Archive for the Category » Giáo dục «

August 20th, 2011 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

gd_vn3

Vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục đại học

GSTS Nguyễn Đăng Hưng

Giáo sư danh dự thực thụ trường ĐH Liège, Bỉ

Giáo sư tư vấn của chương trình Cao học Tính toán trong Cơ học, trường Đại Học Việt Đức, Tp HCM

******

Tôi đã nhiều lần phát biểu về chủ đề này. Nay xin ghi lại đây tóm tắt những ý kiến chính.

Mong bạn đọc tham khảo chi tiết qua phần thư mục rất phong phú, có đường dẫn đến những bài tôi đã viết về đề tài này từ 15 năm nay.

1.     Quan trọng nhất là việc chọn lựa người thầy.

Cụ thể hơn việc bổ nhiệm giảng viên và giáo sư tại các trường ĐH.  Trong công tác này điều tối kỵ là cơ cấu cá nhân. Phải có những tiêu chuẩn khách quan vô tư. Phải có biện pháp cụ thể chọn lựa bổ nhiệm đúng người đúng việc.

more…

December 18th, 2010 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

Hội nghị "chuyên đề Giáo dục” do Bộ GD&ĐT và Ban Việt kiều Trung Ương tồ chức tại TP Hồ Chí Minh, tháng 2/1994

Hội nghị "chuyên đề Giáo dục” do Bộ GD&ĐT và Ban Việt kiều Trung Ương tồ chức tại TP Hồ Chí Minh, tháng 2/1994

Lời dẫn

Tháng 2 năm 1994 tôi về Sài Gòn tham dự Hội nghị chuyên đề Giáo dục” do Bộ GD&ĐT và Ban Việt kiều Trung Ương tồ chức tại TP Hồ Chí Minh, Xuân Giáp Tuất tháng 2/1994.

Đây là giai đoạn tôi đang hăm hở có nhiều đề nghị cụ thể cho việc cải tiến nền giáo dục đại học Việt Nam. GS.TS Trần Hồng Quân, Bộ Trưởng Bộ GD& ĐT và GS.TS Nguyễn Ngọc Trân, Chủ Nhiệm Ban Việt kiều Trung Ương là đồng chủ toạ Hội nghị. Đây cũng là thời điểm tôi đang soạn thảo dự án “Hợp tác Bí&Việt đào tạo cao học tại Việt Nam”, một dự án du học tại chỗ với những thành quả mà nhiều người sau này biết đến.

Bài này không được cho đọc tạị nghị trường nhưng đã được xuất bản trong Kỷ yếu của Hội Nghị. Sau đó tôi đã gởi đi công bố trên tạp chí ĐỐI THOẠI, Số 5 tháng 4 năm 1995, trang 50-61, xuất bản tại Hoa kỳ. Theo thứ tự thời gian bài này chính là phần 6 của loạt bài bút ký gời cho blog Nguyễn Xuân Diện.

