưa thông hiểu lịch sử VN, đã ngồi nhầm lớp đâu đó, hay cô đã dùng phao hay cô đã “may mắn” gặp một tập thể thầy giáo “ai cũng xuất sắc, ai cũng cho đổ” ? Vậy xin cô hãy đi học lại, tự học cũng được thôi, nhưng phải thành khẩn học thực và qua trắc nghiệm lại.
Về luơng tâm, tư duy người đi học, người nghiên cứu, người công bố khoa học, thì quả là có nhiều thiếu sót. Cô không nên chạy theo danh hão, công bố bừa bãi gây phản cảm, tự hại mình, nhũng nhiễu xã hội. Bỡi vậy, nếu chưa kịp phản tĩnh sửa đổi thì tôi sẽ không thể ủng hộ ký giấy giúp cô ghi tên theo lớp cao học. Cô xem hiện nay cô đang làm mất uy tín ĐH Yale, ĐH Hawaï, đài BBC… Dạy kèm tiếng Việt cho vài sinh viên mà tự nhận là giảng viên thì quả là gian dối qua lộ liễu đó cô ạ. Nếu không may, thầy cô ở Hawaï dễ tính cho cô bảo vệ thành công Ph. D. về Hoa kỳ học rồi cô cũng sẽ làm mất uy tín siêu cường Hoa Kỳ sau này thôi. Cô không ngần ngại phá hoại đền thiêng của dân tộc Việt có ai chắc cô sẽ không tiếp tục như vậy với sự tác hại trầm trọng hơn cho tổ quốc của chồng cô.

Mong cô ghi nhận lời khuyên chân tình này “

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng,

March 31st, 2010 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

Bút tích

Bút tích

Lời dẫn nhập:

Bài này tôi viết đã 5 năm rồi, tháng 3 năm 2005.
Đọc lại tôi thấy vẫn còn là thời sự.
Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn vẫn còn nằm trong ngăn tủ khóa kín tại Việt Nam.
Nhận định của tôi ở phần cuối:
“Sinh thời tôi chưa bao giờ nghe nói TCS là nghệ sỹ nhân dân. Nhưng chính quần chúng nhân không phân biệt thành phần, lớp người, lứa tuổi, không phân biệt Bắc Trung Nam, không phân biệt trong nước hay hải ngoại, đã chọn thiên tài Trịnh Công Sơn là nghệ sỹ số một của mình…”;
vẫn giử nguyên giá trị!
Xin đăng tải lại đây gọi là tường niệm chín năm ngày người nhạc sỹ tài danh của chúng ta vào cõi vĩnh hằng!
Phần sau cùng của bài này, tôi cũng xin mạo muội thử hát ba ca khúc nỗi tiếng của ông.

Sài gòn ngày 31/3/2010

Một thoáng Trịnh Công Sơn

Nguyễn-Đăng Hưng

Hơn một năm sau ngày nhạc sỹ Trịnh Công Sơn mất, tôi lục trong chồng sách nhạc của gia đình để tìm lại một bài hát về xuân của nhạc sỹ Văn cao, bài “Mùa Xuân đầu tiên”. Tôi chuẩn bị tổ chức tốp ca cho ngày tết Việt Kiều tại Bruxelles.

Và tôi bất chợt đọc lại bút tích của người nhạc sỹ tài danh, ngay trang thứ hai của Tuyển tập nhạc Văn Cao “Thiên Thai” do nhà xuất bản Trẻ tại Tp Hồ Chí Minh xuất bản năm 1988 :

Vâng, tôi cũng quen biết Trịnh Công Sơn, dù chỉ một thoáng ngày Tết năm xưa…
Chúng tôi về Việt Nam ăn Tết năm 1989 sau một thời gian khá dài mười năm không lui tới. Chuyến đi cuối cùng trước đó đã xa cách đến gần một thập kỷ : hè năm 1979. Hồi ấy, việc đầu tiên chúng tôi làm tại Việt Nam là đi mua tranh về trang trí cho ngôi nhà mới mua tại Bỉ.
Tôi không nhớ vì sao lại run rủi lần mò đến xem phòng triển lãm tranh tại gia của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn với sự tham gia của các hoạ sỹ Đinh Cường và Tôn Thất Văn. Và chúng tôi suýt mua được một bức của Tôn Thất Văn, suýt thôi vì chưa ngã giá nên cuối cùng không mua được… Biết tôi là Việt kiều có hoạt động phản chiến tại Bỉ trong thập kỷ 65-75, có chút “máu văn nghệ”, Trịnh Công Sơn cho hay là đang chuẩn bị đi Pháp và nếu tôi còn ở lại Việt Nam thì ra Tết sẽ đến nhà thăm tôi…
Rồi đùng một cái mồng 6 Tết chúng tôi tiếp tại nhà người anh vợ tôi, cư xá Lữ gia, cả một đoàn văn nghệ sỹ nổi tiếng: nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhạc sỹ Trần Long Ần, hoạ sỹ Tôn Thất Văn, Michiko và Trịnh Công Sơn!

Sau một hồi chén tạc chén thù, hàn huyên sôi nổi, tôi rất đỗi vui là chính Trịnh Công Sơn, một cách đôn hậu hồn nhiên đề nghị đem ghi ta ra hát. Ở nhà không có ghi ta, TCS cho gọi người nhà mình đem đến… Và chúng tôi có được cái diễm phúc bất ngờ là ngày Tết được nghe tại chính nơi mình tạm trú nguời nhạc sỹ mình hằng ngưỡng mộ hát một loạt những bài anh mới sáng tác. Rồi Michiko cũng hát, Trần Long Ẩn cũng hát.
Thật bất ngờ, một nhạc sỹ tiếng tăm lẫy lừng tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, một danh tài đã có môt sự nghiệp âm nhạc đồ sộ, đã thật giản dị và hồn nhiên, cùng bạn bè ngồi hát cả buổi chỉ cho vợ chồng chúng tôi, nhà văn Nguyễn Quang Sáng và một người lái xe nghe!
Vâng, chúng tôi may mắn có đươc một thoáng Trịnh Công Sơn, gần như chỉ dành cho chúng tôi.
Tôi còn giữ lại tấm hình lưu niệm quý hiếm kèm theo đây.

Nhạc sỹ Trình Công Sơn đang đờn hát, bên cạnh là Michiko

Nhạc sỹ Trình Công Sơn đang đờn hát, bên cạnh là Michiko

Đó không phải là lần đầu tiên tôi gặp Trịnh Công Sơn. Tôi đã sớm về Việt Nam những năm trước đổi mới : 76, 77 và 79… Phải nói tình hình xã hội và chính trị Việt Nam hè năm 79 rất ư là căn thẳng… Báo chí quốc tế không ngớt đề cập đến ngưới Việt vượt biên, thuyền nhân… Ban Việt kiều thành phố tổ chức một buổi họp mặt, nếu tôi nhớ không lầm là tại Hội Trí thức yêu nước 43 Nguyễn Thông TP HCM.

