Tag-Archive for » Chính luận «

January 11th, 2011 | Author:

dh-dang1

Lời dẫn

Bắt đầu từ Đại Hội X, tôi quyết định không gởi văn thư đóng góp ý kiến nữa, tuy tôi đã từng được trực tiếp nhắc nhở từ một vài nhân vật quen thân có mặt trong Mặt Trận Tổ Quốc TP Hồ Chí Minh hay Hà Nội, Đà Nẳng… Lý do đơn giản là tôi nhiều lần trong dịp Đại Hội Đảng trước đây, từ Bỉ gởi thư góp ý kiến thông qua Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, khi thì cấp Trung Ương Hà Nội, khi thì tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng không lần nào tôi có được hồi âm!  Một tín hiệu nhỏ cho hay «đã nhận được thư góp ý» của cơ quan chức năng cũng không có chứ đừng nói đến việc ý kiến tâm huyết của mình đã đi đến đâu, đã được xem xét ra sao. Mỗi lần tôi có cảm giác là ý kiến của mình bị rơi vào không gian trống không, vô tận… Tôi xin đăng tải dưới đây nội dung ý kiến cuối cùng của tôi nhân dịp Đại Hội IX cách đây đã một thập kỷ.

Gần như toàn bộ các ý kiến này vẫn còn thời sự. Qua hình thức thư ngõ công khai này tôi xin khẳng định lại với các nhà lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam đóng góp của tôi cho Đại Hội XI bắt đầu từ hôm nay.

TP Hồ Chí Minh ngày 11/1/2011

TSKH Nguyễn Đăng Hưng

Giáo sư Danh dự Thực thụ trường Đại học Liège, Bỉ.

GÓP Ý KIẾN

CHO ĐẠI HỘI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LẦN THỨ IX

more…

Category: Bài viết, Chính luận  | Tags:  | 6 Comments
December 01st, 2010 | Author:
Đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc trên biển Đông

Đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc trên biển Đông

Cảm nghĩ nhanh sau khi đọc bài

Giải mã “Lợi ích cốt lõi” và “đường lưỡi bò”

của Trung Quốc ở Biển đông

Nguyễn Đăng Hưng

Bài Giải mã “lợi ích cốt lõi” và “đường lưỡi bò” của Trung Quốc của tác giả Huỳnh Phan trên “Tuần Việt Nam” có nghi lại những trao đổi với Giáo sư Stein Tonnesson, Viện Nghiên cứu Hoà bình Oslo (Na Uy) – người tham gia cả hai cuộc hội thảo quốc tế về Biển Đông, được tổ chức tại Việt Nam. Đây là những ý kiến của một chuyên gia quan tâm đến Biển Đông một cách khá vô tư. GS Stein Tonnessson lại đồng tình với quan điểm của Giáo sư Leszek Buszynski cho rằng Trung Quốc thực sự cũng chưa biết mình muốn gì.

Blog Nguyễn Xuân Diện đã đăng lại bài này và KTS Trần Thanh Vân đã có những lời bình ngắn phía dưới mà tôi tâm đắc.

Thật vậy, nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay biết rất rõ việc họ làm: họ muốn bành trướng, muốn chiếm đoạt toàn bộ tài nguyên Biển Đông. Tại sao bảo rằng TQ “chưa biết họ thực sự muốn gì” khi chính họ đã có văn bản chính thức lên Liên Hiệp Quốc xác định đòi hỏi của họ… Ta biết ngày 7 tháng 5 năm 2009 phái đoàn thường trực của Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc đã gởi đến Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc một công văn (số CML/17/2009) trong đó có đính kèm bản đồ đường lưỡi bò mà ngôn ngữ quốc tế gọi là gọi là “đường chính đoạn đứt khúc” (nine-dotted-lines map) bao gồm gần 80% của tất cả Biển Đông và nói rằng đây là vùng chủ quyền không thể tranh cãi được của Trung Quốc.

Vấn đề đặt ra là ngoài những lời nói lấy được, họ không có một cơ sở nhỏ nào để biện minh cho lòng tham lam vô độ này. Trên thực tế các “học giả” đại diện cho thế lực bành trướng Trung Quốc đã rất phân vân không biết ăn nói làm sao trước công luận và lập trường phi lý này đã cô lập Trung Quốc trên trường quốc tế.

KTS Nguyễn Thanh Vân đã phát biểu rất chính xác:“Những biểu hiện và những tuyên bố mập mờ, không mạch lạc của nhà cầm quyền TQ vừa rồi, không phải vì họ không biết họ muốn gì, mà vì họ lúng túng không biết cách lừa thế giới như thế nào ngoài thái độ ngang ngược trơ tráo và nói quanh.”

Và vì vậy chính bản thân họ cũng tự mâu thuẩn, tự chia rẽ vì hàng động phi lý không tiền khoán hậu này của lịch sử thế giới… Tôi chưa thấy thời đại nào mà một cường quốc lại đi đòi cả một vùng biển bao la trên 3 triệu km2 trở thành “lãnh thổ” của mình với cái tên kỳ quặc là “vùng nước lịch sử”. Nói “Lợi ích cốt lõi” là sẳn sàng dùng vũ lực để chiếm đóng, là đòi sát nhập vào lãnh thổ của mình, chứ chẳng có gì khác. Thời thượng cỗ, Đế Quốc La Mã có khả năng và trên thực tế đã kiểm soát gần như tuyệt đối biển Địa Trung Hải nhưng Hoàng Đế La Mã nào có tuyên bố ý đồ ngông cuồng sát nhập biển này vào “lãnh thổ” của Đế Quốc La Mã?

Tôi lại đồng ý với GS Stein Tonnessson khi ông bảo “Trung Quốc không khôn ngoan tí nào”. Vì quá hăng say với thành tích kinh tế, vì quá chủ quan về sự suy thoái của siêu cường quốc Hoa kỳ, chính quyền Trung Quốc đã để lộ quá sớm cái đuôi con cáo thâm độc của mình.

Thái độ hung hăng của Trung Quốc tại biển Đông Nam Á đã làm cả thế giới thức tỉnh và Hoa kỳ đã thấy rõ nguy cơ. Đây chính là nguy cơ bậc nhất của thế kỷ 21, đây là sự trỗi dậy của một thứ phát xít mới với tất cả những ứng xử bạo tàn thâm độc mang màu sắc Á đông, phát xuất từ thời nhà Tần…

Đây cũng chính là sai lầm của ê kíp Hồ Cẫm Đào đã quên đi quá nhanh lời dặn dò của Đặng Tiểu Bình: “giấu mình chờ thời”.