KINH NGHIỆM HỢP TÁC ĐÀO TẠO

VỚI CÁC ĐẠI HỌC VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ

ĐỀ NGHỊ CỤ THỂ VỀ VIỆC CẢI TỔ GIÁO DỤC

PHỐI HỢP VỚI HỢP TÁC QUỐC TẾ

1. VÀO ĐỀ.

Thường mỗi cuối năm là tôi lên Tòa lãnh sự Đại sứ quán Việt Nam, xin chiếu khán về Việt Nam. Họ hỏi anh về làm gì là tôi luống cuống không biết nói làm sao cho ổn. Phải tôi đi buôn, đi làm kinh tế, thì chắc cũng dễ thôi mà lại được Visa nhanh. Khốn nỗi tôi vừa đi giảng dạy chuyên môn trong khuôn khổ cộng tác quốc tế, vừa đi thăm gia đình, vừa có ý định tranh thủ thời gian đi thăm danh lam thắng cảnh di tích văn hóa của quê nhà. Nhiều việc làm quá làm sao có từ ngắn nói hết được !… Cũng vì luống cuống như thế mà lắm lúc phải chờ đợi lâu, chờ công văn bộ, chờ giấy mời chính thức, có khi kéo dài đến cả năm, tuy tôi là Việt kiều về thăm đất nước rất sớm : Tết Bính Thìn năm 76, non một năm sau 30 tháng Tư 75 là tôi đã có mặt ở Việt Nam… Từ đấy đến nay tôi về rất nhiều lần. Thậm chí mỗi khi phải nộp ba tấm hình dán vào ba đơn xin Visa có mục phải ghi rõ số lần về tôi lại do dự, suy nghĩ, ráng nhớ, nhưng không thể nào chính xác… Kỳ này gấp quá tôi ghi nhanh : đi du lịch, đóng chút đỉnh tiền là được Visa ngay… Thư mời tham dự buổi hội thảo hôm nay đến sau và bài bình luận này tôi thảo muộn…

more…

October 19th, 2010 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

Lãnh sự Bỉ tại Sài Gòn Henri Pìrard và Hiệu trưởng ĐHBK cắt bănh khánh thành văn phòng Cao học Bỉ-Việt

Lãnh sự Bỉ tại Sài Gòn Henri Piérard và Hiệu trưởng ĐHBK Trương Minh Vệ cắt bănh khánh thành văn phòng Cao học Bỉ-Việt

BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG - Phần 13

**********

Tôi về Việt Nam triển khai dự án qui mô đào tạo thạc sỹ

Người đầu tiên được tôi cho hay thông tin về việc “Dự án du học tại chỗ” của tôi được tài trợ là nghiên cứu sinh Việt Nam T., giảng viên Đại học Bách Khoa Sài Gòn được tôi chọn sang Bỉ sửa soạn luận án tiến sỹ trong khuôn khổ dự án nhỏ đã nói đến trước đây do Cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp (CGRI) tài trợ. Tôi sang phòng bên cạnh đưa cho T. một bản sao dự án rồi bảo:

- “ Thầy mới có được tin vui! Dự án này vừa được tài trợ. Em cố gắng kết thúc nhanh luận văn để sớm về Việt Nam giúp thầy triển khai. Đối tác chính tại Việt Nam Đại học Bách Khoa Thàng phố Hồ Chí Minh (ĐHBK), Khoa xây Dựng, nơi em công tác. Em xem cho kỷ rồi bàn với thầy các phương thức cụ thể tại Việt Nam”.

Tôi hy vọng T. sẽ là một cộng tác viên đắc lực vì vừa là người trong cuộc tại Sài Gòn, vừa đang được Đại học Liège đào tạo bài bản. Như tôi đã nhắc trong chương trước, cách đây hai năm T. đã được tôi đem sang Bỉ học cao học và đã tốt nghiệp thạc sỹ tại Bỉ.

Ngày hôm sau T. xin vào hầu chuyện tôi và trả lời:

-“ Thầy ơi không được đâu thầy. Tại Việt Nam khó lắm, thầy sẽ không thể nào triển khai được đâu. Em đề nghị thầy nên xếp lại đi, phát triển đào tạo cao học có trình độ quốc tế tại Việt Nam chỉ sẽ là ảo vọng”.

Thú thật tôi rất ngạc nhiên trước nhận định của T. Tôi biết là khó chứ ảo vọng thì tôi không thể chấp nhận. Tôi bất ngờ về lời bình của T. và tôi hiểu ngay là tôi không thể trông cậy gì ở sự giúp đỡ cộng tác của T. Tôi ôn tồn bảo T.