Sau tham luận của các lãnh đạo trung ương và thành phố, sau khoảnh khắc ngắn ngủi đối thoại trao đổi qua lại, cái đinh buổi họp mặt là phần văn nghệ. Nhạc sỹ Phạm Trọng Cầu vừa là nhạc trưởng vừa là MC… Hôm ấy tôi nhớ rõ nhạc sỹ Trịnh Công Sơn tự đệm ghi ta và hát bài “Em còn nhớ hay em đã quên” và một bài nữa, hình như bài “Chiều trên quê hương tôi”.
Tôi nhớ rất rõ vì tôi vừa trải qua hơn một tháng 7&8 hãi hùng lang thang khắp Đông Nam Á (Thái Lan, Singapour, Mã Lai, Nam Dương) đi tìm người yêu vượt biên, để cuối cùng gặp lại nhau, như một phép lạ, ngay trên đảo Poulo Bidong, Mã Lai. Gặp lại nhau một ngày là chia tay, tôi đáp chuyến bay Thái : Kuala-Lampur - Bangkok - TP Hồ Chí Minh còn cô ấy đáp chuyến máy bay SABENA của Bỉ nhắm hướng Kuala-Lampur - Bruxelles! Đây là một cuộc hành trình khá ly kỳ mà tôi sẽ nhắc đến trong một dịp khác.

Hai bài hát trên của Trịnh Công Sơn vào thời điểm ấy đã gây cho tôi một xúc động mạnh. Trịnh Công Sơn đúng là một nghệ sỹ lớn… Sáng tác của ông một lần nữa đã gắn liền với những thăng trầm của dân tộc, trái tim nhạy cảm tuyệt vời của ông đã diển tả một cách vô cùng tinh tế nỗi đau của mình mà cũng là của thế nhân, của đồng loại trên một tinh thần nhân bản trong sáng, hướng thiện nếu không nói là tích cực… Thật tài tình và sâu sắc khi ông chỉ nói giản dị “Em ra đi nơi này vẫn thế..” mà tôi đã hiểu ngay đây là thông điệp về sự vĩnh cữu của quốc gia dân tộc… Mọi việc sẽ đi qua, nhưng chỉ đất nước Việt Nam sẽ mãi mãi trường tồn…

Năm 1960 ngày tôi xuất dương sang Bỉ du học Trịnh Công Sơn chưa nổi tiếng. Các bài hát “Uớt Mi” hay “Diễm xưa” chưa được phổ biến rộng rãi. Tại Sài gòn trong thời này nhạc Phạm Duy, Lam Phương, Dương Thiệu Tước, Phạm đình Chương, Văn Phụng… đang thịnh hành trên các phương tiện truyền thông đại chúng…
Sau Tết Mậu Thân (1968), không khí Việt kiều tại Bỉ, đặc biệt thành phố Liège thay đổi hẳn. Trước số sinh viên du học như chúng tôi đếm trên đầu ngón tay, nay tăng vọt đến gần năm trăm! Liège một thành phố không lớn tại Bỉ, đã bỗng chốc trở thành thành phố sinh viên Việt Nam thu nhỏ với tất cả những mâu thuẫn, lo toan, dây dứt, đau thương… của đô thị miền Nam thời bấy giờ… Phần lớn sinh viên Việt Nam là con nhà khá giả tại Sài gòn đi du học tự túc…
Các sinh viên đến từ Việt Nam không ai không không mang theo những băng cassettes, kỹ thuật ghi âm đang được thịnh hành trong những năm 70…

Và chính qua những băng ghi âm này, qua các bạn sinh viên trẻ, mà tôi khám phá ra hiện tượng Trịnh Công Sơn - Khánh Ly.
“Ca khúc da vàng” đã đến với tôi như một tiếng thét của lương tâm con người trước cuộc chiến phi nhân, trước chết chóc, trước đau thương khôn cùng của dân Việt, trước sức tàn phá dữ dội khủng khiếp của tàu bè bom đạn của một siêu cường.

Qua những âm điệu nhẹ nhàng và sâu lắng, tác giả đã gởi đến cho người nghe một thông điệp kinh hoàng của thời sự :

“Xác người nằm trôi sông,

phơi trên ruộng đồng

trên nóc nhà thành phố

trên những đường quanh co

Xác người nằm bơ vơ

dưới mái hiên chùa

trong giáo đường thành phố

trên thềm nhà hoang vu…

Xác nào là em tôi

Dưới hồ hầm này

Trên những vùng lúa cháy

Bên những vồng ngô khoai… »

(Bài ca dành cho những xác người)
Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng

Hành vạn tiếng bom trút xuống ruộng đồng

Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn
Hàng vạn chuyến xe, claymore lựu đạn

Hàng vạn chuyến xe mang vô thị thành

Từng vùng thịt xương có mẹ có em…

(Đại bác ru đêm)


“Kinh Việt Nam” đã đến với tôi như những lời kêu gọi hồn thiêng sông núi dân tộc Việt, như những ước vọng khẩn thiết về một ngày thanh bình thống nhất, về một nước Việt Nam bình thường như những nước khác, chan hoà tình tự dân tộc giống nòi…
Tôi ý thức được ngay là một cái gì mới đã xảy ra tại Việt Nam.
Một phong trào « Hát cho đồng bào tôi nghe » đã được dấy lên tại Liège và lạ thay cùng với những bài ca khác của phong trào sinh viên học sinh đô thị miền Nam, nhạc Trịnh Công Sơn đã thành một phương tiện đấu tranh của chúng tôi, những người mà lập trường chính trị đã dứt khoát đã biết và hát nhiều bài hát đến từ Miền Bắc hay vùng Giải phóng, hừng hực khí thế kháng chiến yêu nước, nhưng còn thiếu một cầu nối để đến với những thành phần còn xa chiến tuyến…
Nhìn lại cục diện sau gần 40 năm, tôi vẫn nghĩ nhạc phản chiến Trịng Công Sơn là một trong những nhân tố văn hoá rất tích cực cho công cuộc vãn hồi hoà bình và thống nhất đất nước. Và tôi rất tâm đắc với ý kiến cho rằng chính những ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn là mới là cơ sở nói lên tầm vóc của tài danh Trịnh Công Sơn… Và cũng chính qua những ca khúc này Trịnh Công Sơn mới được những nhà báo quốc tế biết đến và gọi anh là « một Dylan của Việt Nam ». .
Âm nhạc Việt Nam qua Trịnh Công Sơn, một thời đã ngang tầm thế giới !