Trước nguy cơ bị cả thế giới bao vây, ta thấy hiện nay TQ dịu giọng và trở lại với chính sách câu giờ.

Việt Nam hơn bao giờ hết nên lợi dụng thời cơ. Ngoài việc tìm bạn mới hùng cường còn phải trở về với đoàn kết dân tộc thực sự, mở rộng dân chủ, mưu cầu dân sinh, cải tổ chính trị, sửa đổi hiến pháp cho phù hợp với chính sách hoà nhập để phát triển… Làm bạn với các quốc gia hùng cường trước hết là phải xứng đáng với lòng tin cậy của họ, không ăn nói nước đôi, không hạ mình xin xỏ, không nhân nhượng quá mức, không khiếp sợ trước cường quyền, không bạc nhược trước ngang ngược mà phải tự lực, tự cường, tự trọng, lấy dân làm gốc …

Việt Nam cần phất cao ngọn cờ chính nghĩa, dựa vào pháp luật quốc tế, quyền bình đẳng các dân tộc, tinh thần tôn trọng quyền lợi chính đáng của các nước, lớn hay nhỏ… Đây chính là những giá trị đã giúp Việt Nam thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến gần đây.

Trung quốc cần thế giới văn minh chứ không có chuyện ngược lại, thế giới văn minh cần Trung quốc… Trung Quốc phải tôn trọng lẽ phải mới xứng đáng là đại cường quốc tương lai. Nhược bằng chủ quan hung hăng bành trướng thì sẽ chuốc lấy bại vong… Trung Quốc còn quá nhiều điểm yếu, xã hội quá nhiều bất công, các dân tộc bị quá nhiều áp bức… Mô hình phát triển ở Trung Quốc là một mô hình bất cân đối, bất ổn định, không hài hoà và mọi động thái hiếu chiến hung hăng của tham vọng bành trướng chỉ làm tăng cường nguy cơ sụp đỗ…

Nhân nhượng vô nguyên tắc chỉ là bắt cầu cho những ngang nguợc khác rồi dẫn đến thảm hoạ mất nước! Chỉ có kẻ yếu hèn, bất lực, mất lòng tin mới hành động như vậy! Một dân tộc đã bao phen đánh thắng ngoại xâm hung hãn nhất của loài người trong những giai đoạn mà thế giới còn xa xôi phân cách thì trong giai đoạn hiện đại thế giới văn minh toàn cầu có luật lệ hẳn hoi, lẽ nào lại khiếp nhược khuất phục trước bọn cướp biển giết người?

Nguyễn Đăng Hưng,

Giáo sư Danh dự Thực thụ trường Đại học Liège, Bỉ

Category: Bài viết, Chính luận  | Tags:  | 3 Comments
November 12th, 2010 | Author:
Người Trung Quốc ở Châu Phi ngày nay

Người Trung Quốc ở Châu Phi ngày nay

Lời dẫn,

Tại Hội thảo về Biển Đông được tổ chức tại Sài Gòn (11/11/2010), phóng viên Tuần Việt Nam Huỳnh Phan có phỏng vấn Tiến sĩ Vương Hàn Lĩnh đến từ Viện Luật pháp Quốc tế, thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc (Bắc Kinh). Ông Tiến sỹ này đã ngang nhiên hăm dọa dân tộc Việt Nam. Đây là lời bình của tôi sau khi đọc bài phỏng vấn này, nhất là trên Blog Nguyễn Xuân Diện anh Hai Xe Ôm đã đề nghị trục xuất ngay ông này ra khỏi Việt Nam.


Không nên trục xuất TS Vương Hàn Lĩnh

ra khỏi Việt Nam

Ông “học giả” Vương Hàn Lĩnh này thật ra chỉ là một thứ sản phẩm hiện đại (và rẻ tiền) của nền lý luận tuyên giáo Trung Quốc. Các ông quan văn người Tàu thời hiện đại này đã phải qua nhiều thế hệ, nhiều năm, từ 1949 đến hôm nay, học tập, ngậm nhắm bài học vở lòng của chủ nghĩa bành trướng.  Ta biết học thuyết “Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung quốc” sau thời Đặng Tiểu Bình chỉ còn cái đuôi màu vàng Trung Quốc nước lớn.  Khi Vương Hàn Lĩnh đã mạnh miệng tuyên bố:

- “Nên nhớ rằng cho đến năm 1885, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc” ,

ông ta đã hé mở cho người Việt chúng ta biết não trạng thật sự của cái gọi là “màu sắc Trung Quốc”.

Lời tự thú này cũng là lời tự cáo giác hùng hồn về chủ nghĩa đại Hán thời nay, một thứ chủ nghĩa thực dân mới không hơn không kém. Đức Quốc xã Nazi, tác giả tội ác diệt chủng tại Châu Âu thời thế giới chiến tranh thứ II (1939-1945) cũng bắt đầu bằng cách suy nghĩ như vậy. Trước khi gây chiến, Hitler đã thản nhiên tuyên bố Ba Lan, Tiệp Khắc, một phẩn lãnh thổ Pháp, Bỉ là lãnh thổ cũ của mình…

Nay Trung Quốc có pha thêm chút Á đông kiểu Tần Thủy Hoàng thâm sâu, độc địa bội phần.  Vị “tiến sỹ học giả” người Trung Quốc của chúng ta còn không tiếc lời trực tiếp hăm dọa dân tộc chúng ta một cách vô cùng ngang ngược:

- “Tôi muốn nhắc lại nếu không chọn cách giải quyết như tôi vừa nêu, các anh sẽ phải hứng chịu các xung đột bằng vũ lực, hoặc thậm chí chiến tranh. Điều này không hề tốt cho tương lai”.

Nhà “học giả” này có lẽ chưa đọc trang lịch sử chân thật nào về mối tương quan Việt Trung trong quá khứ, ngay cả mới đây năm 1979. Ông ta chỉ học tập bài học bá quyền, những suy diễn méo mó về lịch sử của chính quyền toàn trị Trung Hoa hiện đại ngày đêm thêu dệt, bắt đầu bằng chính lãnh tụ Mao Trạch Đông.  Tôi có nhiều tiếp xúc với giới sinh viên trẻ Trung Quốc sang Châu Âu du học. Số đông họ là như vậy. Họ nào biết đến những sự kiện lịch sử, những thất bại, những bài học cay đắng, nhục nhã mà chính dân tộc Hán phải  lĩnh hội khi cố tình gây ra xung đột với Việt Nam, buộc Việt Nam phải tự vệ cứu nước.

Cứ nghe những lời tuyên bố gần đây của các đại diện ngoại giao Trung Quốc thì rõ. Họ được đào tạo từ một lò như vậy.

Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường (7 tháng Giêng 2010 tại Hà Nội) đã thách thức cả dân tộc Việt :

- “Hợp tác (với Trung Quốc) sẽ phát triển, (Việt Nam) đấu tranh sẽ thất bại”.

Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì (ngày 25 tháng bảy 2010 tại Hà Nội sau khi nghe lời phát biểu có lý có tình của ngoại trưởng Hilary Clinton về Biển Đông) đã thốt lên theo phản xạ giữa nghị trường:

- “Các anh là nước nhỏ, Trung Quốc là nước lớn”.

Thú thật, cả đời tôi chưa bao giờ nghe được những lời lẻ ngoại giao trịch thượng, ngạo mạn và ngang ngược như vậy! Sống trong thế kỷ 21 mà nghe họ tôi có cảm tưởng đang ở thời Trung cỗ tại Châu Âu hay thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu: Cá lớn nuốt cá bé, mạnh được yếu thua, lấy thịt đè người… Vậy mà Trung Quốc ngày nay, quá say sưa với những thành quả kinh tế, muốn trở thành siêu cường toàn cầu !

Theo tôi, không nên trục xuất ông Vương Hàn Lĩnh ra khỏi Việt Nam làm gì cho rắc rối ngoại giao với “nước lạ”. Ta nên để vị “học giả” Trung Quốc này đến tham gia hội thảo và phát biểu thoải mái. Nếu ông ta tiếp tục những luận điệu trên thì đây chính là những lời tự cáo giác về chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc, giúp cho các nhà học giả quốc tế trong đó có người Việt Nam, hiểu thêm về lập trường này. Và cũng chính những lời tuyên bố hùng hồn ngây ngô này sẽ đem lại vài cái mĩm cười ý nhị lý thú cho các bậc thức giả quan tâm đến Biển Đông Nam Á …

TP Hồ Chí Minh ngày 11/11/2010

Nguyễn Đăng Hưng
Giáo sư Danh dự Thực thụ Đại học Liège, Bỉ

china_colon

Category: Bài viết, Chính luận  | Tags:  | 4 Comments
October 29th, 2010 | Author:
Thãm hoạ vỡ hồ chứa bùn đỏ tại Hungary

Thãm hoạ vỡ hồ chứa bùn đỏ tại Hungary

“Không nên tiếp tục dự án

bô-xít Tây Nguyên”

Nguyễn Đăng Hưng

Giáo sư danh dự trường Đại học Liège, Bỉ


Như ta biết từ 14 giờ chiều ngày 27/10 báo điện tử VietnamNet đã tổ chức một buổi tranh luận trực tiếp về chủ đề « Nên hay không nên tiếp tục dự án bô-xít Tây Nguyên ».
Khách mời gồm:


Bên A chủ trương tiếp tục dự án gồm đại diện chính phủ ông Bùi Cách Tuyến – Thứ trưởng Bộ TN&MT kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, đại diện chủ đầu tư, ông Nguyễn Thanh Liêm – Trưởng ban Nhôm – titan của TKV.


Bên B chủ trương không nên tiếp tục gồm nhà văn Nguyên Ngọc – một trong những người đã ký tên vào bản kiến nghị xin dừng dự án, và TS. Nguyễn Thành Sơn – Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng – một thành viên khác cũng trực thuộc TKV.

more…

Category: Bài viết, Chính luận  | Tags:  | 7 Comments
October 02nd, 2010 | Author:

hinh-ve-vn-xua-2

Lời dẫn : Tháng 9 vừa qua TS Nguyễn Xuân Diện đã góp phần phát động một chiến dịch phê phán, phản biện một cuốn phim nô dịch « LÝ CÔNG UẨN – ĐƯỜNG TỚI THÀNH THĂNG LONG » mà tôi cũng có hai lần phản biện nóng trên blog Nguyễn Xuân Diện và trên blog cá nhân này.

Đến cuối tháng 9 thì cuộc đấu tranh trong dư luận đạt được thành quả nhất định : Ngày 29/9, hội đồng duyệt phim lần 2 kiến nghị không phát sóng bộ phim trong dịp Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội. Hành động nổi bậc của TS Diện (và vài cá nhân khác) đã được dư luận nhìn nhận. Nhà văn Xuân Ba đã viết trên « Tiền Phong » một bài nhan đề : « Ông phó thủ thư Hán Nôm đa đoan ». TS Diện rinh bài này về blog mình « không bình luận, không thêm bớt, không giật tít câu khách, không làm ai xốc cả ». Thế mà có một người « nặc danh » nhảy vào bình luận : « Thế nhưng đăng thế này tức là tự khen mình, cũng đồng nghĩa rằng ông cũng không thoát khỏi cái vòng háo danh và cuồng vĩ! »

Vì chính tôi trong trong nhiều năm đã là nạn nhân của những bình luận (nói riêng sau lưng, rĩ tai với bè bạn, báo chí, viết trên diễn đàn có nhiều người chứng kiến…) có tính đố kỵ này : nỗ, cuồng vỹ, tự khen… vân vân…, nên tôi thấy đến lúc phải có những lời bình sau đây.

Khen đúng kẻ khác chính là công nhận sự thật để cùng nhau tiến lên

Cám ơn anh Xuân Ba. Bằng một giọng văn rất hóm hĩnh dễ mến đã nóí được những gì cần nói về những công việc, những đóng góp mà TS Nguyễn Xuân Diện đã làm cho văn hoá Việt Nam. Tôi nghĩ rồi sẽ còn nhiều hơn nữa…

more…

Category: Bài viết, Chính luận  | Tags:  | Comments off
April 22nd, 2010 | Author:
Đại học Yale, Hoa Kỳ

Đại học Yale, Hoa Kỳ

Vụ “người phá đền”

tốn hơi nhiều giấy mực phải có hồi kết thôi!



Vì đi du lịch bên Nga, tôi bị kẹt không về Bỉ được, hôm nay mới có máy bay, về đến nhà viết vài dòng này, có dấu tiếng Việt cho bạn bè dễ đọc.

Tôi không muốn nêu tên người viết bài báo xoàng xỉnh trên đây vì như vậy có khi không hay, tiếp tay cho một người có hành vi, tác phong không tốt !