-“ Thôi em về phòng tiếp tục làm luận văn của em đi. Thầy sẽ triển khai một mình, thầy sẽ không làm phiền em đâu”.

more…

October 16th, 2010 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

Hình ông Erik Derycke, Bộ trưởng Hợp tác Phát triển Bỉ (1993-1995), Bộ trưởng ngoại giao Bỉ (1995-1999)

Hình ông Erik Derycke, Bộ trưởng Hợp tác Phát triển Bỉ (1993-1995), Bộ trưởng ngoại giao Bỉ (1995-1999)

BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG - Phần 12

Tôi về Bỉ soạn thảo một dự án qui mô đào tạo thạc sỹ

Tôi không thể nào quên được những ánh mắt thất vọng của các nghiên cứu sinh trẻ ngày tôi đọc danh sách các ứng viên được chọn và trao học bổng tại Sài Gòn. Dự án do Cộng đồng các Đại học Bỉ nói tiếng Pháp (CGRI) có tài trợ quá hạn hẹp. Ngoài chuyến đi thỉnh giảng của giáo sư điều hành và người trợ giảng, vổn vẹn mỗi năm chỉ có một em đi Bỉ trong thời gian 10 tháng để chuẩn bị và bảo vệ luận văn thạc sỹ, 10 học bổng tại chỗ cho nghiên cứu sinh và chỉ có một em sang Liège 36 tháng để chuẩn bị luận án tiến sỹ. Ứng viên lại quá đông. Tôi bắt buộc phải từ chối ngay cả những học viên chăm chỉ và có năng khiếu nghiên cứu. Tôi tự bảo lòng phải làm gì để đáp ứng nguyện vọng của họ. Tôi sớm thấy ngay hướng đi: chỉ có một cách thôi, mở rộng qui mô du học tại chỗ.

more…

October 13th, 2010 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

Hình bìa sách tái xuất bản tại Đức (2010)

Hình bìa sách tái xuất bản tại Đức (2010)

Tái bản sách lưu niệm

“Collection of papers from Prof. Nguyen-Dang Hung’s former students -

Modeling in Mechanical and Civil Engineering

Xin thông báo cuốn lưu niệm bằng tiếng Anh “Collection of papers from Prof. Nguyen-Dang Hung’s former students” (Tập hợp công trình khoa học của các cựu học trò của GS Nguyễn Đăng Hưng) vừa được một nhà xuất bản tại Đức “Lambert Academic Publishing” tái xuất bản dùng cho việc lưu hành trên trường quốc tế. Đây là cuốn sách tập hợp các bài viết tiêu biểu của các học cũ của Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng nay là những nhà nghiên cứu, giáo sư đại học kỳ cựu của nhiều trường Đại học tên thế giới. Cuốn sách đã được hai giáo sư Géry de Saxcé (Đại học Lille) và Nicolas Moës (Đại học Nantes) biên soạn. Người điều hành và thực hiện là Thạc sỹ Châu Âu Châu Đình Thành, cựu học viên chương trình cao học Bỉ-Việt EMMC, nay là nghiên cứu sinh bậc tiến sỹ tại Hàn Quốc. Sách dày gần 700 trang, chủ đề là khoa học công nghệ mô phỏng tính toán cấu trúc và môi trường liên tục. Cuốn này được nhà Xuất bản Đại học Quốc gia TP HCM, ấn hành lần thứ nhất năm 2006 nhân ngày GS Nguyễn Đăng Hưng lấy hưu trí.

Lời nói đầu cho lần tái bản thứ hai

tại Đức (2010) của

Giáo sư Giulio Maier(1)

Giáo sư danh dự trường Đại học công nghệ Milano (Ý)

Viện Trưởng Trung tâm Quốc tế Cơ học UDINE, Ý (2005-2010)

Hình chụp chung với Giáo sư Giulio Maier (người đứng giữa)

Hình chụp chung với Giáo sư Giulio Maier (người đứng giữa)

Năm 1984 tôi được mời tham gia phản biện một luận án tiến sỹ đặc biệt (Spécial doctorat- Agrégé de l’Enseignement Supérieur). Tôi rất vui vì lời mời phát đi từ một cơ sở nghiên cứu khoa học lẫy lừng trên trường quốc tế về cơ học cấu trúc và cơ học tính toán trực thuộc Đại học Liège do hai Giáo sư nỗi tiếng Charles Massonnet và B. Fraeijs de Veubeke đứng đầu.

Tác giả luận án là một đồng nghiệp trẻ mà tôi đã từng bắt gặp mặt trong những lần tham dự hội nghị hay đã có dịp đọc các công bố khoa học của ông: Nguyễn Đăng Hưng.