Và tôi tự hỏi tại sao trong thời mở cửa giao lưu hội nhập hôm nay những bài hát đậm đà tinh thân dân tộc như thế, lại vẫn « chưa được phép » hát lại ?
Ở Việt Nam tôi vẫn thường nghe câu hỏi là tại sao ta chưa có những tác phẩm
văn học nghệ thuật ngang tầm thế giới, xứng đáng với các cuộc kháng chiến đấu tranh giành độc lập, tự chủ thoát khỏi ách nô lệ của ngoại bang, những chiến công hiển hách đã được biết bao dân tộc yêu chuộng hoà bình và công lý kính phục và ngưỡng mộ. Nhưng có chắc gì, ta tỉnh táo đế chấp nhận và nhất tôn vinh đúng mức những tác phẫm văn học nghệ thuật chất chứa những giá trị nhân bản cao đẹp và phổ quát của con người, những tác phẩm độc lập không bị chi phối bởi tình thế chính trị nhất thời?

Sinh thời TCS ý thức rất rõ về tính phổ quát của nhạc mình:

“Tôi ước mơ một ngày nào đó trên hành tinh này tiếng hát sẽ được trả về với vẻ đẹp thuần khiết của nó. Đó là tiếng hát bay qua các lục địa, các đại dương, mang trong lòng nó tình yêu và tình nhân ái…” (Phát thảo chân dung tôi, tháng 4-1987).

Nhạc phản chiến của TCS là hiện thực của ước mơ này vậy.
Dĩ nhiên nhạc phản chiến chỉ là một trong ba chiều không gian âm nhạc đồ sộ của thiên tài TCS : tình yêu, thân phận và chiến tranh… và đã có nhiều bài viết về hai không gian còn lại : tình yêu và thân phận…

Tôi chỉ thêm một chút ý kiến riêng thôi… TCS là một trong những nhạc sỹ viết nhạc tình hay nhất thế kỷ, tôi muốn nhấn mạnh ở chữ « một trong những »… Bởi vì đối với tình yêu, cái nhất là tùy ở mỗi cá nhân, ở mỗi hoàn cảnh… Nhạc tình Trịnh Công Sơn có cái gì nhẹ nhàng siêu thoát. Những cuộc tình của TCS là những dây dứt, những tiếc nuối, những cuộc tình ra ngoài tay với, không bao giờ được tận hưởng và hạnh phúc là một cái gì mong manh bàng bạc, xa vời. Những người đẹp qua âm nhạc Trịnh diễm lệ trang trọng đến độ trừu tượng, siêu thực…Nhạc tình của các tác giả nổi tiếng khác chẳng hạn như Đoàn Chuẩn, Vũ thành An, Ngô Thụy Miên, Đức Huy… theo tôi đời thường, lãng mạn hơn…

Ai cũng đồng ý chất Huế là thường trực trong nhạc TCS… Nhưng tôi lại thấy chất “blues” cũng tìm tàng trong một số bài: Hạ trắng, Tình nhớ, Biển nhớ… Phải chăng TCS có phần nào bị ảnh hưỏng nhạc Mỹ da đen…
Ngày TCS mất tôi đang ở TP HCM…Và có lẽ cũng như rất nhiều người Việt Nam ở mọi ngõ đường đất nước hay ở chân trời góc biển trên thế giới, tôi có cảm giác là một người thân thương vừa từ giã cõi đời… Tôi định đến nhà ông để thắp một nén hương tiễn đưa vì lòng ngưỡng mộ. Nhưng hôm ấy từ đường Điện Biên Phủ, đi xe gắn máy, không có cách chi đến được ngõ tư Phạm Ngọc Thạch… Một rừng người mênh mông như đại ngàn vô tận đã cùng chia sẻ ý này và cuồn cuộn chảy về con đường này… Tôi bỏ xe bên vệ đường mon men tìm đến số 47 C thì đã quá muộn. Chiếc xe chở quan tài đã chuyển bánh, tiếng kèn “saxophone” tiễn đưa của Trần Mạnh Tuấn đã vang lên và tôi đành hoà mình vào đoàn người chảy xiết theo hướng Gò Dưa…
Sinh thời tôi chưa bao giờ nghe nói TCS là nghệ sỹ nhân dân. Nhưng chính quần chúng nhân không phân biệt thành phần, lớp người, lứa tuổi, không phân biệt Bắc Trung Nam, không phân biệt trong nước hay hải ngoại, đã chọn thiên tài Trịnh Công Sơn là nghệ sỹ số một của mình… Riêng tại Bỉ sau ngày nhạc sỹ mất đã có hai đêm liên tiếp hát nhạc Trịnh Công Sơn, ai cũng hát và nhạc cụ vỏn vẹn chỉ cần chiếc ghi ta!
Theo tôi lời khen tặng ưu ái nhất mà tôi được đọc về TCS chính là của Khánh Ly:

“Bởi vì ở ông TCS, điều vĩ đại nhất, vĩ đại hơn cả những tác phẩm của ông là nhân cách, nhân phẩm của ông. Ông là người duy nhất đã sống trong đời này có một tấm lòng không có thù hận”. (Khánh Ly, “Những lời tử tế ông Sơn dạy tôi”, Trường Kỳ phỏng vấn, Hoàng Trúc Ly sưu tầm, www.suutap.com/khanh ly).

Vâng, tôi cũng biết Trịnh Công Sơn, dù chỉ một thoáng ngày Tết năm xưa. Và hôm nay tôi xin ghi lại những dòng này, gọi là xác định lòng ngưỡng mộ khôn cùng của tôi…

Nguyễn-Đăng Hưng, cuối tháng 3 2005

Nguyễn Đăng Hưng hát Trịnh Công Sơn

Gọi tên bốn mùa :

Get the Flash Player to see the wordTube Media Player.

Ru Ta Ngậm ngùi :

Get the Flash Player to see the wordTube Media Player.

Mưa hồng :

Get the Flash Player to see the wordTube Media Player.

March 21st, 2010 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

Nhà thơ Hữu Loan

Nhà thơ Hữu Loan

Nhà thơ Hữu Loan một giá trị phản biện

Hữu Loan vĩnh viễn ra đi để lại biết bao hoài niệm về một giai đoạn dài của văn hóa và lịch sử dân tộc. Một giai đoạn điêu linh, tang tóc, chia ly, với ngút ngàn thống khổ mất mát, băng hoại. Chín mươi lăm năm dài một đời người, một khí phách, một con người!

Đối với tôi, thơ của Hữu Loan là một phản biện văn học có tính nhân văn cao cả, cuộc đời của Hữu Loan là một phản biện lịch sử có sức thuyết phục vào bậc nhất.

more…

February 23rd, 2010 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

Biểu ngữ về lễ kỳ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa tại công viên Tao Đàn, TP HCM

Biểu ngữ về lễ kỳ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa tại công viên Tao Đàn, TP HCM

Chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa trong bối cảnh

ngàn năm Thăng Long, thử đặt lại vài giả thuyết


TSKH Nguyễn Đăng Hưng

Giáo dư danh dự thực thụ trường Đại học Liège, Bỉ


Một tiết mục đáng chú ý tại TP HCM trong dịp Tết Canh dần vừa qua là Lễ kỷ niệm 221 năm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa do Sở Văn hóa - Thể thao và Du Lịch TPHCM tổ chức tại Công viên Tao Đàn ngày mồng năm 18/2/2010. Buổi lễ đã được tổ chức long trọng với sự tham dự các ông Lê Thanh Hải, ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, Lê Hoàng Quân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố, đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn viên thanh niên cùng đông đảo người dân thành phố và du khách nước ngoài. Ông Dương Quan Hà, Chủ tịch Ủy ban MTTQ TPHCM đã có bài phát biểu đáng được lưu ý. Chương trình sân khấu hóa đã diễn ra sôi nổi với phần biểu diễn nghệ thuật dân tộc đặc sắc của các nghệ sĩ Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang.