Có thể vì tôi là chuyên gia tổ chức  đào tạo cao học, hơi bị căn bệnh nghề nghiệp, nên tôi thấy cần xem cô ấy là một học trò. Tôi xin ân cần hầu chuyện với cô ta như thế này như tôi đã nhiều lần khuyên bảo học trò linh tinh của tôi tại VN, cũng có nhiều em có tác phong tương tự:

“Xem xong bài viết của cô,

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2010/04/100417_do_ngoc_bich.shtml,

tôi nghĩ cô chưa xứng đáng có bằng tú tài Việt Nam, cô chưa thông hiểu lịch sử VN, đã ngồi nhầm lớp đâu đó, hay cô đã dùng phao hay cô đã “may mắn” gặp một tập thể thầy giáo “ai cũng xuất sắc, ai cũng cho đổ” ? Vậy xin cô hãy đi học lại, tự học cũng được thôi, nhưng phải thành khẩn học thực và qua trắc nghiệm lại.
Về luơng tâm, tư duy người đi học, người nghiên cứu, người công bố khoa học, thì quả là có nhiều thiếu sót. Cô không nên chạy theo danh hão, công bố bừa bãi gây phản cảm, tự hại mình, nhũng nhiễu xã hội. Bỡi vậy, nếu chưa kịp phản tĩnh sửa đổi thì tôi sẽ không thể ủng hộ ký giấy giúp cô ghi tên theo lớp cao học. Cô xem hiện nay cô đang làm mất uy tín ĐH Yale, ĐH Hawaï, đài BBC… Dạy kèm tiếng Việt cho vài sinh viên mà tự nhận là giảng viên thì quả là gian dối qua lộ liễu đó cô ạ. Nếu không may, thầy cô ở Hawaï dễ tính cho cô bảo vệ thành công Ph. D. về Hoa kỳ học rồi cô cũng sẽ làm mất uy tín siêu cường Hoa Kỳ sau này thôi. Cô không ngần ngại phá hoại đền thiêng của dân tộc Việt có ai chắc cô sẽ không tiếp tục như vậy với sự tác hại trầm trọng hơn cho tổ quốc của chồng cô.

Mong cô ghi nhận lời khuyên chân tình này “

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng,

Category: Bài viết, Chính luận  | Tags:  | 11 Comments
March 31st, 2010 | Author:
Bút tích

Bút tích

Lời dẫn nhập:

Bài này tôi viết đã 5 năm rồi, tháng 3 năm 2005.
Đọc lại tôi thấy vẫn còn là thời sự.
Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn vẫn còn nằm trong ngăn tủ khóa kín tại Việt Nam.
Nhận định của tôi ở phần cuối:
“Sinh thời tôi chưa bao giờ nghe nói TCS là nghệ sỹ nhân dân. Nhưng chính quần chúng nhân không phân biệt thành phần, lớp người, lứa tuổi, không phân biệt Bắc Trung Nam, không phân biệt trong nước hay hải ngoại, đã chọn thiên tài Trịnh Công Sơn là nghệ sỹ số một của mình…”;
vẫn giử nguyên giá trị!
Xin đăng tải lại đây gọi là tường niệm chín năm ngày người nhạc sỹ tài danh của chúng ta vào cõi vĩnh hằng!
Phần sau cùng của bài này, tôi cũng xin mạo muội thử hát ba ca khúc nỗi tiếng của ông.

Sài gòn ngày 31/3/2010

Một thoáng Trịnh Công Sơn

Nguyễn-Đăng Hưng

Hơn một năm sau ngày nhạc sỹ Trịnh Công Sơn mất, tôi lục trong chồng sách nhạc của gia đình để tìm lại một bài hát về xuân của nhạc sỹ Văn cao, bài “Mùa Xuân đầu tiên”. Tôi chuẩn bị tổ chức tốp ca cho ngày tết Việt Kiều tại Bruxelles.

Và tôi bất chợt đọc lại bút tích của người nhạc sỹ tài danh, ngay trang thứ hai của Tuyển tập nhạc Văn Cao “Thiên Thai” do nhà xuất bản Trẻ tại Tp Hồ Chí Minh xuất bản năm 1988 :

Vâng, tôi cũng quen biết Trịnh Công Sơn, dù chỉ một thoáng ngày Tết năm xưa…
Chúng tôi về Việt Nam ăn Tết năm 1989 sau một thời gian khá dài mười năm không lui tới. Chuyến đi cuối cùng trước đó đã xa cách đến gần một thập kỷ : hè năm 1979. Hồi ấy, việc đầu tiên chúng tôi làm tại Việt Nam là đi mua tranh về trang trí cho ngôi nhà mới mua tại Bỉ.
Tôi không nhớ vì sao lại run rủi lần mò đến xem phòng triển lãm tranh tại gia của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn với sự tham gia của các hoạ sỹ Đinh Cường và Tôn Thất Văn. Và chúng tôi suýt mua được một bức của Tôn Thất Văn, suýt thôi vì chưa ngã giá nên cuối cùng không mua được… Biết tôi là Việt kiều có hoạt động phản chiến tại Bỉ trong thập kỷ 65-75, có chút “máu văn nghệ”, Trịnh Công Sơn cho hay là đang chuẩn bị đi Pháp và nếu tôi còn ở lại Việt Nam thì ra Tết sẽ đến nhà thăm tôi…
Rồi đùng một cái mồng 6 Tết chúng tôi tiếp tại nhà người anh vợ tôi, cư xá Lữ gia, cả một đoàn văn nghệ sỹ nổi tiếng: nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhạc sỹ Trần Long Ần, hoạ sỹ Tôn Thất Văn, Michiko và Trịnh Công Sơn!

Sau một hồi chén tạc chén thù, hàn huyên sôi nổi, tôi rất đỗi vui là chính Trịnh Công Sơn, một cách đôn hậu hồn nhiên đề nghị đem ghi ta ra hát. Ở nhà không có ghi ta, TCS cho gọi người nhà mình đem đến… Và chúng tôi có được cái diễm phúc bất ngờ là ngày Tết được nghe tại chính nơi mình tạm trú nguời nhạc sỹ mình hằng ngưỡng mộ hát một loạt những bài anh mới sáng tác. Rồi Michiko cũng hát, Trần Long Ẩn cũng hát.
Thật bất ngờ, một nhạc sỹ tiếng tăm lẫy lừng tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, một danh tài đã có môt sự nghiệp âm nhạc đồ sộ, đã thật giản dị và hồn nhiên, cùng bạn bè ngồi hát cả buổi chỉ cho vợ chồng chúng tôi, nhà văn Nguyễn Quang Sáng và một người lái xe nghe!
Vâng, chúng tôi may mắn có đươc một thoáng Trịnh Công Sơn, gần như chỉ dành cho chúng tôi.
Tôi còn giữ lại tấm hình lưu niệm quý hiếm kèm theo đây.

Hình Trịnh Công Sơn đang hát bên cạnh là Michiko (quay lưng).