Tôi đã có ấn tượng rất tích cực bỡi luận án này về thuyết chảy dẽo và đã viết ra lời bình luận sau đây:

“Đây là một phương pháp tiếp cận đa diện nhưng dễ hiếu đi từ động nhiệt học, từ căn bản vi mô của cấu trúc vật thể chất rắn, đến việc lập trình toán số giải quyết những vấn đề cụ thể áp dụng dành cho các kỷ sư…” (Trích báo cáo phản biện ngày 30/1/1984).

Trong hai mươi năm sau đó, qua nhiểu hội nghị quốc tế, nhiều bài báo, nhiều lần hội họp, tôi đã có dịp đi sâu và hiểu thấu đáo hơn những nhận xét trên về Nguyễn Đăng Hưng: Những hoạt động học thuật giảng dạy của ông ngày càng rộng mở, những lĩnh vực nghiên cứu khoa học ngày càng phong phú. Và từ đó qua thời gian tôi càng thân thiết với ông hơn.

Ngày nay vai trò của GS Hưng trong các lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo tại Bỉ cũng như tại Việt Nam đã được cộng đồng các nhà cơ học lý thuyết và ứng dụng trên thế giới biết đến.

Nhân dịp sinh nhật lần thứ 65 của ông, các học viên, các nghiên cứu sinh và các đồng nghiệp đã chúc mừng ông vì một sự nghiệp nỗi trội. Cuốn sách lưu niệm này tập hợp những công trình khoa học chọn lọc của các cựu sinh viên của ông, phần lớn đã trở thành những nhà nghiên cứu, những giáo sư kỳ cựu.

Tôi rất vui dùng những lời nói đầu này để cùng tham gia với các bạn. Mà tôi phải nói là tôi và bạn đọc tương lai sẽ rất có ấn tương sâu sắc về những thông tin bất ngờ trong cuốn sách. Qua các bài phỏng vấn, bài báo về giáo dục, về chính trị, về khía cạnh thơ văn tiếng Việt, chúng tôi thích thú khám phá ra sự dấng thân của GS Hưng cho Việt Nam.

Cách đây một phần tư thế kỷ, tôi đã thích thú về cách tiếp cận đa dạng của ông trong nghiên cứu. Ngày nay qua cuốn sách này tôi lại bị cuốn hút về sự phong phú của các tư liệu tập hợp đươc. Đây là chứng cớ của một tài năng hiếm có, có khả năng khoả lấp những những cách biệt giữa “hai nền văn hoá”, giữa những phân ly của khoa học và nhân loại. Ở đây tôi muốn nhắc đến những lời phân trần và cảnh báo nỗi tiếng không thể phai mờ được của học giả Charles Percy Snow(2) về những phân ly cách biệt ấy trong thế giới ngày nay.


Bây giờ tôi muốn có chút quà mọn dành cho chất thơ, chất đa tài đa dạng, chất quốc tế của GS Hưng, tôi muốn chấm dứt lời nói đầu này với lời chúc mừng bằng tiếng la tinh thứ ngôn ngữ mà nhà cơ học lẫy lừng Clifford Truesdell(3) từng bảo là thứ ngôn ngữ của mọi người cũng là thứ ngôn ngữ của không ai cả :

“Ad multos annos, Hưng, ad multos annos”!

(Thêm nhiều năm đi Hưng, Thêm nhiều năm đi !)