Lễ hội tại Gò Đống Đa, Hà Nội

Lễ hội tại Gò Đống Đa, Hà Nội

Đọc báo tôi cũng thấy một buổi lễ tương tự cũng được tổ chức tại Gò Đống Đa, Hà Nội. Đến tham dự thắp hương trước tượng đài Quang Trung có Phó Bí thư Thành ủy Nguyễn Công Soái, Phó Chủ tịch UBND TP Phí Thái Bình, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, thứ trường Bộ Quốc Phòng, ông Vũ Trọng Kim, Phó Chủ Tịch kim Tổng thư ký Mặt Trận Tổ Quốc. Thành phần và cấp bực tham gia của Thành ủy và Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội có phần thấp hơn, kém long trọng hơn tại TP HCM.

Việc thành ủy TP HCM coi trọng ngày kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi Đống Đa hơn thành ủy Hà Nội là điều làm tôi chú ý! Ngay tại thủ đô, người  (lãnh đạo) Hà Nội cảm nhận lịch sử không bằng người Sài Gòn chăng?

Lẽ ra năm nay, trong dịp lễ hội ngàn năm Thăng Long, lễ hội Gò Đống Đa phải có gì nỗi trội hơn thường lệ mới phải chứ?

Thật vậy, nếu không có anh hùng dân tộc Quan Trung - Nguyễn Huệ và chiến thắng Ngọc Hồi Đống Đa thì làm gì Thăng Long còn là của Việt Nam để năm nay chúng ta ăn mừng thủ đô ngàn năm?

Đừng quên cuộc xăm lấn Đại Việt năm 1788 là cuộc xâm lấn bành trướng cuối cùng của phong kiến Trung Hoa và nếu Nguyện Huệ đã chọn hướng giải quyết khác đi thì lịch sử và địa lý của dân tộc Việt Nam ngày nay sẽ ra sao?

Chính sử Việt Nam ghi lại năm ấy mượn cớ vua Lê Chiêu Thống cầu viện, nhà Thanh đã giao cho Tôn Sỹ Nghị một đạo quân đông đảo gần 30 vạn, ào ạt kéo vào nước ta chiếm đóng Thăng Long. Thế yếu, các tướng Tây Sơn Ngô Văn Sở, Ngô Thời Nhiệm rút về Tam Điệp cố thủ và bảo toàn lực lượng. Trong Nam Nguyễn Ánh đã gia tăng được lực lượng sẳn sàng uy hiếp Qui Nhơn trong lúc Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc lâm trọng bệnh. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ trên thực tế chỉ kiểm soát được một vùng lảnh thổ khá hẹp thừ Thuận hóa đến Nghệ An, trong tay huy động chưa có được 1/10 quân số nhà Thanh đang xâm lược Bắc Hà!

Thử tường tượng vì thế yếu Nguyễn Huệ chọn một hướng khác, trước vận mệnh hiễm nghèo của đất nước, làm ngơ trước đoàn “quân lạ” đang xâm nhập miền Bắc, quá đông, quá hùng hỗ. Nguyễn Huệ chỉ nghĩ đến quyền lợi của nhà cầm quyền, chỉ lo đương đầu với Nguyễn Ánh ở Gia Định và Nguyễn Nhạc trong Nam, sau đó chọn giải pháp thúc thủ, giao lại đất Thanh Hóa Nghệ An cho nhà Thanh và vua Lê Chiêu Thống, tóm lại chỉ lo mưu cầu chiếc ghế vương quyền tại phương Nam.

Như vậy lịch sử và địa lý Viêt Nam sau này sẽ ra sao?

Nước ta có lẽ chỉ còn lại từ sông Gianh cho đến Hà Tiên khi người Âu sau này bắt đầu xâm nhập vào Đông Nam Á! Giả thiết này có tính khả thi cao khi ta biết, ngoài Bắc vua Lê Chiêu Thống đã phản bội tổ quốc dùng niên hiệu nhà Thanh mặc nhiên công nhận nền đô hộ của người Tàu. Trong Nam lịch sử còn nghi lại từ Gia Định cũng năm 1788, Nguyễn Ánh đã gởi đoàn thuyền chở gạo ra Bắc chi viện cho quân nhà Thanh mà không thành vì gặp bão. Ông vua sáng lập ra triều đình nhà Nguyễn này có nhiều khả năng cũng sẽ để yên cho nhà Thanh ở đất Bắc sau khi lấy lại giang sơn từ tay nhà Tây Sơn vì chẳng may cho dân tộc Việt, người anh hùng áo vải sẽ phải mất sớm.

Nếu lịch sử đã theo hướng đó thì làm gì ta còn Thăng Long mà tổ chức lễ hội ngàn năm như ngày nay?

May thay, Nguyễn Huệ, được sự trợ giúp tư vấn của tầng lớp sỹ phu chân chính lúc bấy giờ, những Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp, Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Nễ, Nguyễn Huy Lượng, Bùi Dương Lịch… đã chọn lựa hướng khác, hướng chính danh yêu nước thương dân, hướng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc: Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế, minh định chính danh, cũng cố chính nghĩa dân tộc, theo lẽ trời, thuận lòng người, thống nhất ý chí toàn dân toàn quân, tự mình thống lĩnh thủy bộ đại binh ra Bắc đánh giặc Thanh, chấp nhận lấy một chọi mười:

“Chúng nó sang phen này là mua cái chết đó thôi. Ta ra chuyến này thân coi việc quân đánh giữ, đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 nước ta, sau khi chúng thua một trận rồi, tất chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế thì đánh nhau mãi không thôi, dân ta hại nhiều, ta sao nỡ thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ Thời Nhiệm dùng lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mươi năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta không cần phải sợ chúng nữa.”

Chúng ta biết phần còn lại của lịch sử, số phận của người anh hùng bách chiến bách thắng Quan Trung – Nguyễn Huệ.