Từ trái sang phải, tác giả bài này, nhà văn Nguyễn Quang Sáng, người lái xe, nhạc sỹ Trần Long Ẩn, hoạ sỹ Tôn Thất Văn.

Đó không phải là lần đầu tiên tôi gặp Trịnh Công Sơn. Tôi đã sớm về Việt Nam những năm trước đổi mới : 76, 77 và 79… Phải nói tình hình xã hội và chính trị Việt Nam hè năm 79 rất ư là căn thẳng… Báo chí quốc tế không ngớt đề cập đến ngưới Việt vượt biên, thuyền nhân… Ban Việt kiều thành phố tổ chức một buổi họp mặt, nếu tôi nhớ không lầm là tại Hội Trí thức yêu nước 43 Nguyễn Thông TP HCM.

Sau tham luận của các lãnh đạo trung ương và thành phố, sau khoảnh khắc ngắn ngủi đối thoại trao đổi qua lại, cái đinh buổi họp mặt là phần văn nghệ. Nhạc sỹ Phạm Trọng Cầu vừa là nhạc trưởng vừa là MC… Hôm ấy tôi nhớ rõ nhạc sỹ Trịnh Công Sơn tự đệm ghi ta và hát bài “Em còn nhớ hay em đã quên” và một bài nữa, hình như bài “Chiều trên quê hương tôi”.
Tôi nhớ rất rõ vì tôi vừa trải qua hơn một tháng 7&8 hãi hùng lang thang khắp Đông Nam Á (Thái Lan, Singapour, Mã Lai, Nam Dương) đi tìm người yêu vượt biên, để cuối cùng gặp lại nhau, như một phép lạ, ngay trên đảo Poulo Bidong, Mã Lai. Gặp lại nhau một ngày là chia tay, tôi đáp chuyến bay Thái : Kuala-Lampur – Bangkok – TP Hồ Chí Minh còn cô ấy đáp chuyến máy bay SABENA của Bỉ nhắm hướng Kuala-Lampur – Bruxelles! Đây là một cuộc hành trình khá ly kỳ mà tôi sẽ nhắc đến trong một dịp khác.

Hai bài hát trên của Trịnh Công Sơn vào thời điểm ấy đã gây cho tôi một xúc động mạnh. Trịnh Công Sơn đúng là một nghệ sỹ lớn… Sáng tác của ông một lần nữa đã gắn liền với những thăng trầm của dân tộc, trái tim nhạy cảm tuyệt vời của ông đã diển tả một cách vô cùng tinh tế nỗi đau của mình mà cũng là của thế nhân, của đồng loại trên một tinh thần nhân bản trong sáng, hướng thiện nếu không nói là tích cực… Thật tài tình và sâu sắc khi ông chỉ nói giản dị “Em ra đi nơi này vẫn thế..” mà tôi đã hiểu ngay đây là thông điệp về sự vĩnh cữu của quốc gia dân tộc… Mọi việc sẽ đi qua, nhưng chỉ đất nước Việt Nam sẽ mãi mãi trường tồn…

Năm 1960 ngày tôi xuất dương sang Bỉ du học Trịnh Công Sơn chưa nổi tiếng. Các bài hát “Uớt Mi” hay “Diễm xưa” chưa được phổ biến rộng rãi. Tại Sài gòn trong thời này nhạc Phạm Duy, Lam Phương, Dương Thiệu Tước, Phạm đình Chương, Văn Phụng… đang thịnh hành trên các phương tiện truyền thông đại chúng…
Sau Tết Mậu Thân (1968), không khí Việt kiều tại Bỉ, đặc biệt thành phố Liège thay đổi hẳn. Trước số sinh viên du học như chúng tôi đếm trên đầu ngón tay, nay tăng vọt đến gần năm trăm! Liège một thành phố không lớn tại Bỉ, đã bỗng chốc trở thành thành phố sinh viên Việt Nam thu nhỏ với tất cả những mâu thuẫn, lo toan, dây dứt, đau thương… của đô thị miền Nam thời bấy giờ… Phần lớn sinh viên Việt Nam là con nhà khá giả tại Sài gòn đi du học tự túc…
Các sinh viên đến từ Việt Nam không ai không không mang theo những băng cassettes, kỹ thuật ghi âm đang được thịnh hành trong những năm 70…

Và chính qua những băng ghi âm này, qua các bạn sinh viên trẻ, mà tôi khám phá ra hiện tượng Trịnh Công Sơn – Khánh Ly.
“Ca khúc da vàng” đã đến với tôi như một tiếng thét của lương tâm con người trước cuộc chiến phi nhân, trước chết chóc, trước đau thương khôn cùng của dân Việt, trước sức tàn phá dữ dội khủng khiếp của tàu bè bom đạn của một siêu cường.

Qua những âm điệu nhẹ nhàng và sâu lắng, tác giả đã gởi đến cho người nghe một thông điệp kinh hoàng của thời sự :

“Xác người nằm trôi sông,

phơi trên ruộng đồng

trên nóc nhà thành phố

trên những đường quanh co

Xác người nằm bơ vơ

dưới mái hiên chùa

trong giáo đường thành phố

trên thềm nhà hoang vu…

Xác nào là em tôi

Dưới hồ hầm này

Trên những vùng lúa cháy

Bên những vồng ngô khoai… »

(Bài ca dành cho những xác người)
Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng

Hành vạn tiếng bom trút xuống ruộng đồng

Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn
Hàng vạn chuyến xe, claymore lựu đạn

Hàng vạn chuyến xe mang vô thị thành

Từng vùng thịt xương có mẹ có em…

(Đại bác ru đêm)


“Kinh Việt Nam” đã đến với tôi như những lời kêu gọi hồn thiêng sông núi dân tộc Việt, như những ước vọng khẩn thiết về một ngày thanh bình thống nhất, về một nước Việt Nam bình thường như những nước khác, chan hoà tình tự dân tộc giống nòi…
Tôi ý thức được ngay là một cái gì mới đã xảy ra tại Việt Nam.
Một phong trào « Hát cho đồng bào tôi nghe » đã được dấy lên tại Liège và lạ thay cùng với những bài ca khác của phong trào sinh viên học sinh đô thị miền Nam, nhạc Trịnh Công Sơn đã thành một phương tiện đấu tranh của chúng tôi, những người mà lập trường chính trị đã dứt khoát đã biết và hát nhiều bài hát đến từ Miền Bắc hay vùng Giải phóng, hừng hực khí thế kháng chiến yêu nước, nhưng còn thiếu một cầu nối để đến với những thành phần còn xa chiến tuyến…
Nhìn lại cục diện sau gần 40 năm, tôi vẫn nghĩ nhạc phản chiến Trịng Công Sơn là một trong những nhân tố văn hoá rất tích cực cho công cuộc vãn hồi hoà bình và thống nhất đất nước. Và tôi rất tâm đắc với ý kiến cho rằng chính những ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn là mới là cơ sở nói lên tầm vóc của tài danh Trịnh Công Sơn… Và cũng chính qua những ca khúc này Trịnh Công Sơn mới được những nhà báo quốc tế biết đến và gọi anh là « một Dylan của Việt Nam ». .
Âm nhạc Việt Nam qua Trịnh Công Sơn, một thời đã ngang tầm thế giới !