Giulio Maier
Technical University (Politecnico) of Milan, Italy

________________________

(1) Giulio Maier, Giáo sư danh dự thực thụ Trường Đại học Công Nghệ Milano, Chủ tịch Hội Cơ học Ý (1986-1990), Viện trưởng Viện cơ học quốc tế Udine (2005-2010), tác giả hay đồng tác giả của trên 260 công bố và 9 sách khoa học quốc tế. Ông cũng là thành viên Viện khoa học quốc gia Ý, Ba Lan, Hungary, Viện khoa học công nghệ Nga và Hoa Kỳ. Ông cũng là tiến sỹ danh dự của trường đại học Thessaloniki (Hy Lạp), Saint Petersburg (Nga), Colorado (Mỹ) và trường Cao đẳng Bách khoa Mons (Bỉ).
(2) Charles Percy Snow, Baron Snow (1905 - 1980), Nhà bác học, nhà văn người Anh nỗi tiếng về những bài thuyết trình về sự phân ly ngày càng trầm trọng giữa khoa học và nhân loại.
(3) Clifford Truesdell (1919-2000), Nhà cơ học lý thuyết người Mỹ, cựu giáo sư trường Đại học Indiana, Chủ biên biên soạn 6 tác phẩm về sự nghiệp nhà toán học Leonhard Euler.

more…

October 12th, 2010 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

ndh_vuive

BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG - Phần 11

**********

Đi khắp Nam Bắc Trung tìm nghiên cứu sinh

Bắt đầu từ ngày (1991) rời phòng thẫm vấn của công an là tôi như người bị mọc đuôi. Tôi có cảm giác có người theo dỏi tôi, nhất cử nhất động của tôi là có người đi theo quan sát, lúc ẩn lúc hiện.

Sống ở Sài Gòn, về Đà Nẳng, ra Hà Nội, lúc nào cũng thấy như có người hộ tống, “bảo vệ an ninh cho tôỉ”. Công an họ bảo với tôi như vậy khi tôi có dịp gặp lại họ trong những buổi thẫm vấn khác sau này. Trong quán cà phê toạ lạc ở góc đường nhìn thẳng về ngõ ra vào nhà anh vợ tôi, hình như luôn có người túc trực chỉa mắt tò mò dòm tôi mỗi khi ra vào. Một anh bạn người đồng hương với tôi, một nhà sử học, điện thoại cho tôi hay là công an đã gặp ông và yêu cầu ông không nên tiếp tục đi uống bia với tôi như dạo trước. Tôi buồn thêm năm phút. Giải trí của tôi là lâu lâu gặp các nhà thức giả, trao đổi thông tin, bàn chuyện tào lao để trút bớt “stress”. Chút giải trí lành mạnh như vậy mà tôi cũng bị tước đoạt. Ông anh vợ, nguyên là một bác sỹ quân y trước 75, cho tôi hay là công an khu vực cũng có triệu anh ấy lên làm việc. Họ cho anh ấy biết tôi là thành phần có vấn đề, nên coi lại việc cho tôi tá túc. Cũng may, anh ấy rất khẳng khái và tốt bụng:

- “Nó là chồng em tôi, nó về công việc túi bụi chỉ có đi giảng bài, soạn dự án, ngày đi sớm vào văn phòng tại Đại học Bách khoa, tối về trễ, chẳng có gì là đặc biệt. Còn giao tiếp thì chỉ mấy ông giáo sư các trường đại học, các học trò cao học. Nó không ưa ở khách sạn, thích ở nhà, gần bà con cho vui, chúng tôi cũng thích nó, tôi không thấy cần phải đổi khác”.

more…

October 07th, 2010 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

ndh_bureau-liege

BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG


Phần 10


*****


Tôi đã chọn lựa dựa trên những yếu tố tình cảm


Lên máy bay về Việt Nam lần nay, tôi không ngớt miên mang suy nghĩ về những lựa chọn của mình trong tương quan với quê hương tôi. Lần này tâm trạng tôi khác hẳn với chuyến bay ngược chiều rời Việt Nam trở lại Bỉ cách đây đã 12 năm (1979). Lúc ấy tôi có một tâm trạng nặng nề bế tắt. Tôi đã nghĩ phải cố quên cố quốc. Thật vậy, với ý định hồi hương giúp nước nhà phát triển tái thiết, tôi đã gặp phải một bức tường thép khép kín của một doanh trại kiên cố, lạnh lùng, khô cạn, xơ cứng. Sau ba chuyến đi Việt Nam (1976-77-79), nắm bắt tình hình, khảo sát thực tế, tôi đã quá thất vọng. Tôi đi đến quyết định dứt khoát là sẽ phải cố gắng không nghĩ đến ngày về nếu không có gì thay đổi tại Việt Nam. Đây chính là tâm trạng người tình bị phản bội.