Sau mồng năm Tết Kỷ Dậu 1789, Ngô Ngọc Du, một nhà thơ đương thời, đã ghi lại không khí tưng bừng của ngày chiến thắng oanh liệt như sau:

“Mây tạnh mù tan trời lại sáng

Đầy thành già trẻ mặt như hoa,

Chen vai khoác cánh cùng nhau nói:

“Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta”


Tại buổi họp báo đầu năm nay (6/1/2010) ở Hà Nội, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường đã thách thức cả dân tộc Việt : “hợp tác (với Trung Quốc) sẽ phát triển, (Việt Nam) đấu tranh sẽ thất bại”, thiết nghĩ việc tổ chức cho thật long trọng Lễ Hội Chiến Thắng Ngọc Hồi – Đống Đa là điều nên làm. Thật vậy, hình như ngài Đại Sứ quên rằng cách đây 221 năm dân tộc Việt Nam nào có thất bại khi phải bắt buộc chấp nhận hướng đấu tranh dù phải một chống mười!

Sài Gòn mồng bảy Tết Canh Dần 2010

Tượng đài Vua Quang Trung tại Qui Nhơn

Tượng đài Vua Quang Trung tại Qui Nhơn

January 09th, 2010 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

tri-thuc

Việc đánh giá chất lượng

các công bố khoa học tại Việt Nam

GS Nguyễn Tiến Zũng (Toulouse, Pháp)

… Những vấn đề mà Hội toán học thế giới đưa ra về chuyện dùng “Impact factor”, có lẽ phần lớn những người làm toán ở nước ngoài đều có biết và đồng tình. Tuy nhiên, những thứ statistics như vậy vẫn có tác dụng “tín hiệu” (nói theo ngôn ngữ lý thuyết trò chơi: thông tin không đầy đủ, người ta xử lý dựa trên các tín hiệu) và vẫn sẽ được dùng. vấn đề là xây dựng “tín hiệu” sao cho chính xác nhất. Trong toán, thì trích dẫn 5-10 năm sẽ chính xác hơn nhiều là chỉ xem 2 năm. Và các ngành khác nhau, muốn so sánh với nhau, thì phải dựa trên các “baselines” nào đó. Có một điều chắc chắn là: có correlation (tương quan) rất lớn giữa số lần được trích dẫn, và ảnh hưởng khoa học của một người. Và cũng có “correlation” (tương quan) lớn giữa uy tín của 1 tạp chí, và chất lượng của bài đăng trong tạp chí đó. Và các quyết định trong thực tế chủ yếu dựa vào các tín hiệu có “correlation” lớn, chứ không có gì đảm bảo 100%.

Trân trọng, NTZ

more…

November 26th, 2009 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

Ảnh chụp Hội Nghị Việt Kiều lần thứ nhất, 20-24/11/2009

Ảnh chụp Hội Nghị Việt Kiều lần thứ nhất, 20-24/11/2009

Vài ý kiến về đổi mới chính sách và xây dựng không gian thoáng cho sinh hoạt có hiệu quả của chuyên gia, trí thức góp phần vào công cuộc xây dựng đất nuớc

Tham luận của GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng

Giáo sư danh dự thực thụ, Đại học Liège, Bỉ

Kính thưa ban chủ tọa, kính thưa các đồng nghiệp kiều bào,

Tôi xin bắt đầu bài tham luận này bằng vài hình ảnh về các Văn phòng Cao học chúng tôi đã thực hiện dành cho việc đào tạo cao học tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội từ năm 1990 cho đến ngày chấm dứt tháng 9 2008. Đặc biệt từ năm 1995 cho đến nay, trên 700 học viên đã theo học, 318 thạc sỹ châu Âu đã tốt nghiệp và 20 em đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ tại các trường Đại học tiên tiến của các nước phát triển, phần đông không phải dùng ngân sách quốc gia. Hiện nay gần 70 nghiên cứu sinh phát xuất tư hai trung văn phòng EMMC và MCMC còn đang chuẩn bị bảo vệ tại các trường Đại học trên. Để nói lên hiệu quả quốc tế của chiến dịch đào tạo này xin đơn cử một thí dụ nhỏ. Cũng tháng này năm ngoái, trong Hội Thảo về Cơ học tính toán quốc tế do Hội Cơ học Việt Nam và trường Cao đẳng Bách khoa Paris tổ chức tại trường Đai học sư phạm Thủ Đức (27-30/11/2008), 25% các công bố khoa học là phát xuất từ các cựu học viên của các văn phòng cao học của chúng tôi !

Nếu không có đổi mới thì tôi sẽ không thể nào đóng góp được gì cho Việt Nam từ năm 1990 cho đến nay, đặc biệt cho ngành giáo dục và đào tạo bậc cao học mang tính quốc tế. Không có đổi mới thì tôi sẽ khó có mặt tại Việt Nam hôm nay. Tôi nghĩ điều này cũng đúng cho nhiều trí thức, chuyên gia Việt kiều khác.

Ta biết công cuộc đổi mới đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng cùng cực của thời bao cấp và cho phép VN phát triển thành công, nhanh chóng vươn lên làm cho cả thế giới kinh ngạc, bạn bè thán phục.

Tuy nhiên trên hành trình phát triển mới, trong giai đoạn hội nhập hôm nay, thời buổi hậu WTO, tôi thiết tha mong đổi mới hơn nữa, nhanh hơn nữa, triệt để hơn nữa. Điều này cả nước mong đợi, Việt kiều chúng tôi mong đợi nhưng phải thành thật nói là mọi việc vẫn còn là kỳ vọng!

Sau hơn hai mươi năm đổi mới ai cũng thấy những tác hại của cơ chế bao cấp ngày xưa cho nên việc dân chủ hóa cơ chế, xã hội hóa chính sách, trao trả nhiều hơn nữa cho xã hội dân sự quyền lợi và nghĩa vụ chính đáng là thiết thực là cần thiết cho công cuộc phát triển. Chuyên gia trí thức Việt kiều quan tâm đến tình hình hiện nay đều không khỏi lo âu vì những lý do chủ quan và khách quan như ảnh hưởng suy thi tòan cấu, kinh tế Việt Nam đang bị khựng lại, tình trạng tham nhũng không giảm thiểu mà ngày càng lộng hành. Theo tôi, cơ chế quan liêu bao cấp vẫn còn là vật cản cho công cuộc hiện đại hóa và công nghệ hóa đất nước. Điều làm tôi rất lo là cơ chế này nay gắn liền với nhiều lợi ích cục bộ. Tôi e rằng khả năng mất căn bằng giữa sự phân tầng quyền lực và tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị. Nguy cơ này càng đáng quan ngại hơn nữa khi Việt Nam phải đối phó với áp lực bên ngoài và ra sức bảo vệ toàn vẹn lãnh hải đang bị đe dọa nghiêm trọng.

Đổi mới quản lý nghiên cứu khoa học

một giáo sư Đại học, một nhà khoa học đã sinh hoạt 48 năm tại một nước tiên tiến, đã bỏ ra 15 năm thường xuyên qua lại Châu Âu - Việt Nam để chuyễn giao công nghệ, tôi đặc biệt quan tâm và có nhiều trăn trở thiết thực về việc tổ chức nghiên cứu khoa học tại Việt Nam.