Và tôi tự hỏi tại sao trong thời mở cửa giao lưu hội nhập hôm nay những bài hát đậm đà tinh thân dân tộc như thế, lại vẫn « chưa được phép » hát lại ?
Ở Việt Nam tôi vẫn thường nghe câu hỏi là tại sao ta chưa có những tác phẩm
văn học nghệ thuật ngang tầm thế giới, xứng đáng với các cuộc kháng chiến đấu tranh giành độc lập, tự chủ thoát khỏi ách nô lệ của ngoại bang, những chiến công hiển hách đã được biết bao dân tộc yêu chuộng hoà bình và công lý kính phục và ngưỡng mộ. Nhưng có chắc gì, ta tỉnh táo đế chấp nhận và nhất tôn vinh đúng mức những tác phẫm văn học nghệ thuật chất chứa những giá trị nhân bản cao đẹp và phổ quát của con người, những tác phẩm độc lập không bị chi phối bởi tình thế chính trị nhất thời?

Sinh thời TCS ý thức rất rõ về tính phổ quát của nhạc mình:

“Tôi ước mơ một ngày nào đó trên hành tinh này tiếng hát sẽ được trả về với vẻ đẹp thuần khiết của nó. Đó là tiếng hát bay qua các lục địa, các đại dương, mang trong lòng nó tình yêu và tình nhân ái…” (Phát thảo chân dung tôi, tháng 4-1987).

Nhạc phản chiến của TCS là hiện thực của ước mơ này vậy.
Dĩ nhiên nhạc phản chiến chỉ là một trong ba chiều không gian âm nhạc đồ sộ của thiên tài TCS : tình yêu, thân phận và chiến tranh… và đã có nhiều bài viết về hai không gian còn lại : tình yêu và thân phận…

Tôi chỉ thêm một chút ý kiến riêng thôi… TCS là một trong những nhạc sỹ viết nhạc tình hay nhất thế kỷ, tôi muốn nhấn mạnh ở chữ « một trong những »… Bởi vì đối với tình yêu, cái nhất là tùy ở mỗi cá nhân, ở mỗi hoàn cảnh… Nhạc tình Trịnh Công Sơn có cái gì nhẹ nhàng siêu thoát. Những cuộc tình của TCS là những dây dứt, những tiếc nuối, những cuộc tình ra ngoài tay với, không bao giờ được tận hưởng và hạnh phúc là một cái gì mong manh bàng bạc, xa vời. Những người đẹp qua âm nhạc Trịnh diễm lệ trang trọng đến độ trừu tượng, siêu thực…Nhạc tình của các tác giả nổi tiếng khác chẳng hạn như Đoàn Chuẩn, Vũ thành An, Ngô Thụy Miên, Đức Huy… theo tôi đời thường, lãng mạn hơn…

Ai cũng đồng ý chất Huế là thường trực trong nhạc TCS… Nhưng tôi lại thấy chất “blues” cũng tìm tàng trong một số bài: Hạ trắng, Tình nhớ, Biển nhớ… Phải chăng TCS có phần nào bị ảnh hưỏng nhạc Mỹ da đen…
Ngày TCS mất tôi đang ở TP HCM…Và có lẽ cũng như rất nhiều người Việt Nam ở mọi ngõ đường đất nước hay ở chân trời góc biển trên thế giới, tôi có cảm giác là một người thân thương vừa từ giã cõi đời… Tôi định đến nhà ông để thắp một nén hương tiễn đưa vì lòng ngưỡng mộ. Nhưng hôm ấy từ đường Điện Biên Phủ, đi xe gắn máy, không có cách chi đến được ngõ tư Phạm Ngọc Thạch… Một rừng người mênh mông như đại ngàn vô tận đã cùng chia sẻ ý này và cuồn cuộn chảy về con đường này… Tôi bỏ xe bên vệ đường mon men tìm đến số 47 C thì đã quá muộn. Chiếc xe chở quan tài đã chuyển bánh, tiếng kèn “saxophone” tiễn đưa của Trần Mạnh Tuấn đã vang lên và tôi đành hoà mình vào đoàn người chảy xiết theo hướng Gò Dưa…
Sinh thời tôi chưa bao giờ nghe nói TCS là nghệ sỹ nhân dân. Nhưng chính quần chúng nhân không phân biệt thành phần, lớp người, lứa tuổi, không phân biệt Bắc Trung Nam, không phân biệt trong nước hay hải ngoại, đã chọn thiên tài Trịnh Công Sơn là nghệ sỹ số một của mình… Riêng tại Bỉ sau ngày nhạc sỹ mất đã có hai đêm liên tiếp hát nhạc Trịnh Công Sơn, ai cũng hát và nhạc cụ vỏn vẹn chỉ cần chiếc ghi ta!
Theo tôi lời khen tặng ưu ái nhất mà tôi được đọc về TCS chính là của Khánh Ly:

“Bởi vì ở ông TCS, điều vĩ đại nhất, vĩ đại hơn cả những tác phẩm của ông là nhân cách, nhân phẩm của ông. Ông là người duy nhất đã sống trong đời này có một tấm lòng không có thù hận”. (Khánh Ly, “Những lời tử tế ông Sơn dạy tôi”, Trường Kỳ phỏng vấn, Hoàng Trúc Ly sưu tầm, www.suutap.com/khanh ly).

Vâng, tôi cũng biết Trịnh Công Sơn, dù chỉ một thoáng ngày Tết năm xưa. Và hôm nay tôi xin ghi lại những dòng này, gọi là xác định lòng ngưỡng mộ khôn cùng của tôi…

Nguyễn-Đăng Hưng, cuối tháng 3 2005

Nguyễn Đăng Hưng hát Trịnh Công Sơn

Gọi tên bốn mùa : [media id=33]

Ru Ta Ngậm ngùi : [media id=34]

Mưa hồng : [media id=35]

March 21st, 2010 | Author:
Nhà thơ Hữu Loan

Nhà thơ Hữu Loan

Nhà thơ Hữu Loan một giá trị phản biện

Hữu Loan vĩnh viễn ra đi để lại biết bao hoài niệm về một giai đoạn dài của văn hóa và lịch sử dân tộc. Một giai đoạn điêu linh, tang tóc, chia ly, với ngút ngàn thống khổ mất mát, băng hoại. Chín mươi lăm năm dài một đời người, một khí phách, một con người!