more…

October 07th, 2010 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

ndh_damchieu

BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG


Phần 9


*****

Sau khi gởi đăng bài bút ký 2 trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật, tôi trở sang Bỉ ngay. Tại đây tôi nhận được một tin vui qua văn thư chính thức : Cục hợp tác quốc tế Cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp (Commissariat Général des Relations Internationale de la Communaité Française de Belgique, CGRI) chấp nhận tài trợ dự án giúp đỡ các đại học Việt Nam đào tạo nghiên cứu sinh trong ba năm. Dự án này do chính tay tôi phát thảo, không lớn vì mỗi năm chỉ có một giáo sư Bỉ qua Việt Nam làm sê mi na 15 ngày, một kỷ sư Việt Nam sang Bỉ một năm để chuẩn bị và bảo vệ luận văn thạc sỹ, một đồng nghiệp Việt Nam sang Bỉ một tháng để tham khảo viết lại giáo trình hay trao đổi nghiên cứu khoa học. Dự án có một sáng kiến mới : 10 học bổng dành cho nghiên cứu sinh Việt Nam nhận đề tài nghiên cứu từ giáo sư Bỉ và làm việc tại Việt Nam. Đây là ý tưởng ban đầu của mô hình mới về hợp tác quốc tế : mô hình du học tại chỗ.

more…

September 20th, 2010 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

Tại văn phòng khoa Hàng không Không gian, Đại học Liège

Tại văn phòng khoa Hàng không Không gian, Đại học Liège

Li dn

Sau bài bút ký đọc tại Hội thảo mùa hè Franfurt tháng 8/1989 (nhưng bản thảo đã thai nghén từ 1979), tôi bắt đầu thường xuyên đi lại Việt Nam và hăng hái đề xuất những dự án có tài trợ quốc tế (Cộng đồng các đại học quốc nói tiếng Pháp trụ sở tại Canada, chính phủ Bỉ) dùng cho việc đào tạo cán bộ giảng dạy ở cấp đại học. Từ 1989 cho đến 1995 (năm tôi đổi hướng đề xuất các dự án lớn, khánh thành trung tâm đào tạo thạc sỹ EMMC tại ĐH Bách Khoa, TP HCM) tôi đã triển khai không dưới 10 dự án nhỏ giá trị khoảng 20 ngàu USD mỗi năm, những dự án con dùng cho việc về Việt Nam làm sê-mi-na và hướng dẫn các bạn trẻ nghiên cứu khoa học về ngành tính toán số cơ học bằng phương pháp hiện đại rời rạc hóa không gian và thời gian qua máy tính.

Tôi bắt đầu bắt nhịp với đời sống văn hóa xã hội Việt Nam trong giai đoạn cởi trói văn hóa văn nghệ theo ý kiến của tân tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, giai đoạn tướng Trần Độ phụ trách tuyên giáo và nhà văn Nguyên Ngọc làm Tổng biên tập báo Văn Nghệ. Bài bút ký thứ hai sau đây viết ra trong cái không khí đổi mới tư duy ấy.

Tôi đã gởi bài này cho nhà báo Kim Hạnh, Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ và Bà Kim Hạnh với dũng khí mà ta được biết, đã cho đăng trên Tuổi Trẻ Chủ nhật (số 7-90 25/2/1990, trang 7 và trang 21), sau khi cắt bớt những đoạn « chưa thích hợp » : tạp nghi 1,2,4,5.

Nay tôi đăng tải nguyên văn bài bút ký.

Phải nói 20 năm đã qua nhưng nội dung bài này vẫn là thời sự và những lo âu của tôi trước đây nay hiện nguyên hình với sự tác hại mà báo chí lề trái cũng như lề phải đồng loạt khám phá và đăng tải : bằng dỏm, lớp dỏm, liên kết dỏm tổ chức thành hệ thống !…

Sài gòn ngày 19/8/2010

BÚT KÝ CỦA MỘT NHÀ KHOA HỌC VIỆT KIỀU (Phần 2)

NGUYỄN ĐĂNG HƯNG

Giáo sư Đại học Liège (Bỉ)

Tạp ghi 1.