Tôi có cảm giác ta đã đi chệch hướng lâu hằng mấy thập kỷ. Khi cả một hệ thống nghiên cứu khoa học đã chồng chất quá nhiều bất cập, thì mọi thay đổi nhanh chóng là điều rất khó.

Báo chí đã nhiều lần đề cập đến tính không hiệu quả của nền khoa học Việt Nam. Những con số rất thuyết phục đã chỉ rõ Việt Nam ta đang đứng ở đâu so sánh với các nước lân bang : Số bằng sáng chế của VN là 0 trong năm 2006 trong lúc của Mã Lai là 147 Thái Lan là 158, Singapore là 995, Hàn Quốc là 102.663, (Báo cáo của ĐH Harvard về Giáo dục đại học tại Việt Nam).

Tình trạng này không thể kéo dài thêm nữa và yêu cầu canh tân hệ thống tổ chức nghiên cứu khoa học Việt Nam là yêu cầu bức thiết không thể không có được nếu ta muốn đạt mục đích hằng đề ra là hiện đại hóa và công nghệ hóa đất nước!

Hình như Bộ Khoa học và Công nghệ đã ý thức việc này và đã đề đạt một bộ luật về Công Nghệ.

Nhưng theo tôi đây chỉ là những biện pháp tình thế chưa phải là bước đi có tính đột càn thiết để nhanh chóng phát triển bắt kịp lân bang.

Cần có một tư duy mới mẻ và dũng cảm mới có thể trả lại khoa học lại cho các nhà khoa học chân chính, mới tạo điều kiện cho việc xuất hiện một không gian, một môi trường thông thoáng dân chủ cởi mở cần thiết cho các nhà khoa học thực thụ. Bởi vì khoa học là tôn trọng sự thật, là phát hiện cái mới, là sáng tạo, là phê phán cái cũ, là phát huy cá tính năng khiếu, là thoát ra khỏi những khuôn mẩu xơ cứng, những đường mòn giáo điều, là vươn ra thế giới bao la, là tôn trọng những hệ giá trị quốc tế về khoa học…Nói tóm lại, ta phải triệt để đổi mới tư duy mới có thể phục hồi tinh thần khoa học chân chính. Cụ thể hơn tại Việt nam ngày nay, muốn đột phá, phải dũng cảm cắt bỏ những khối u nhức nhối trong các cơ sở khoa học, phải rà soát lại nhân sự đang làm khoa học, phải chọn đúng người đầu đàn cho từng lĩnh vực…

Kiện toàn đổi mới nền giáo dục

Tôi thiết tha mong mỏi Việt Nam nhanh chóng cải tổ triệt để nền giáo dục. Đây là vấn đề cốt lõi mà toàn bộ xã hội đã và đang bức xúc! Đã có biết bao nhiêu ý kiến của các bậc thức giả, các nhà giáo tâm huyết trong và ngoài nước cho việc này. Bản thân tôi cũng đã nhiều lần phát biểu, đã viết nhiền bài báo được đăng tải trên các cơ quan ngôn luận đại chúng… Nhưng việc đổi thay sao quá chậm chạp! Ở đây cũng toát lên những sai lầm đã chồng chất quá nhiều năm có hiệu ứng dây chuyền, cỗ xe thì quá cồng kềnh, sức ỳ quá lớn, lợi ích cục bộ phe phái quá nhiều nên mọi chuyện có vẻ như đâu rồi cũng vào đấy. Tôi chưa thấy bánh xe đổi mới giáo dục thực sự lăn, dốc còn quá cao chăng?

Những sai lầm từ những thập kỷ đã qua dần dần ai cũng thấy :

1. Vai trò người thầy trong giáo dục chưa được coi trọng dúng mức. Chánh sách đào tạo người thầy chưa ổn, lương bổng không đủ ăn, điều kiện sinh hoạt còn nhiều bất cập…

2. Đề cao số lượng coi thường chất lượng.

3. Đề cao bằng cấp, coi thường học thực.

4. Xem học đường là một cơ sở tuyên tuyền thay vì một lò tập luyện hiểu biết và nhân cách.

Theo tôi, muốn có thay đổi căn bản phải chạy chửa cho được những căn bệnh trầm kha trên.

Không thể ùung liều thuốc cảm để chửa bệnh di căn ! Động tác này cũng cần sự đổi mới tư duy triệt để. Khi tư duy đã dứt khoát, hướng đi đã xác định, thì vấn đề còn lại chỉ là thời gian. Đọc dự thảo chiếc lược giáo dục, tôi vẫn chưa thấy toát ra yêu cầu bứt thiết này!

Tạo không gian phản biện cho chuyên gia trí thức

Ta biết có những khoản thời gian dài thí dụ như mười năm bao cấp sau ngày hòa bình thống nhất, người trí thức thiếu không gian để bày tỏ ý kiến. Những sai lầm trong các chính sách của Đảng và nhà nước không được phản biện kịp thời, góp ý đúng mức. Nay trước những thách thức về tài chính, kinh tế, xã hội… ai cũng dần dần thấy được là để điều hành một doanh nghiệp, một tổ chức và lớn hơn, một quốc gia, không thể nào chỉ dựa vào ý chí chính trị và khẩu hiệu mệnh lệnh. Không thể có những quyết định đúng đắn nếu quy trình ban hành những quyết định đó không hội đủ hàm lượng trí tuệ đóng góp từ các trí thức, chuyên gia…

Gần đây, Hội nghị Trung ương 7 (tháng 7/2008) đã vạch ra một cách khá chính xác những tiền đề để các nhà trí thức có được không gian sáng tạo, tự do tranh luận và công khai ý kiến, một không gian thoáng cho phép hình thành một đội ngũ trí thức tâm huyết có khả năng đóng góp cụ thể và xây dựng, một lực lượng cốt cán đang rất cần cho đất nước.

Tôi xin ghi lại đây vài điểm tích cực quan trọng của Nghị quyết TƯ số 27 về việc xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH

« Thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp của trí thức. Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến; có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước”.

Nghị quyết 27 NQ/TƯ còn nhấn mạnh đến việc:

“Tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng trí thức; đề cao trách nhiệm của trí thức, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động các hội của trí thức như phát huy tài năng và trọng dụng những trí thức có phẩm chất tốt, có năng lực quản lý là đảng viên và không phải là đảng viên trong các cơ quan nhà nước và tổ chức sự nghiệp, xây dựng chính sách thu hút, tập hợp trí thức Việt Nam ở trong và ngoài nước tích cực tham gia hiến kế, hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ mới… Trọng dụng, tôn vinh những trí thức có đóng góp thiết thực, hiệu quả vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế”.

Nghị còn lưu ý đến những tiêu cực hiện hành:

“Vẫn còn hiện tượng ngại tiếp xúc, đối thoại, không thực sự lắng nghe, thậm chí quy chụp, nhất là khi trí thức phản biện những chủ trương, chính sách, những đề án, dự án do các cơ quan lãnh đạo và quản lý đưa ra”.