Đối với tôi, thơ của Hữu Loan là một phản biện văn học có tính nhân văn cao cả, cuộc đời của Hữu Loan là một phản biện lịch sử có sức thuyết phục vào bậc nhất.

more…

February 23rd, 2010 | Author:
Biểu ngữ về lễ kỳ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa tại công viên Tao Đàn, TP HCM

Biểu ngữ về lễ kỳ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa tại công viên Tao Đàn, TP HCM

Chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa trong bối cảnh

ngàn năm Thăng Long, thử đặt lại vài giả thuyết


TSKH Nguyễn Đăng Hưng

Giáo dư danh dự thực thụ trường Đại học Liège, Bỉ


Một tiết mục đáng chú ý tại TP HCM trong dịp Tết Canh dần vừa qua là Lễ kỷ niệm 221 năm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa do Sở Văn hóa – Thể thao và Du Lịch TPHCM tổ chức tại Công viên Tao Đàn ngày mồng năm 18/2/2010. Buổi lễ đã được tổ chức long trọng với sự tham dự các ông Lê Thanh Hải, ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, Lê Hoàng Quân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố, đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn viên thanh niên cùng đông đảo người dân thành phố và du khách nước ngoài. Ông Dương Quan Hà, Chủ tịch Ủy ban MTTQ TPHCM đã có bài phát biểu đáng được lưu ý. Chương trình sân khấu hóa đã diễn ra sôi nổi với phần biểu diễn nghệ thuật dân tộc đặc sắc của các nghệ sĩ Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang.

Lễ hội tại Gò Đống Đa, Hà Nội

Lễ hội tại Gò Đống Đa, Hà Nội

Đọc báo tôi cũng thấy một buổi lễ tương tự cũng được tổ chức tại Gò Đống Đa, Hà Nội. Đến tham dự thắp hương trước tượng đài Quang Trung có Phó Bí thư Thành ủy Nguyễn Công Soái, Phó Chủ tịch UBND TP Phí Thái Bình, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, thứ trường Bộ Quốc Phòng, ông Vũ Trọng Kim, Phó Chủ Tịch kim Tổng thư ký Mặt Trận Tổ Quốc. Thành phần và cấp bực tham gia của Thành ủy và Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội có phần thấp hơn, kém long trọng hơn tại TP HCM.

Việc thành ủy TP HCM coi trọng ngày kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi Đống Đa hơn thành ủy Hà Nội là điều làm tôi chú ý! Ngay tại thủ đô, người  (lãnh đạo) Hà Nội cảm nhận lịch sử không bằng người Sài Gòn chăng?

Lẽ ra năm nay, trong dịp lễ hội ngàn năm Thăng Long, lễ hội Gò Đống Đa phải có gì nỗi trội hơn thường lệ mới phải chứ?

Thật vậy, nếu không có anh hùng dân tộc Quan Trung – Nguyễn Huệ và chiến thắng Ngọc Hồi Đống Đa thì làm gì Thăng Long còn là của Việt Nam để năm nay chúng ta ăn mừng thủ đô ngàn năm?

Đừng quên cuộc xăm lấn Đại Việt năm 1788 là cuộc xâm lấn bành trướng cuối cùng của phong kiến Trung Hoa và nếu Nguyện Huệ đã chọn hướng giải quyết khác đi thì lịch sử và địa lý của dân tộc Việt Nam ngày nay sẽ ra sao?

Chính sử Việt Nam ghi lại năm ấy mượn cớ vua Lê Chiêu Thống cầu viện, nhà Thanh đã giao cho Tôn Sỹ Nghị một đạo quân đông đảo gần 30 vạn, ào ạt kéo vào nước ta chiếm đóng Thăng Long. Thế yếu, các tướng Tây Sơn Ngô Văn Sở, Ngô Thời Nhiệm rút về Tam Điệp cố thủ và bảo toàn lực lượng. Trong Nam Nguyễn Ánh đã gia tăng được lực lượng sẳn sàng uy hiếp Qui Nhơn trong lúc Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc lâm trọng bệnh. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ trên thực tế chỉ kiểm soát được một vùng lảnh thổ khá hẹp thừ Thuận hóa đến Nghệ An, trong tay huy động chưa có được 1/10 quân số nhà Thanh đang xâm lược Bắc Hà!

Thử tường tượng vì thế yếu Nguyễn Huệ chọn một hướng khác, trước vận mệnh hiễm nghèo của đất nước, làm ngơ trước đoàn “quân lạ” đang xâm nhập miền Bắc, quá đông, quá hùng hỗ. Nguyễn Huệ chỉ nghĩ đến quyền lợi của nhà cầm quyền, chỉ lo đương đầu với Nguyễn Ánh ở Gia Định và Nguyễn Nhạc trong Nam, sau đó chọn giải pháp thúc thủ, giao lại đất Thanh Hóa Nghệ An cho nhà Thanh và vua Lê Chiêu Thống, tóm lại chỉ lo mưu cầu chiếc ghế vương quyền tại phương Nam.

Như vậy lịch sử và địa lý Viêt Nam sau này sẽ ra sao?

Nước ta có lẽ chỉ còn lại từ sông Gianh cho đến Hà Tiên khi người Âu sau này bắt đầu xâm nhập vào Đông Nam Á! Giả thiết này có tính khả thi cao khi ta biết, ngoài Bắc vua Lê Chiêu Thống đã phản bội tổ quốc dùng niên hiệu nhà Thanh mặc nhiên công nhận nền đô hộ của người Tàu. Trong Nam lịch sử còn nghi lại từ Gia Định cũng năm 1788, Nguyễn Ánh đã gởi đoàn thuyền chở gạo ra Bắc chi viện cho quân nhà Thanh mà không thành vì gặp bão. Ông vua sáng lập ra triều đình nhà Nguyễn này có nhiều khả năng cũng sẽ để yên cho nhà Thanh ở đất Bắc sau khi lấy lại giang sơn từ tay nhà Tây Sơn vì chẳng may cho dân tộc Việt, người anh hùng áo vải sẽ phải mất sớm.

Nếu lịch sử đã theo hướng đó thì làm gì ta còn Thăng Long mà tổ chức lễ hội ngàn năm như ngày nay?