Vâng, Sài gòn ngày nay có nhiều đổi thay.

Có người công an đổi ra làm chủ tiệm phở và cũng có người chủ gánh phở trở về làm chuyên gia !

Tôi đã nghe và đọc về thân phận của anh Vũ Đình Cung, người chuyên viên điều khiển không lưu tài ba của phi cảng Tân Sơn Nhất. Câu chuyện về anh rất được các giới sĩ phu trong nước bàn tán trong năm qua. Hãy nghe anh Cung nói về mình :

“ … Khi cầm tờ giấy báo cho nghỉ việc, tôi vừa bất ngờ vừa không bất ngờ. Bởi vì là sau giải phóng thời gian hơn năm năm được lưu dụng, tôi đã rất nổ lực trong công việc, nhưng có lẽ điều này cũng chưa đủ sức để tạo một niềm tin ! Sau gần ba mươi năm làm việc, giờ về nghỉ chưa biết phải làm gì, những tuần lễ đầu để khuây khỏa, tôi thường đạp xe đi thăm những người bạn cũ trước đây cùng đi học ngành không lưu tại Đài Bắc, tại Mỹ và sau này cùng làm việc chung. Cũng chẳng gần được mấy ai vì hầu hết đều đi ra nước ngoài… Một ít còn lại thì sống bằng đủ các nghề và cũng đang chờ ngày xuất cảnh. Họ an ủi và khuyên tôi nên chọn con đường như họ. Với tâm trạng lúc đó, lời khuyên ấy không thể không làm tôi suy nghĩ. Nhưng tôi đã không tính cách ra đi. Phải kiếm cách sống cho gia đình… Cuối cùng một người bà con đang buôn bán ở chợ An Đông gợi ý tôi xuống đó mở một xe phở bán thử. Bỗng dưng trở thành anh bán phở, ngày ngày mang chiếc xe đạp, dề trắng trước ngực, lặt rau, rửa tô, dọn bát tới lui dòn dã chào mời…

Thời gian trôi đi, tưởng đâu đã yên ổn suốt đời với chiếc xe phở thì bỗng một hôm đọc trên báo thấy có một bài viết về chuyện của mình, người viết là một đồng nghiệp trẻ cũ. Tôi ứa nước mắt, hóa ra vẫn còn người nhớ đến mình ! … Sau đó khoảng chừng nữa tháng, một hôm tôi vừa ở chợ An Đông về thì có một vị ở Tổng cục Hàng không đến nhà thăm và ngỏ ý mời tôi vào làm việc trở lại. Tôi hết sức phân vân, một sự e dè lẫn chút tự ái trong tâm trạng… Sau bao đêm trằn trọc, hình ảnh chiếc xe phở thân quen đã giúp gia đình tôi qua những ngày lao đao… cùng bầu trời xanh… những cánh bay màu trắng làm tôi chập chờn trong giấc ngủ. Có một điều gì sâu thâm tự đáy lòng nhắc nhở tôi hãy đừng vì một điều gì cả mà hãy vì quê hương còn nghèo khó của chúng ta. Ngày 15.3.88, mất đi gần mười năm, tôi đã trở lại nơi làm việc cũ. Tôi được biết là trong thời gian qua, Tổng cục Hàng không phải mướn chuyên gia nước ngoài sang huấn luyện, hằng tháng phải trả cho mỗi người từ sáu ngàn đến tám ngàn đô-la !… Tôi tiếp tục công việc tại đài chỉ huy sân bay, hằng ngày huấn luyện nâng cấp cho các kiểm soát viên, dạy nghiệp vụ tại trường Hàng không và viết tài liệu huấn luyện… Lương hàng tháng tám mươi ngàn đồng tất nhiên không thể nào bằng tiền lời của một tháng bán phở, nhưng nó có một giá trị khác… ».