Điều làm tôi kinh ngạc là sau chưa đầy một năm, quyết định 97 về việc ban hành các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ lại dẫm chân đúng vào chỗ này, không nhất quán với nghị quyết của Bộ Chính trị. Xin ghi lại đây điều 2 của quyết định 97:

« Chỉ hoạt động trong lĩnh vực thuộc Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này. Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ý kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ ».

Trong một lần trả lời phỏng vấn mạng VietnamNet Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ Nguyễn Quân đã nói đến nguyên nhân ra đời của Quyết định này.

“Trong bối cảnh xã hội phức tạp hiện nay, nhất là trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế đầy khó khăn thử thách, chúng ta cần có sự đồng thuận cao của xã hội đối với các quyết sách của Đảng và Nhà nước…thì việc công bố các kết quả nghiên cứu phản biện liên quan đến đường lối chủ trương, chính sách điều hành kinh tế xã hội phải hết sức thận trọng.”

Tại sao lạ vậy, chính việc phản biện khoa học, được công bố rộng rãi mới có sức thuyết phục cao, mới là cơ sở cho việc đồng thuận chứ ?

Theo tôi người trí thức chân chính rất dị ứng với môi trường quan liêu mệnh lệnh, xơ cứng người trí thức chân chính cần một môi trường thông thoáng, cởi mở, dân chủ tự do. Chỉ như vậy thì trí thức mới phát huy được đầy đủ vai trò của mình. Không có không gian tự do sáng tạo và tranh luận công khai ý kiến thì không thể xuất hiện đội ngủ trí thức chân chính và tâm huyết được.

Việt Nam không thể chấp nhận một số phận chư hầu phiên thuộc

Việt Nam là một nước có hàng ngàn năm văn hiến, có một quá khứ oai hùng, một giải đất hài hoà, tài nguyên trù phú, hai mùa thuận lợi mưa nắng đi về, một vùng trời vùng biển bao la, án ngự trên một địa bàn chiến luợc tại Châu Á, một Châu lục đang trên đường chế ngự kinh tế toàn cầu, là một nước không thể nhỏ được!

Việt Nam là một đất nuớc đã từng làm cho những đoàn quân hung hản nhất của lịch sử loài người, những tham vọng điên cuồng nhất của các triều đại phong kiến toàn trị, liên tục phải ném mùi thãm bại thì không thề nào nhỏ được!

Việt Nam là một đất nuớc với hai bàn tay trắng, với đội quân nông dân đi chân trần, đã đứng lên giành độc lập tự chủ, đánh bại những đế quốc thực dân trang bị khí giới hiện đại tối tân nhất trong lịch sử loài người.

Việt Nam là một đất nước đã từng là lương tâm của nhân loại, là hiện thân kiên cường và bất khuất của các dân tộc bị trị toàn cầu, đã là niềm tin của nhân loại tiến bộ, niềm kiêu hãnh của phong trào giải phóng thuộc địa của lịch sử hiện đại.

Đã có lúc, chỉ cách đây có hơn ba mươi năm, những nhà khoa học, nhà trí thức, những văn nghệ sỹ tài ba, những con người tinh hoa vào bậc nhất của nhân loại đã phải vẩy tay chào, ngã mũ cuối đầu để nói lên lòng ngường mộ và có người đã chân thành thốt lên: “Ước gì ngủ một đêm sáng dậy, sẽ là người Việt Nam” !

May thay, hai mươi năm đổi mới đã dần dần đẩy lùi sự tác hại cỗ máy bao cấp, dần dần tìm lại những giá trị thực, phục hồi sinh lực của xã hội, dần dần đưa đất nước tiến lên, tạo nên thế và lực mới.

Và thế giới đã phải kinh ngạc phát hiện sự trỗi dậy và vươn lên của hiện tượng Việt Nam hôm nay trong một bối cảnh hoàn toàn mới!

Việt Nam là bạn của tất cả các dân tộc trên thế giới, Việt Nam đang chuyển mình đề trở thành đối tác đáng tin cậy của các nuớc yên chuộng hoà bình và mưu cầu phát triển bền vững, Việt nam phấn đấu để sớm trở lại với vị trí xứng đáng của mình trong khu vực và trên trường quốc tế.

Nhất định Việt Nam không thể chấp nhận một số phận chư hầu phiên thuộc.

Kết luận : Tập hợp trí thức, chấn hưng dân khí vì quyền lợi dân tộc

Muốn thế hơn bao giờ hết Việt Nam cần tất cả những đóng góp của một bộ phận tinh hoa nhất, cần thiết nhất của xã hội, của dân tộc: người thực tài, người trung thực, người trí thức chân chính, bộ phận có khả năng phản biện, thường có tiếng nói lạ tai và khó nghe, có điều kiện cần thiết để làm đối trọng, đóng vai trò không thể thiếu được trong một xã hội đang phát phát triển và luôn luôn cần phải điều chỉnh kịp thời và đúng lúc.

Riêng đối với việc tạo điều kiện cho trí thức kiều bào đông đảo hướng về và cũ thể đóng góp phục vụ cho đất nước, tôi xin tóm lược kiến nghị với chính phủ hai ý như sau:

Chất xám là sản phẩm quý hiếm nên nó mong manh, dễ vỡ. Huy động chất xám nhất là chất xám cao cấp cần những biện pháp tế nhị. Điều này đòi hỏi cần phải tạo dựng một không khí thỏa mái, thân thiện, dân chủ tự do trong phát biểu, góp ý và đề xuất khoa học. Đây là điều tiên quyết để trí thức người Việt ở nước ngoài về hoạt động và đóng góp hết mình.

Cần đặc biệt chú trọng đến những chính sách đối với trí thức trong nước. Vì đây như là cái gương để trí thức kiều bào soi thấy và quyết định hành động của mình. Tôi nghĩ phải tạo điều kiện cho trí thức trong nước phát biểu, phản biện thẳng thắn vô tư độc lập. Đây chính là nhân cách của những nhà hoạt động khoa học độc lập, vì họ tôn trọng chân lý và sự thật, không bị chi phối bỡi những lợi ích cục bộ. Hãy để mọi người hướng chung tới quyền lợi dân tộc, thể hiện tinh thần yêu nước một cách hài hòa và đầy đủ. Nếu trí thức trong nước còn phải e dè lo ngại, thì trí thức người Việt định cư ở nước ngoài làm sao khỏi cảm thấy băng khoăn, do dự…

Dân tộc Việt Nam có hành trang bất biến là tình yêu quê hương đất nước nồng nàn. Đi khắp năm châu bốn bể, tôi chưa thấy có dân tộc nào gắn bó với đất nước mình như vậy. Đây là một giá trị vĩnh hằng, không bao giờ mai một dù lịch sử có thăng trầm. Hiện nay dường như chúng ta chưa khai thác được hay khai thác rất ít nguồn tài nguyên vô tận này đặc biệt là chất xám Việt kiều. Tôi mong mỏi rằng nhà nước sẽ sớm nắm bắt được những quy luật cần thiết đã nói ở trên để tranh thủ kịp thời và đúng mức, tạo nên những tác động to lớn hơn, phù hợp với quyền lợi chung của toàn dân tộc.