May thay, Nguyễn Huệ, được sự trợ giúp tư vấn của tầng lớp sỹ phu chân chính lúc bấy giờ, những Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp, Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Nễ, Nguyễn Huy Lượng, Bùi Dương Lịch… đã chọn lựa hướng khác, hướng chính danh yêu nước thương dân, hướng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc: Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế, minh định chính danh, cũng cố chính nghĩa dân tộc, theo lẽ trời, thuận lòng người, thống nhất ý chí toàn dân toàn quân, tự mình thống lĩnh thủy bộ đại binh ra Bắc đánh giặc Thanh, chấp nhận lấy một chọi mười:

“Chúng nó sang phen này là mua cái chết đó thôi. Ta ra chuyến này thân coi việc quân đánh giữ, đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 nước ta, sau khi chúng thua một trận rồi, tất chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế thì đánh nhau mãi không thôi, dân ta hại nhiều, ta sao nỡ thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ Thời Nhiệm dùng lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mươi năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta không cần phải sợ chúng nữa.”

Chúng ta biết phần còn lại của lịch sử, số phận của người anh hùng bách chiến bách thắng Quan Trung – Nguyễn Huệ.

Sau mồng năm Tết Kỷ Dậu 1789, Ngô Ngọc Du, một nhà thơ đương thời, đã ghi lại không khí tưng bừng của ngày chiến thắng oanh liệt như sau:

“Mây tạnh mù tan trời lại sáng

Đầy thành già trẻ mặt như hoa,

Chen vai khoác cánh cùng nhau nói:

“Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta”


Tại buổi họp báo đầu năm nay (6/1/2010) ở Hà Nội, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường đã thách thức cả dân tộc Việt : “hợp tác (với Trung Quốc) sẽ phát triển, (Việt Nam) đấu tranh sẽ thất bại”, thiết nghĩ việc tổ chức cho thật long trọng Lễ Hội Chiến Thắng Ngọc Hồi – Đống Đa là điều nên làm. Thật vậy, hình như ngài Đại Sứ quên rằng cách đây 221 năm dân tộc Việt Nam nào có thất bại khi phải bắt buộc chấp nhận hướng đấu tranh dù phải một chống mười!

Sài Gòn mồng bảy Tết Canh Dần 2010

Tượng đài Vua Quang Trung tại Qui Nhơn

Tượng đài Vua Quang Trung tại Qui Nhơn

Category: Bài viết, Chính luận  | Tags:  | 2 Comments
November 11th, 2009 | Author:

hoang-tuy1

Hình chụp chung với GS Hoàng Tụy và vài Việt kiều nhân dịp Hội Thảo Nha Trang tháng 8/2008

Kính thưa GS Hoàng Tụy,

Tôi vốn là lớp hậu sinh nhưng, nhưng cũng là người đi dạy đại học, cũng đam mê nghiên cứu khoa học, cũng có những trăn trở về tình trạng giaó dục cùng cực hiện nay của đất nuớc chúng ta. Tôi cũng theo dỏi bấy lâu nay những trăn trở tâm huyết, những phát biểu bộc trực, thẳng thắng, bến bỉ và kiên trì của GS, tôi không khỏi ngậm ngùi khi đọc những giòng vừa qua của giáo sư (tôi xin thêm dấu cho dễ đọc) :

“Tôi quá mệt mõi rồi, tuổi đã vượt xa cái hạn “xưa nay hiếm”, hơn nữa đã hơn năm naty sức khoẻ suy sụp. Ngoài việc chuyên môn, tôi đã dành phần kha lớn thời gian và tâm trí lo nghĩ vể giaó dục nước nhà mà xem ra chỉ làm cho nhiều ngưởi bị liên lụy. Vậy xin các bạn thông cảm và lượng thứ nếu thấy tôi im lặng “đáng sợ ” trong thời gian tới. Xin nhường chỗ cho các bạn tâm huyềt với nước nhà và chia xẻ với tôi niềm tin : trong nhiều vấn đề nội bộ hệ thống của đất nước, trước mắt hiện nay không có vấn đề nào hệ trọng hơn giaó dục (hết trích).

Thưa giáo sư đúng vậy, những khó khăn hiện nay của đất nước ta không có gì hệ trọng hơn giaó dục và cũng từ vì nền giaó dục chệch hướng quá lâu nay đã ăn vào xương vào tủy mà mọi góp ý, kiến nghị, dự án… đều rời vào chỗ trống không, đền như nước đỗ lá môn như người Quảng Nam chúng ta thường nói !
Gần đây, theo dỏi thảo luận tại Quốc Hội về vụ Bauxit Tây Nguyên, đọc những chỉ thị, quyết định, xem YOU TUBE, xem báo đài chính thống, tôi lại càng thấy hậu quả khôn lường của một nền giaó dục lạc hướng !

Tuy ít tuổi hơn giaó sư, nhưng hai năm gần đây tôi cũng đã thấy mệt mõi nhất là phải nói mãi những điều căn bản chẳng có gì mới mẻ vì người ta đã làm từ mấy thế kỷ nay rồi, nhưng rồi chẳng đâu vào đâu và từ hai năm nay tôi cũng tự mình yên lặng hay làm chuyện khác xả stress !

Tôi có cảm tưởng Việt Nam ta ngày nay đã lạc vào một mê cung tư tưởng không khác nào thời Tự Đức chịu ảnh hưởng của văn hoá Tống Nho, chịu sự chi phối của nước Trung Hoa bao la khỗng lồ bên cạnh, luôn luôn coi mình là trung tâm của vũ trụ !
Cái khác là thời ấy Trung Hoa đang lúc thoái trào, nhà Thanh đang làm Trung Hoa suy yếu, bạc nhược… Ngày nay việc đáng ngại là Trung Hoa đang vưong lên là đại cường quốc kinh tế và quân sự, với những tham vọng khôn cùng về chia xẻ thiên hạ để ngự trị bá quyền…

Nhưng lịch sử vẫn còn dài và một dân tộc đã sản sinh ra những Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, Võ Nguyên Giáp… sẽ không cho phép cam phận tôi đòi !

Lịch sữ sẽ ghi lại thế kỷ 21 cũng có xuất hiện những trí thức đẳng cấp Chu Văn An, Nguyễn Tường Tộ.. Và lịch sử trí thức Việt Nam sẽ không quên một người sinh ra cách quê tôi có một cánh đồng : người ấy có tên là Hoàng Tụy.

Kính chúc giaó sư nhanh phục hồi sức khoẻ và sống lâu trtăm tuổi.
Nguyễn Đang Hưng, GS danh dự thực thụ trường ĐH Liège, Bỉ.

Category: Chính luận, Giáo dục  | Tags:  | 3 Comments