Vâng, đất nước chúng ta ngày nay vẫn còn lại những hình ảnh tiêu biểu mới, lời nói cởi hết tấm lòng, chân thành và cảm động. Nhưng khắc nghiệt thay những tấm lòng ấy, những tài ba ấy chưa có địa vị xứng đáng trên đất nước họ, trong ngành nghề chuyên môn của họ. Họ mới “được phép” hành nghề thế thôi, làm gì so sánh được với các chuyên gia chánh trị của nền chuyên chính vô sản !

more…

September 06th, 2010 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

Sài Gòn Lăng Ông Bà Chiểu, Tết Bính Thìn 1976

Sài Gòn Lăng Ông Bà Chiểu, Tết Bính Thìn 1976

Lời giải thích trên blog NĐH:

Nhân sự kiện Ngô Bảo Châu, việc phát triển và xử dụng nhân tài, chính sách tổ chức nghiên cứu khoa học và giáo dục đào tạo tại Việt Nam được cả nước quan tâm.

Là người sớm thường xuyền về Việt Nam sinh hoạt khoa học với các đồng nghiệp trong nước từ năm 1976 cho đến nay, tôi đã có những bài viết những đề xuất khá nóng từ hơn 20 năm nay.

Nhận thấy những ý kiến những kinh nghiệm này vẫn còn nguyên giá trị thời sự vì sau 35 năm hòa bình thống nhất, công cuộc đổi mới tư duy về tri thức, về tinh thần khoa học vẫn còn chưa có biến chuyển quyết liệt…, tôi quyết định đăng tải lại trên blog của Nuyễn Xuân Diện…Âu cũng là những đóng góp nhỏ nhưng hữu ích cho công cuộc xây dựng cái nền văn hóa khoa học cho nước nhà.

Nay tôi khiên lại về nhà mấy bài bút ký này dành cho bạn đọc quen thuộc của tôi, sau khi thấy các bài bút ký này nhận được sự đón nhận nồng nhiệt, sự quan tâm tích cực từ bạn đọc khắp năm châu…

Nguyễn Đăng Hưng

17-08-2010

BÚT KÝ CỦA MỘT NHÀ KHOA HỌC VIỆT KIỀU

Lời dẫn của GS Nguyễn Đăng Hưng:

Bài này xuất hiện dưới hình thức một bài tham luận đọc tại Hội Thảo mùa hè Franfurt tháng 8 năm 1989 nếu tôi nhớ không nhầm. Hội thảo này là tiền thân của Hội Thảo mùa hè mới vừa được tổ chức về « Tranh chấp Biển Đông Nam Á và vấn đề an ninh con người », Philadelphia, Mỹ tháng 7, 2010 vừa qua. Sau đó anh Trần Hải Hạc chủ bút báo Đoàn Kết yêu cầu tôi gởi đăng trên cơ quan ngôn luận của Liên Hiệp Việt kiều tại Pháp, bộ mới số 418 phát hành trong tháng 11 năm 1989.

Sau khi PTT Nguyễn Thiện Nhân đến nhà ân cần thăm hỏi và đề nghị tặng quà nhà toán học Ngô Bảo Châu tôi thấy vấn đề chiêu mộ nhân tài, tạo điều kiện để các nhà khoa học Việt kiều về nước đóng góp vẫn là một vấn đề nóng bỏng thời sự mà sau 35 năm vẫn còn bề bộn phía trước.

Nay gởi cho Blog Nguyễn Xuân Diện đăng lại nguyên văn, biết đâu cũng là một ý kiến nhỏ gợi ý cho giới chức trách đương quyền, giúp cho đông những nhà khoa học trẻ Việt Nam suy ngẫm thêm về sinh hoạt khoa học trước 1989 tại Việt Nam.

Cũng xin lưu ý là sau năm 1979, tác giả bài này đã quyết định ngưng về Việt Nam trong 10 năm cho đến 1989 khi công cuộc đổi mới kinh tế và tư duy bắt đầu rõ nét. Hiện nay tác giả đã hưu trí và sinh sống chính tại Việt nam.

more…