Hà Nội ngày 20/11/2009

November 11th, 2009 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

hoang-tuy1

Hình chụp chung với GS Hoàng Tụy và vài Việt kiều nhân dịp Hội Thảo Nha Trang tháng 8/2008

Kính thưa GS Hoàng Tụy,

Tôi vốn là lớp hậu sinh nhưng, nhưng cũng là người đi dạy đại học, cũng đam mê nghiên cứu khoa học, cũng có những trăn trở về tình trạng giaó dục cùng cực hiện nay của đất nuớc chúng ta. Tôi cũng theo dỏi bấy lâu nay những trăn trở tâm huyết, những phát biểu bộc trực, thẳng thắng, bến bỉ và kiên trì của GS, tôi không khỏi ngậm ngùi khi đọc những giòng vừa qua của giáo sư (tôi xin thêm dấu cho dễ đọc) :

“Tôi quá mệt mõi rồi, tuổi đã vượt xa cái hạn “xưa nay hiếm”, hơn nữa đã hơn năm naty sức khoẻ suy sụp. Ngoài việc chuyên môn, tôi đã dành phần kha lớn thời gian và tâm trí lo nghĩ vể giaó dục nước nhà mà xem ra chỉ làm cho nhiều ngưởi bị liên lụy. Vậy xin các bạn thông cảm và lượng thứ nếu thấy tôi im lặng “đáng sợ ” trong thời gian tới. Xin nhường chỗ cho các bạn tâm huyềt với nước nhà và chia xẻ với tôi niềm tin : trong nhiều vấn đề nội bộ hệ thống của đất nước, trước mắt hiện nay không có vấn đề nào hệ trọng hơn giaó dục (hết trích).

Thưa giáo sư đúng vậy, những khó khăn hiện nay của đất nước ta không có gì hệ trọng hơn giaó dục và cũng từ vì nền giaó dục chệch hướng quá lâu nay đã ăn vào xương vào tủy mà mọi góp ý, kiến nghị, dự án… đều rời vào chỗ trống không, đền như nước đỗ lá môn như người Quảng Nam chúng ta thường nói !
Gần đây, theo dỏi thảo luận tại Quốc Hội về vụ Bauxit Tây Nguyên, đọc những chỉ thị, quyết định, xem YOU TUBE, xem báo đài chính thống, tôi lại càng thấy hậu quả khôn lường của một nền giaó dục lạc hướng !

Tuy ít tuổi hơn giaó sư, nhưng hai năm gần đây tôi cũng đã thấy mệt mõi nhất là phải nói mãi những điều căn bản chẳng có gì mới mẻ vì người ta đã làm từ mấy thế kỷ nay rồi, nhưng rồi chẳng đâu vào đâu và từ hai năm nay tôi cũng tự mình yên lặng hay làm chuyện khác xả stress !

Tôi có cảm tưởng Việt Nam ta ngày nay đã lạc vào một mê cung tư tưởng không khác nào thời Tự Đức chịu ảnh hưởng của văn hoá Tống Nho, chịu sự chi phối của nước Trung Hoa bao la khỗng lồ bên cạnh, luôn luôn coi mình là trung tâm của vũ trụ !
Cái khác là thời ấy Trung Hoa đang lúc thoái trào, nhà Thanh đang làm Trung Hoa suy yếu, bạc nhược… Ngày nay việc đáng ngại là Trung Hoa đang vưong lên là đại cường quốc kinh tế và quân sự, với những tham vọng khôn cùng về chia xẻ thiên hạ để ngự trị bá quyền…

Nhưng lịch sử vẫn còn dài và một dân tộc đã sản sinh ra những Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, Võ Nguyên Giáp… sẽ không cho phép cam phận tôi đòi !

Lịch sữ sẽ ghi lại thế kỷ 21 cũng có xuất hiện những trí thức đẳng cấp Chu Văn An, Nguyễn Tường Tộ.. Và lịch sử trí thức Việt Nam sẽ không quên một người sinh ra cách quê tôi có một cánh đồng : người ấy có tên là Hoàng Tụy.

Kính chúc giaó sư nhanh phục hồi sức khoẻ và sống lâu trtăm tuổi.
Nguyễn Đang Hưng, GS danh dự thực thụ trường ĐH Liège, Bỉ.

October 01st, 2008 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

Bàn về việc thưởng tiền cho nghiên cứu sinh có bài báo quốc tế

TSKH Nguyễn Đăng Hưng,
Giáo sư Danh dự trường Đại Học Liège, Bỉ

Trong buổi thăm và làm việc với trường ĐH Khoa học Tự nhiên - ĐHQG Hà Nội ngày 23/9 Phó Thủ tướng (PTT) kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân cho biết cho biết, Bộ GD-ĐT sẽ thưởng 1.000 USD/bài, cho những bài viết được đăng tải trên các tạp chí khoa học quốc tế.Được biết trường ĐHQG Hà Nội sẽ là nơi đầu tiên thực hiện chủ trương này.
Trong bối cảnh tụt hậu từ mấy thập kỷ nay tại Việt Nam ta, song song với ý kiền cần phải có bài báo đăng báo quốc tế mới được bảo vệ luận văn tiến sỹ, đây là một ý kiến tương đối mới mẻ, một tín hiệu tích cực. Tín hiệu tích cực vì người đứng đầu các quan chức bộ GD-ĐT đã thấy được sự khiếm khuyết trầm trọng của nhân tố quốc tế trong nghiên cứu khoa học, trong nội dung các luận văn tiến sỹ được bảo vệ trong nước. Sự kiểm định quốc tế chính là thước đo đảm bảo chất lượng của các công trình khoa học. Ở đây ông PTT muốn nói không với tình trạng tụt hậu về phát triển khoa học.

more…

Category: Chính luận  | Tags:  | 2 Comments
May 16th, 2008 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

Một số đề nghị cụ thể về đổi mới tư duy và việc chọn lựa hướng giải quyết cho ngành giáo dục trong cơ chế thị trường

Lời giới thiệu :

Bài viết này đã được đăng nhiều lần trên các báo xuất bản trong nước đặc biệt các trang tin điện tử thí dụ VIETNAMNET : http://www.vnn.vn/giaoduc/2004/11/345759/

********

Trong kiến nghị vắn tắt “Mấy ý kiến về cải cách giáo dục” (đăng trên trang web “Hướng về giáo dục của GS Hoàng Tụy : http://www.ncst.ac.vn/hvgd/, tôi có đề cập đến việc cần có những bước đột phá trong việc cải cách hệ thống giáo dục Việt Nam bao gồm ba điểm sau đây:

more…

Category: Bài viết, Chính luận  | Tags:  | Leave a Comment